CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠi-DA

QUYỂN 2.

TAM TẠNG PHÁP SƯ NGHĨA TỊNH PHỤNG CHẾ DỊCH.

 

Giới thứ nhất, phần hai: Học xứ hạnh bất tịnh.

 

Lúc bấy giờ, Tôn-đà-la-nan-đà xuống xe chuẩn bị vào nhà Hiền Thủ. Khi ấy, Hiền Thủ vội vàng xuống lầu, ra ngoài cửa đón tiếp, cúi chào một cách thân mật rồi đưa thương chủ vào nhà mời ngồi nơi diệu sàng. Sau tuần nước thoải mái, dâm nữ hỏi:

- Thương chủ quư danh là ǵ ? 

Thương chủ đáp:

- Tôi tên là Tôn-đà-la-nan-đà.

Hiền Thủ đáp:

- Thật khéo đặt tên, tên với người thật tương xứng. Nếu cha mẹ ngài không đặt tên ấy th́ nay, em dựa vào dung mạo, oai nghi của thương chủ cũng mạn phép gọi tên là Tôn-đà-la-nan-đà, dâm nữ khéo lời như vậy.

Tôn-đà-la-nan-đà hỏi lại dâm nữ:

- Nàng mỹ danh là ǵ ?

Dâm nữ thưa:

- Tên em là Hiền Thủ.

- Hay thay! Cái tên thật tương xứng với người. Nếu xưa kia cha mẹ nàng không đặt tên ấy th́ nay, tôi dựa vào dung nhan của nàng cũng đặt tên nàng là Hiền Thủ. Thương chủ đáp lễ đáo để như vậy.

Đă đến lúc, Tôn-đà-la-nan-đà hỏi Hiền Thủ:

- Một đêm được nàng mời rượu chung sống, cái giá bao nhiêu?

- Câu hỏi của ngài ư th́ phàm tục, lời th́ tầm thường thô thiển, người nữ chơi trội đáp lời.

Nghe thế, tên Thị nữ vội đáp ngay:

- Một đêm ở lại ngủ phải trả năm trăm kim tiền.

Tôn-đà-la-nan-đà bảo người tùy tùng rằng:

- Mỗi ngày người đem đến đây năm trăm kim tiền.

Đồng tiền tức th́ hiệu lực, thương chủ cùng dâm nữ hoan lạc, vui sống trong tội lỗi.

Phàm người tham dục khó có sự nhàm chán thỏa măn. Tuy đă nhiều ngày, bị đắm ch́m vẫn không có tâm từ bỏ. Thương chủ bảo gia nhân hằng ngày trực tiếp đem tiền đến. Các thương nhân bàn luận rằng: “Thương chủ của chúng ta đi vắng đă lâu ngày, hiện nay ở đâu, chúng ta không hề gặp ? Chúng ta đă nhận lời căn dặn của cha người, nay chúng ta nên t́m kiếm”. Họ bèn hỏi gia nhân:

- Thương chủ hiện nay đang ở đâu ?

- Hôm nay, các ông mới nhớ đến thương chủ sao ? Ngày đầu mới đến đây, thương chủ liền đến ở nhà dâm nữ... gia nhân trả lời với thương nhân như vậy.

Thương nhân nói:

- Tại sao chúng ta vô t́nh buông lỏng, không hề hỏi han đến là sao ? Ngày trở về chắc chắn bị cha của người khiển trách và giận dữ.

Họ cho người đến kêu... Thương chủ nghe rồi muốn t́m cách ra về. Kịp lúc ấy, Hiền Thủ nắm áo thương chủ và nói:

- Chàng biết không! Đời bây giờ có hai hạng người có thể hành dục lạc, một là người có nhan dung mỹ lệ, hai là thiếu niên cường tráng. Nay chàng đủ hai điều để thọ dục lạc ấy; tuổi già tóc bạc sẽ đi t́m cầu của cải.

Bị giữ lại như vậy nên thương chủ bảo sứ giả rằng:

- Người cứ về trước, ta sẽ về sau.

Sứ giả về báo lại cho các thương khách sự t́nh xảy ra như vậy. Mọi người tập hợp lại ngóng chờ thương chủ trở về. Trông măi không thấy cùng nhau kéo đến nhà dâm nữ. Khi đến cửa ngơ, báo với môn nhơn rằng:

- Nhờ người nhà báo cho thương chủ biết, bạn bè của thương chủ hiện đứng ngoài cửa, xin thương chủ trong chốc lát có việc cần bàn.

Môn nhơn vào báo rồi, thương chủ nhón gót bước ra th́ liền bị Hiền Thủ nắm chặt lấy áo và nói:

- Khoan đi đă! Các thương khách ấy có t́nh ư muốn t́m em, nên họ cùng đến gọi toáng lên như vậy, không nên tiếp họ, yểm bặt đi!

Phàm kẻ tham dục ngày càng bị trói buộc nên khi ấy, Tôn-đà-la-nan-đà liền bảo sứ giả ra báo lại rằng: “Các vị cứ đi về đi! Khi nào t́nh dục của ta thỏa măn mới trở về”. Sứ giả báo cáo với thương khách như vậy.

Thương khách nghe xong, cùng nói với nhau rằng:

- Xem t́nh huống như thế này th́ làm sao chờ đợi được ?!

Họ liền nhanh chóng hội ư trao đổi nhau bán những hàng hóa mà họ mang theo, thâu mua những vật cần mua, dặn ḍ chỉnh đốn công việc, đồng bạn cùng nhau lên đường quay trở về.

Gia nhơn đưa tiền đến hằng ngày, từ nay chấm dứt. Sau thời gian Hiền Thủ gặp sứ giả của ḿnh hỏi:

- Tại sao người ấy không đem tiền đến ?

- Thương tộc về hết rồi, lấy ǵ đem đến. Sứ giả báo cáo như vậy.

Dâm nữ lại hỏi:

- Lẽ nào tài sản của Tôn-đà-la-nan-đà cũng đem đi hết hay sao ?

- Họ mang theo tất cả, sứ giả thưa như vậy.

Mặc dù, Hiền Thủ nghe nói như vậy xong vẫn tiếp tục chung sống với Tôn-đà-la-nan-đà hai, ba đêm nữa rồi nói:

- Tôi không có ruộng đất cũng không có nghề nghiệp buôn bán ǵ, chỉ nhờ đồng tiền khách đến chơi mà nuôi sống. Ông phải tính ngày trả tiền cho tôi. Nếu không trả th́ mau đi khỏi nhà tôi để tôi đón người khác.

Tôn-đà-la-nan-đà sửng sốt nói:

- Chưa từng có ai như cô, ḷng dạ cô chỉ nh́n thấy đồng tiền.

Dâm nữ nói:

- Vô lẽ ông không nghe người đời hát, cô ta hát rằng:

Gái điếm vốn làm tiền

Không tiền nó bỏ liền

Như cây kia không trái

Chim chóc không đậu chuyền.

Tôn-đà-la-nan-đà nghe bài hát như vậy rồi, cay đắng nói:

- Nếu người nam đưa tiền của cho cô th́ cô chiều ư họ, c̣n người nam kia hết của th́ cô nhẫn tâm vất họ ?!

Người nữ đáp rằng:

- Há ông không nghe...?

Nếu trời kia mưa xuống

Núi sông đều thắm ḍng

Nam tử trao tiền của

Gái điếm chuyển t́nh cho.

Tôn-đà-la-nan-đà ngao ngán nói:

- Gái điếm là người không thể tin được.

Gái dâm lại hát đáp lời:

Gái dâm, mỗi chiều về

Xem người như thân ḿnh

Về khuya ḷng lạt thết

Sáng ra vất như rơm.

Tôn-đà-la-nan-đà năo ḷng nói:

- Hiền Thủ! Nam tử có tiền của, cô ôm ấp mặn nồng. Khi họ hết tiền, cô chẳng tiếc thương đuổi xua ?!

Người nữ tỉnh bơ nói:

Nếu người có của tiền,

Dâm nữ vội yêu liền.

Như cỏ mềm trâu thích.

Xéo ngay khi hết tiền.

Hết rồi! Tôn-đà-la-nan-đà biết sự t́nh đă đổi thay nên định ḷng ra đi. Dâm nữ nghỉ rằng: “Tôn-Đà-la-nan-đà dung mạo tuyệt vời, t́m người như vậy rất khó có. Hơn nữa khách làng chơi chưa dẫn xác đến. Ta nên giữ hắn lại, đừng để cho nó vội đi”. Dâm nữ nhanh nhảu nắm áo kéo lại không cho thương chủ ra đi, và nói:

- Người nhà của chàng không khi nào nói giỡn hay sao ? Tôi nói giỡn tại sao chàng không bằng ḷng ?!.

Thương chủ tánh vốn đam mê dâm dục nên xiêu ḷng nghe theo lời ở lại không đi. Việc phải đến, năm trăm kim tiền của khách làng chơi khác, dẫn xác họ đến nhà dâm nữ. “Tiền trao cháo múc”, dâm nữ đă cùng với khách làm việc phi pháp trước mặt Tôn-đà-la-nan-đà. Tôn-đà-la-nan-đà thấy cảnh huống như vậy suy nghĩ: “Khổ thay! Dâm nữ khốn kiếp, kẻ đại vô t́nh! Trước mắt ta làm việc bỉ ổi nham nhở”. Tôn-đà im lặng vứt bỏ, ra đi.

V́ không am hiểu đường sá luẩn quẩn mấy ngă tư rồi th́ bị lạc hướng, không biết đi về đâu. Lúc ấy có một Bí-sô từ trong thành khất thực đi ra, h́nh ảnh ấy đặt vào mắt thương chủ là một chỉ dẫn để thương chủ đi theo sau. Khi Bí-sô về đến chùa, đặt b́nh bát thức ăn xuống, lấy đăy lọc nước ra, đập giũ y Tăng-già-chi, rửa chân tay, lượt nước, xem lại trùng, tác Mạn-đồ-la, lấy lá rụng rải lên đất rồi ngồi thọ thực. Khi ấy, Tôn-đà-la-nan-đà đứng trước mặt, Bí-sô hỏi:

 - Ông có thể ăn thức ăn dư của tôi chăng ?

Thương chủ liền tự nghĩ: “Nếu ta không ăn, cái đói sẽ làm khốn đốn đưa đến cái chết”, thương chủ thưa:

- Xin Ngài được ăn.

 Bí-sô dùng thức ăn c̣n trong bát đưa cho thương chủ ăn. Đợi ăn xong, Bí-sô hỏi:

- Hiền giả, ông từ đâu đến ?

Thương chủ trả lời:

- Thưa Thánh giả! Tôi tên là Tôn-đà-la-nan-đà, con của thương chủ Nan-đà, ở thành Ốt-thệ-ny. Tôi từ nhà ra đi, chở theo nhiều của cải, cùng với thương khách tha phương t́m của báu, chỉ v́ mê say t́nh dục cùng sống với dâm nữ, nên tất cả tài sản bị tiêu vong, chỉ c̣n một tấm thân đơn độc với bao nhiêu nỗi gian khổ này.

- Như vậy tại sao không xuất gia ? - Bí-sô hỏi.

Khi ấy, Tôn-đà-la-nan-đà nghĩ rằng: “Nếu ta trở về quê hương sẽ bị người chê cười, chi bằng ở đâu yên thân được th́ ta ở”. Nghĩ thế, Tôn-đà liền thưa với Bí-sô:

- Tôi xin được xuất gia.

Xét được, Bí-sô đúng pháp, đúng luật, bèn cho xuất gia, trao cho giới Cụ túc. Sau hai, ba ngày dạy thực hành pháp Bí-sô rồi, Cụ thọ nói:

- Hiền giả! Ông không nghe nói rằng: “Nai không nuôi nai”. Thành Thất-la-phạt rất rộng, ông nên đến đó khất thực để tự nuôi sống. Đă nhận lời dạy rồi, buổi sáng ngày đầu, Tôn-đà-la-nan-đà đắp y, bưng b́nh bát vào thành khất thực.

Thời gian lắng xuống, ḷng dâm nữ cảm thấy hối hận, tự nhủ: “Việc ta làm là quấy, Tôn-đà-la-nan-đà, dung nhan đoan nghiêm, tuổi trẻ sung sức, người như vậy không phải dễ t́m. Ta v́ tiền của mà xua đuổi sao đành!” Dâm nữ bảo với sứ nữ rằng:

- Nếu mi gặp lại Tôn-đà-la-nan-đà th́ mời về đây cho ta.

Trước đây, Tôn-đà-la-nan-đà không biết đường sá nên đi khất thực một ṿng, lại dẫn đến nhà dâm nữ. Sứ giả thoáng trông thấy, vội vàng chạy vào nhà thưa với đại gia:

- Tôn-đà-la-nan-đà hiện tại ở ngoài ngơ.

- Mời ngay người vào. - Dâm nữ bảo.

- Tôn-đà-la-nan-đà nay đă xuất gia. - Sứ nữ thưa.

- Dầu xuất gia cũng cứ mời vào. - Dâm nữ bảo.

Tôn-đà-la-nan-đà được sứ nữ đưa vào nhà. Dâm nữ Hiền Thủ vừa thấy liền đấm ngực nói:

- Tại sao Thánh giả bỏ em đi xuất gia ?

Tôn-đà-la-nan-đà khẳng khái đáp lời:

- Cô là người bạc t́nh, ôm lấy ḷng tham của cải, tại sao đối với tôi một cách vô lễ như vậy ? Tôi đă bị khinh khi làm sao không vứt bỏ tục lụy?

Dâm nữ Hiền Thủ nói:

- Thưa Thánh giả! Người nữ vốn là kẻ nhiều tội lỗi, nay em có phạm mới một tội, xin Thánh giả dung thứ cho. Thân em và của cải của em đều thuộc về của Tôn giả, xin Tôn giả cùng em chung sống hoan lạc như xưa.

- Cô là cái vật vô trí, trước kia tôi đă có tiền c̣n bị cô phỉ nhổ, nay lại muốn phá giới của tôi nữa sao!? Tôn-đà-la-nan-đà khí khái nói.

Nữ nhơn đáp:

-Nếu bên trong “lau chùi”, đưa ra ngoài “rỉ chảy”, hoặc bên ngoài “lau chùi”, đưa vào bên trong “rỉ chảy” th́ chưa thành phá giới.

Tôn-đà-la-nan-đà nghe rồi đâm ra nghĩ ngợi: “Há chẳng phải Bí-sô đi khất thực là lúc làm việc như thế ? Đă không như vậy th́ việc này làm sao biết ?”.

Tôn-đà-la-nan-dà là người háo sắc, mê hoặc bởi lời nói, liền để y bát xuống và làm việc phi pháp. Khi thoả măn dục t́nh rồi, kẻ phạm pháp đứng thừ mặt ra. Lúc ấy dâm nữ đem các thức ăn thượng diệu bỏ đầy b́nh bát, trao cho Tôn-đà-la-nan-đà, và nói:

- Thánh giả, nếu cần thứ ǵ sẽ cứ đến đây.

Tôn-đà-la-nan-đà thọ thực xong, men lối cũ trở về chùa.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ở trong đại chúng nói những pháp cốt yếu, như là ĺa tham sân si tâm huệ giải thoát. Tôn-đà-la-nan-đà khi nghe pháp này, ḷng ôm sầu muộn nghĩ lại mà tràn ngập hối hận. Tội ác sừng sững ḷng lại lặng thinh không nói, thẹn thùng cúi mặt, sống với ưu tư h́nh dung khô héo, mất hết tinh thần, như cỏ lau đem phơi dưới ánh nắng mặt trời hè. Các Bí-sô hỏi:

- Cụ thọ! Tôn-đà-la-nan-đà, thầy bị thân bệnh hay bị tâm bệnh?.

Tôn-đà-la-nan-đà xấu hổ nín thinh không trả lời. Khi ấy có vị thầy thuốc đi ngang qua chùa. Các Bí-sô nói:

- Mời lương y tạm vào chẩn bệnh xem vị Bí-sô trẻ này có bệnh hoạn ǵ chăng!

Vị thầy thuốc chẩn mạch rồi báo cáo với các Bí-sô:

- Cụ thọ này thân không bệnh hoạn ǵ mà tâm bị thiêu đốt.

- Tâm bị thiêu đốt là thế nào ? - Các Bí-sô hỏi.

Vị thầy thuốc báo cáo:

Thánh giả! Tôi là người thầy thuốc chỉ chữa được thân bệnh, chứ không chữa trị được tâm bệnh, các ngài Bí-sô mới giải cứu được tâm bệnh.

Khi ấy các Bí-sô hỏi:

- Cụ thọ! Thầy không có cha mẹ thân thích, chỉ duy nhất chúng tôi là đồng phạm hạnh là chỗ hiểu biết, chỗ thân thiết với thầy, thầy nên thật ḷng giải bày, để chúng ta tiện bề chăm sóc nuôi nấng.

Khi ấy, Tôn-đà-la-nan-đà mới đem hết tất cả việc bỉ ổi thỏ thẻ với các Bí-sô. Các Bí-sô nói:

- Ai ngờ được rằng, hoa mùa xuân gặp phải mưa đá! Thầy vừa thọ Viên cụ, ghẻ lở liền sanh.

Các Bí-sô nghe việc ấy rồi không vui mà cũng không giận, rời chỗ ngồi ra về. Các vị đi đến chỗ đức Thế Tôn, lễ song túc rồi ngồi qua một bên tŕnh bày đầy đủ sự việc với đức Phật.

Phật dạy:

- Đây là người ngu si phạm Ba-la-thị-ca. Nếu có Bí-sô khởi tâm làm việc dâm dục với ư thọ lạc, dùng sanh chi của ḿnh để vào đường tiểu tiện:  Bên trong “lau chùi” đưa ra ngoài “rỉ chảy” hoặc ngược lại phạm Ba-la-thị-ca.

Lúc bấy giờ, đức Phật ở tại thành Thất-la-phạt, trong vườn ông Cấp-cô-độc. Hồi ấy trong thành có một Trưởng giả, vừa mới cưới vợ, người vợ lại qua đời. Người thứ hai, người thứ ba, cho đến người vợ thứ bảy cũng qua đời. Do đó người đời gọi ông ta là người “giết vợ”, v́ thế phải mang tiếng xấu. Từ đó về sau, ông ta muốn cưới ai làm vợ đều bị từ chối, họ bảo: “Kẻ giết vợ không lẽ tôi là con gái phải bị chết hay sao ? Tôi không ưng ông đâu!” Ông ta lại t́m đến các bà goá chồng để cưới làm vợ. Nhưng họ cũng nói rằng: “Chúng tôi không tiếc mạng sống hay sao mà vào nhà của ông ?”

Một khi đă cưới không được vợ, ông Trưởng giả phải bao quát hết mọi chuyện trong nhà.

Sau đó một thời gian, có một người bạn quen đến nhà, với lời hỏi thăm:

- Ngài làm ăn ra sao ?

Ông Trưởng giả bảo rằng:

- Tôi chỉ lo việc vặt vănh trong nhà.

Người bạn hỏi:

- V́ sao nay ông phải tự lo việc nhà như vậy ?

Ông Trưởng giả tâm sự:

- Đă bảy đời vợ rồi đều chết tiệt cả.

Người bạn hỏi:

- Sao không cưới người khác ?

Trưởng giả than văn:

- Xin cưới nhiều rồi mà không ai chịu ưng. Họ đều bảo họ tiếc thân gái của họ ưng tôi sẽ bị chết...

Người bạn hỏi:

- Sao không cưới gái góa chồng ?

- Ông Trưởng giả cũng nói tương tự sự việc đă xảy ra như trước. người bạn chỉ bày:

- Cách đây không xa có một dâm nữ già, sao ông không cưới làm vợ?

Ông Trưởng giả bất măn nói:

- Nhà tôi thế này đâu lẽ cưới phường dâm ?

Ông bạn nói:

- Bà ấy đă bỏ nghề lâu rồi, bạn thử đến t́m hiểu xem.

Ông Trưởng giả bèn đến nhà người ấy và chào hỏi:

- Chào bà, Bà mạnh giỏi chứ ?

Dâm nữ già nói:

- Cảm ơn ông, tôi được khỏe, ông cần ǵ ?

Trưởng giả nhỏ nhẹ nói:

- Xin lỗi bà, bà đă thuộc quyền của ai chưa ? Tôi muốn t́m người chung sống.

Bà ấy nói:

- Cho tôi cơm áo, tôi sẽ thuộc quyền sở hữu của ông.

Trưởng giả hỏi:

- Xưa kia bà làm việc không tốt nay bà đă thay đổi chưa ?

Bà ấy nói:

- Từ lâu tôi không tiếp kiến các trượng phu và ḷng tôi từ lâu đă từ bỏ ác pháp.

Trưởng giả bảo:

- Nếu như vậy th́ cùng tôi chung sống, tôi cung cấp mọi nhu cầu cơm áo. Tất cả việc nhà bà thay tôi chu toàn.

Sau đó, bà ta cùng về nhà với Trưởng giả. Tất cả việc nhà đều được giao phó cho bà ta. Trưởng giả lại nói:

- Đây là nhà của bà, bà có bổn phận trông coi. Tôi cần chi bà phải cung cấp cho tôi dùng.

Người đàn bà này bao quát hết mọi việc trong gia đ́nh, cơm áo đầy đủ, thời gian không bao lâu, thân h́nh bà ph́ nộn.

Ở trước cửa ngơ nhà ông Trưởng giả, có các cô xướng nữ, họ cùng rủ nhau đến rừng Thệ-đa.

Bà vợ ông Trưởng giả hỏi các xướng nữ rằng:

- Các cô định đi đâu vậy ?

Các xướng nữ trả lời:

- Chúng tôi đến trong rừng Thệ-đa để chiêm ngưỡng công đức.

Vợ ông Trưởng giả bảo:

- Khoan đi đă, chờ tôi sửa soạn, rồi cùng đi với.

Trong khi bà ta trang sức sửa soạn chưa xong, các xướng nữ bỏ đi trước. Khi bà ta ra cửa ngơ không thấy họ, vội bước nhanh cho kịp. Các người nữ đi trước đều đă vào trong chùa. Trong chùa nơi đây có một Bí-sô ngủ mà mở cửa, xiêm y cọ xát, sanh chi phát khởi. Các dâm nữ đi quanh các pḥng ngắm nh́n quan sát, thấy sự việc như vậy, các người bụm miệng cười ngất rồi đi ra. Khi ấy bà dâm nữ già kia thấy các xướng nữ vừa đi ra vừa cười, bèn nói:

- Các cô tại sao cười ?! Các cô không biết vào trong chùa mà cười, mắc quả báo sún răng hay sao ?

Lặng thinh, các cô xướng nữ bỏ đi ra. Bà dâm nữ già thầm nghĩ: “Phải chăng các cô này vào trong chùa đi quanh ngắm nh́n rồi thấy gà chim rập đá nhau hoặc thấy khỉ cái trêu chọc, cho nên mới cười ?”. Bà dâm nữ già bắt đầu vào chùa rảo quanh để xem. Bà ta thấy trong một pḥng, có một Bí-sô ngủ mà không đóng cửa, thân thể lộ bày sanh chi khởi thẳng. Dâm t́nh tác động, bà ta liền từ bên trên của Bí-sô làm việc phi pháp. Bí-sô ngủ say không tự giác tri. Khi ấy dâm nữ kia khởi lên ư nghĩ: “Dâm nữ chúng ta từ xưa chỉ biết sáu mươi bốn cách, nay do người xuất gia này biết cách thứ sáu mươi lăm, không hề nói năng ǵ mà vẫn được thọ dục lạc”. Dâm nữ già kia thơa măn t́nh dục rồi, lại lấy tay đánh thức Bí-sô đang ngủ đó dậy và nói:

- Thánh giả! Nhà tôi ở trong phường....số....Nếu Thánh giả cần ǵ cứ sẽ đến đó...

Bí-sô trả lời:

- Người là kẻ ngu si, làm nhớp nhúa trú xứ của Tăng, nay tôi đă vô tâm nhận lấy việc xấu ác này, làm ǵ có chuyện lập lại tội lỗi ở trong nhà bà.

Dâm nữ già nghe xong lặng thinh mà đi.

Lúc bấy giờ Bí-sô ḷng sanh xấu hổ nghĩ: “Phải chăng ta đă phạm tội Tha thắng”, liền bạch với các Bí-sô. Các Bí-sô bạch Phật, đức Phật hỏi Bí-sô đó rằng:

- Tâm của ông có thọ lạc không ?

Bí-sô đó thưa:

- Khi ấy con ngủ mê không có tâm thọ lạc.

Phật dạy các Bí-sô:

- Bí-sô này không phạm, do không có tâm thọ lạc. Xong Ta v́ các Bí-sô ở gần thôn xóm chế pháp hành này, các ông lắng nghe: “Nếu Bí-sô ở gần chùa thôn xóm, ban ngày ngủ nên phải đóng cửa, hoặc bảo Bí-sô thủ hộ hoặc lấy hạ quần thắt chặt lại. Nếu vị nào không y theo, th́ khi hông vừa dính chiếu, phạm tội Ác tác”.

Đức Phật ở thành Thất-la-phạt, trong vườn ông Cấp-cô-độc. Khi ấy trong thành có một Bí-sô tu tại A-lan-nhă, đắc bốn Tịnh lự, thường đến đảnh lễ đức Thế Tôn và các Bí-sô kỳ lăo tôn túc. Gặp lúc vị Bí-sô Lan-nhă này thân ḿnh bị ghẻ nhọt và ghẻ lở. Có một vị Bí-sô niên thiếu là bạn quen thân lúc trước thấy vậy thưa:

- Bạch Thượng tọa, thân Thượng tọa bị ghẻ nhọt sao Thượng tọa không hỏi thăm thầy thuốc để chữa trị ?

Vị Thượng tọa Lan-nhă bảo rằng:

- Có một sự thật chắc chắn sẽ đến, người thế gian đều không ưa thích, mọi người đều cơ hiềm khinh tiện, nhưng không một ai tránh khỏi. Đó là cái chết. Ghẻ chóc này đây và cái thân của tôi nó sẽ cùng nhau ra đi, khi cái chết đến phiền chi phải chữa trị!

Niên thiếu Bí-sô thưa:

- Như Thế Tôn dạy: “Người tŕ giới, nếu tồn tại lâu dài th́ có nhiều phước nghiệp, do đó được tăng trưởng. Phước nghiệp tăng trưởng th́ thọ phước lạc của cơi trời được lâu dài”. Do vậy Thượng tọa nên hỏi thăm thầy thuốc để chữa trị.

Khi nghe như vậy, vị Thượng tọa đến chỗ thầy thuốc. Thầy thuốc hỏi:

- Thánh giả thân bị ghẻ chóc ạ!?

 Bí-sô đáp:

- Vâng.

Thầy thuốc hỏi:

- Tại sao Thượng tọa không chữa trị ?

Bí-sô nói:

- Tôi đến đây là v́ mục đích đó, nhờ ông chỉ vẽ phương thuốc cho.

Thầy thuốc nói:

- Thánh giả, sau khi bữa ăn chính xong, lấy dầu cải thoa khắp thân h́nh, ngồi trong ánh nắng mặt trời sẽ được thuyên giảm.

Bí-sô nói:

- Mong ông cho tôi, loại dầu đó.

Thầy thuốc nói:

- Thánh giả! Tôi chỉ cho phương thuốc, chứ không thể cho thuốc. Nếu người nào đến hỏi tôi đều đem thuốc cho th́ c̣n ǵ là cơm áo, ắt tôi sẽ bị bần cùng! Tuy nhiên, có ông Trưởng giả ở... Trước đây cũng mắc bệnh ghẻ chóc này, tôi có vẽ ông ta nấu dầu đó để dùng chữa trị, Thánh giả đến đó xin chắc chắn sẽ được.

Bí-sô nói:

- Ông ấy không cho đâu!

Vị thầy thuốc nói:

- Thưa Thánh giả, ông ấy chánh tín Tam Bảo ông ấy sẽ cho.

Bí-sô nói:

- Cám ơn hiền thủ! Chúc hiền thủ không bệnh, tức là hiền thủ đă bố thí rồi đó.

Xin cáo từ. Bí-sô đến thẳng ông Trưởng giả đó. Ông Trưởng giả vừa thấy liền hỏi:

- Thánh giả thân h́nh có ghẻ chóc à!

Bí-sô nói:

- Đúng vậy!

Trưởng giả chỉ bày:

- Thánh giả nên dùng dầu mè thoa trong thân rồi ngồi dưới nắng.

Bí-sô khẩn xin:

- V́ vậy tôi đến đây, nghe ông có dầu đó may ra c̣n, ông cho sẽ được phước quả.

Trưởng giả nói:

- Thánh giả phải hứa là trưa nay, Thánh giả nhận bữa cơm do tôi cúng dường th́ tôi sẽ dâng dầu mè cho Thánh giả.

Bí-sô đáp:

- Tôi sẽ ở lại dùng cơm.

Trưởng giả thiết bày thức ăn ngon để cúng dường. Ngọ trai xong, liền dùng bát nhỏ đựng đầy dầu mè dâng cho Bí-sô. Bí-sô nhận, và nói: “Nguyện cho thí chủ vô bệnh”, rồi cáo từ ra về.

Bí-sô về đến A-lan-nhă, mặc áo xấu rách thoa dầu khắp người ngồi dưới ánh nắng. Thân có sự thoa chà nên dễ chịu dựa vào ghế liền ngủ. V́ trong chỗ kín của Bí-sô có loài trùng Ốt-chỉ-trưng-già cắn sanh chi. Do đó sanh chi khởi lên đẩy căng chiếc xiêm che hờ tuột ra. Lúc ấy có người đàn bà mập khỏe tráng kiện, t́m hốt phân trâu ḅ đến gần bên, thấy h́nh Bí-sô lộ bày ḷng dục khởi lên, liền từ bên trên của Bí-sô làm việc phi pháp. Bí-sô thức giấc ngay, nhưng v́ thân thể quá yếu nên không chóng cự lại được. Người đàn bà ấy thỏa măn dục vọng rồi nói rằng:

- Thánh giả! Tôi ở tại nhà số... Thánh giả cần ǵ sẽ cứ đến nơi đó.

Bí-sô nói:

- Bà là người ngu si, làm nhơ nhớp A-lan-nhă. Tôi hiện vô tâm mà thọ lấy việc ác này, làm ǵ có việc lập lại tội lỗi này tại nhà của bà ?

Bà ta lặng thinh bỏ đi. Bí-sô ḷng cảm thấy xấu hổ nghĩ: “Phải chăng ta phạm tội Tha thắng !?”, rồi đem tất cả sự việc bạch với các Bí-sô. Các Bí-sô bạch lên đức Phật. Đức Phật hỏi Bí-sô đương sự rằng:

- Ông có tâm thọ lạc không ?

Bí-sô ấy thưa:

- Bạch Thế Tôn con đă ly dục, không có tâm thọ lạc.

Phật bảo các Bí-sô:

- Vị này không phạm do không dục tâm. Xong Ta v́ các Bí-sô ở nơi A-lan-nhă, chế hành pháp này. Các ông phải lắng nghe: “Nếu ở nơi A-lan-nhă, nơi bốn phía chỗ nhà ở phải che dừng ngăn cách. Khi muốn ngủ nên bảo Bí-sô thủ hộ, hoặc dùng hạ quần cột chặt lại. Nếu không tuân hành phạm tội Ác tác”.

Lúc bấy giờ các Bí-sô đều có sự nghi vấn, thưa Thế Tôn rằng:

- Vị Bí-sô A-lan-nhă, đă đắc tứ thiền xa ĺa các dục nhiễm, tại sao sanh chi c̣n khởi ?

Thế Tôn dạy:

- Có năm nhơn duyên: Người chưa ly dục; sanh chi khởi, khi đại tiểu tiện căng bức, thế lực của gió gây kích, bị trùng “Ốt-chỉ-trưng-già” cắn, dục nhiễm hiện tiền. Có bốn nhơn duyên người ly dục sanh chi khởi, khi đại tiểu tiện căng bức, thế lực của gió ép ngặt, bị trùng cắn. Vị Bí-sô kia, lúc ấy bị trùng “Ốt-chỉ-trưng-già” cắn nên sanh chi khởi chứ chẳng phải do dục nhiễm vậy.

Lúc bấy giờ các Bí-sô lại có chỗ nghi xin hỏi đức Thế Tôn, cúi xin đức Đại từ v́ đoạn nghi hoặc:

- V́ ư nghĩa nào, Bí-sô Tô-trận-na con của Yết-lan-đạc-ca, trong lúc tội lỗi chưa phát sanh hoen ố chưa xuất hiện, ông ta lại là người ban đầu gây hoen ố, làm hạnh bất tịnh ?

Đức Thế Tôn dạy rằng:

- Các ông nên biết, Bí-sô ấy không phải chỉ ngày nay mới là người đầu tiên làm phát sanh hoen ố lở lói, mà về thời quá khứ, trong khi chưa có hoen ố lở lói, ông ta cũng là người đầu tiên làm phát sanh hoen ố. Các ông nên lắng nghe:

Do v́ thế giới gần bị hư hoại, nhiều loài hữu t́nh sanh lên cơi trời Quang Âm. Diệu sắc ư làm thành chi thể viên măn, các căn không khiếm khuyết. Thân có ánh sáng bay lên hư không một cách tự tại. Hỷ lạc làm thức ăn sống lâu măi măi.

Lúc bấy giờ, đại địa là một biển nước. Này các Bí-sô, biển nước lớn này do gió kích động, ḥa hợp thành một loại như sữa ở trên lửa. Khi có hơi lạnh lại đóng thành màng váng. Trên mặt đất mùi sắc, hương mỹ vị thảy đều đầy đủ. Sắc như sanh tô, vị như cam như mật. Các Bí-sô! Thế giới này khi thành, có một loài hữu t́nh phước mạng đều hết, từ cơi trời Quang Âm chết rồi sanh vào cơi thế giới này, cùng một số phận làm người. Diệu sắc ư làm thành đầy đủ các căn. Thân có ánh sáng diệu vợi lướt trên hư không mà đi lại. Lấy hỷ lạc làm thức ăn, trụ vững trong trường thọ.

Lúc bấy giờ, trong thế giới này không có mặt trời, mặt trăng tinh tú thời gian... Vượt qua đơn vị phân biệt về ngày đêm, sát-na năm tháng khoảnh khắc, nửa tháng một tháng, nửa năm một năm, nam nữ. Chỉ cùng nhau kêu lên hai tiếng “Tát-đỏa! Tát-đỏa!” (hữu t́nh! hữu t́nh!) mà thôi.

 Khi ấy, trong thế giới này có một hữu t́nh bẩm tánh đam mê ham thích, như một phản xạ lấy ngón tay nếm thử mùi vị đất này. Tùy theo sự nếm thử đó mà nhiễm ngay yêu thích, và tùy theo sự tập nhiễm yêu thích mà đưa đến đoạn thực, chính đây là của cải. Lúc ấy gọi là sơ thọ (lần đầu tiên thọ nhận) thức ăn. Một khi thấy được cách ăn này, các loài hữu t́nh khác liền cùng nhau học ngay cách ăn mùi vị đất. Theo thời gian đă ăn lấy mùi vị của đất, thân hữu t́nh dần dần nặng lên và cứng chắc, ánh sáng nơi họ nhạt nḥa rồi mất hẳn. Thế giới bây giờ hoàn toàn rơi vào tối tăm...

Này các Bí-sô! Khi thế giới tối tăm th́ luật tức lại làm hiện hữu mặt trời, mặt trăng, tinh tú, thời gian; đo lường, ngày đêm, sát-na, khoảnh khắc, năm tháng tất cả đều liệt phân. Các loài hữu t́nh kia ăn mùi vị đất của thế giới này, đời sống được trường thọ. Hữu t́nh nào ăn ít th́ thân có ánh sáng, hữu t́nh nào ăn nhiều th́ thân không c̣n sắc thái sáng rỡ. Do ăn nhiều hay ít mà h́nh vóc có hơn có kém. Do vượt trội hay kém cỏi mà dẫn đến khinh thường nhau, rằng: Ta sắc tướng quang minh hơn nhà ngươi dung nhan hạ liệt. Do sự khinh mạn lên nhau mà ác pháp lại sanh. Do ác pháp sanh cho nên mùi vị của đất cũng mất.

Này các Bí-sô! Mùi vị của đất mất rồi, khi ấy, loài hữu t́nh kia cũng tập hợp lại một chỗ mà sống với ưu sầu. Tất cả đều cất lên tiếng gọi: Kỳ lạ thay mỹ vị! Lạ  lùng thay hương vị  ngọt ngào! Giống như ai đó, hôm nay từng ăn món ăn ngon ngày mai (không c̣n nữa). Nghĩ lại thèm thuồng, buông lời tiếc rẻ: Đâu rồi mùi vị thơm tho! Đâu rồi cái mỹ vị kỳ lạ!? Các loài hữu t́nh kia, khi mùi vị của đất đă mất. Đều cảm xúc nói lên cái kỳ lạ của vị đất, xong không hiểu nổi ư nghĩa nào để giải thích cho được lời nuối tiếc ấy!

Này các Bí-sô! Mùi đất mất rồi, khi ấy các loài hữu t́nh, do c̣n phước lực nên có bánh từ đất xuất hiện với sắc, hương, vị đầy đủ. Sắc như hoa sắc thiếu nữ, vị như mật mới nấu. Ăn bánh đất này được đời sống trường thọ. Hữu t́nh nào ăn ít th́ thân có ánh sáng... Do từ hữu t́nh khinh mạn lên nhau, nên mọi vấn đề phát sanh như trước đă nói, dẫn đến cái bánh đất mất. Đến giai đoạn này các loài hữu t́nh tập hợp lại một chỗ, sống đời sống ưu sầu rồi thốt lên lời nói như vầy “khổ thay! khổ thay!” Nỗi khổ hiện hữu giống như người  trước đă gặp! Đă ghi sâu vào kư ức, đến lúc bật lên lời than “khổ thay! khổ thay!” Ta xưa kia đă từng gặp điều bất hạnh này! Th́ đây, các hữu t́nh, một khi mất đi bánh đất, nỗi khổ cũng như vậy! Tuy nhiên, không biết nói sao đây để giải thích được ư nghĩa nào đó của lời than khổ!

Này các Bí-sô! Bánh đất mất rồi, khi ấy loài hữu t́nh do c̣n phước lực nên có rừng, và thực vật rải rác xuất hiện với sắc, hương, vị đầy đủ. Sắc như hoa ung thái, vị như mật mới chín. Ăn thực vật, dây và cây rừng này, đời sống được lâu dài. Hữu t́nh nào ăn ít th́ thân có ánh sáng...Do khinh mạn lên nhau...Xảy ra như trên đă nói, dẫn đến rừng thực vật dây cũng mất. Khi ấy, các loài hữu t́nh tập hợp lại một chỗ, sống đời sống ưu sầu rồi thốt lên lời than “người ĺa bỏ tôi trước, người ĺa bỏ tôi trước!” Giống như có người giận nhau lắm không giữ được lời hứa trước kia xa ĺa nhau...Như trên đây đă đề cập.

Này các Bí-sô! Dây rừng mất rồi, lúc ấy các loài hữu t́nh do c̣n phước lực, nên có lúa ngắn ngày Diệu hương. Không trồng mà tự sanh không có trấu uế. Dài bằng bốn ngón tay, hôm, mai không mấy chốc, thâu hoạch mộng lúa lại tùy đó mà phát triển. Chiều đến sáng lại, gạo tự nấu chín. Tuy liên tục thu hoạch mà trạng thái không thay đổi. Hữu t́nh ăn thực phẩm sung túc này nên sống trường thọ. Vào giai đoạn đó, do hữu t́nh “đoạn thực” nên cặn bă nhơ nhớp ứ trong thân xác, cần phải loại bỏ ra ngoài nên sanh ra hai đường tiểu tiện. Do sự thích nghi này mà phát sinh căn nam, nữ lại tương tác đắm nhiễm. Do sanh đắm nhiễm liền cùng nhau gần gũi, nhân đó tạo điều phi pháp. Các loài hữu t́nh khác khi thấy sự việc như vậy, tranh nhau lấy vật nhơ nhớp như gạch, đá quăng ném hữu t́nh kia và nói: “Ngươi là vật khả ố! Hữu t́nh làm việc phi pháp. Ôi ! Tại sao nay ngươi lại ô nhục loài hữu t́nh?!” Ban đầu từ một đêm cho đến bảy đêm, không cùng chung sống, đuổi ra ngoài chúng hữu t́nh.

Do sự việc như vậy mà ngày nay, ngày đầu làm lễ cưới đều dùng hương, hoa, tạp vật để tung ném nhau, nói lên lời cầu nguyện “thường được an lạc”.

Này các Bí-sô! Xưa kia là phi pháp nay lại thành hợp pháp. Xưa kia chẳng phải luật, nay lại thành luật. Xưa kia là cơ hiềm, khinh tiện, nay lại tốt đẹp, dịu dàng. Do v́, người lúc đó xua đuổi loại ra nên kẻ ưa làm ác pháp bèn cùng nhau tụ tập, tạo lập pḥng xá, để làm điều phi pháp. Đây là khởi nguyên của việc xây dựng nhà, cửa, nên phát sanh ra tên gọi gia thất.... Lúc ấy, loài hữu t́nh nào không làm ác pháp, hàng phục các căn gọi là “Thắng nhơn” vậy.

Phật bảo các Bí-sô! Các ông đừng để sanh niệm nào khác. Xưa kia, kiếp ban đầu hữu t́nh sáng tạo phi pháp, làm ô uế loài hữu t́nh, sanh ra hoen ố, ghẻ lở, hữu t́nh ấy nay chính là Tô-trận-na vậy. Đối với trong giáo pháp của Ta, trước không có hoen ố ghẻ lở, nay Tô-trận-na người đầu tiên tạo ác, làm hạnh bất tịnh, nhơ nhớp cho chúng Tăng đang sống trong sạch. V́ vậy, các Bí-sô nên phải hàng phục tâm tham nhiễm sân, si, đừng làm việc buông lung.

 

Giới thứ hai phần một: Học xứ không cho mà lấy.

 

Đức Phật ở thành Vương-xá, ao Yết-lan-đạc-ca, trong vườn Trúc Lâm. Khi ấy có Bí-sô Đăn-ni-ca, lúc trước con của ông thợ đồ sứ, trú nơi thảo am A-lan-nhă. Khi ấy Đăn-ni-ca vào trong thành Vương-xá, thứ lớp khất thực, những nơi được phép đi.

Cùng lúc ấy, trong thành có bọn chăn trâu, chăn dê, người lấy cỏ, kiếm củi. Trong số này có người sống đời sống chơn chánh, có người sống đời sống tà mạng. Sau khi Bí-sô đi họ đập phá thảo am, lấy củi mang đi. Đăn-ni-ca khi trở về thấy thảo am đă bị đập phá, tranh tre mất hết, liền làm cái thảo am khác để ở. Ba lần làm lại như vậy, đều bị bọn người trên đập phá mang đi. Đăn-ni-ca bèn tư duy: “Chao ôi quá khổ! Chao ôi, sao cực nhọc vậy! Ta vừa đi khất thực liền bị người dỡ thảo am ta, đến ba lần như thế này. Chính ta đă nắm vững công nghệ gốm sứ từ tổ phụ để lại, tại sao ta không làm một cái thất toàn bằng đất gạch”. Đăn-ni-ca liền tự đào đất, dùng nước không có trùng, trộn với đất làm thành bùn nhuyễn.

Trước hết, làm phần cơ bản nền móng, tiếp theo xây tường vách. Ở giữa gian có gác, bên trên chống đỡ che lợp như cái dù vải. Các cọc giường kiểu răng voi, khô cứng mới nằm ngồi. Bản lề, then chốt cửa sổ, cửa lớn âm vào tường, tất cả bằng đất đă được cứng chắc. Đăn-ni-ca bèn lấy màu sắc vẽ vời rực rỡ rồi chất củi, cỏ, phân ḅ nung đốt toàn bộ ngôi thất. Thật cực khéo khi nung thành, màu sắc của ngôi thất đỏ như bông kim tiền. Khi ấy, Bí-sô Đăn-ni-ca khởi ư nghĩ rằng: “Ngôi nhà của ta thành tựu tốt đẹp, h́nh sắc khả ái, điều này cho phép ta tự hân hoan vui mừng!”

Bấy giờ, Đăn-ni-ca đến nơi Bí-sô kế cận nhờ coi giùm nhà rồi y bát nghiêm túc lên đường du hóa nhơn gian. Thường pháp của như lai, đến khi nào chưa vào Niết-bàn th́ luôn luôn giữ ǵn cho thân được an ẩn để theo ḍng thời gian, v́ hữu t́nh mà giáo hóa. Khi th́ đến địa ngục, bàn sanh, ngạ quỷ, khi th́ đến cơi trời, nhơn gian khi th́ đến Lan-nhă, thi lâm, núi biển và tất cả trú xứ.

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn muốn đi đến xem xét các trú xứ, bảo Cụ Thọ A-nan-đà rằng:

­- Ông đến thông báo cho các Bí-sô biết, Như Lai nay muốn đi đến thăm các trú xứ, tất cả các Bí-sô nào cùng muốn đi theo th́ chuẩn bị y bát...

Liền khi ấy, A-nan-đà vâng lời Thế Tôn dạy đến rừng cây, chùa trong, chùa ngoài, các pḥng và nơi kinh hành, bảo với các Bí-sô rằng:

- Nay đây, Thế Tôn muốn đến thăm các trú xứ, các vị nào cũng muốn đi theo, th́ chuẩn bị y bát...

  Các Bí-sô nghe được thông tin ấy rồi, mỗi cá nhân nghiêm chỉnh y bát, đến thẳng chỗ Thế Tôn ở. Bấy giờ Thế Tôn cùng các Bí-sô theo thứ tự đi đến trú xứ của Đản-ni-ca. Đến nơi, Thế Tôn nh́n thấy ngôi nhà của Đản-ni-ca, toàn bằng đất sét nung thành, màu sắc đỏ rực như hoa kim Tiền. Đă thấy th́ phải hỏi:

- Đức Phật hỏi các Bí-sô rằng:

- Đó là nhà của ai ?

  Các Bí-sô bạch Phật:

- Đó là nhà của Bí-sô Đản-ni-ca, con ông thợ sành sứ, tự xây cất ngôi thất này.

  Đức Phật bảo các Bí-sô:

- Phải phá ngay ngôi nhà này.

  Chính do nhơn duyên này, các ngoại đạo phỉ báng đối với Như Lai rằng: “Sa-môn Kiều-đáp-ma hiện c̣n tại thế mà trong chúng Thinh-văn đă có kẻ làm pháp hữu lậu như vậy, huống là diệt độ th́ sao ?!”

  Khi ấy các Bí-sô vâng lời Thế Tôn dạy, đập phá ngôi nhà ấy. Chứng kiến và đợi đến khi triệt hạ xong ngôi thất, đức Thế Tôn mới chịu rời nơi này mà ra đi. Không bao lâu Bí-sô Đăn-ni-ca về thấy ngôi nhà của ḿnh bị phá liền hỏi vị Bí-sô ở gần:

- Ai phá nhà của tôi?

 Các Bí-sô lân cận trả lời:

- Đây chính là lời dạy của Đức Đại Sư nên các Bí-sô phá bỏ.

 Đăn-ni-ca tự bạch:

- Pháp chủ Thế Tôn bảo các Bí-sô phá bỏ, đây là việc làm đúng pháp!

Lúc bấy giờ, trong thành Vương-xá có vị Đại thần trông coi việc cây gỗ, là bạn quen thân của Bí-sô Đăn-ni-ca trước kia, họ rất đắc ư với nhau qua nói năng đàm luận. Như kịp lúc, Đăn-ni-ca nảy ra ư nghĩ: “Đại thần trông coi việc cây gỗ là bạn thân quen của ta, ta đến ông ta t́m gỗ để làm lại ngôi nhà gỗ”. Hành động ư đă nghĩ, Đăn-ni-ca liền đến chỗ vị Đại Thần, nói rằng:

- Ngài có biết không, con của Thắng Thân, nước Ma-kiệt-đà là vua Vị Sanh Oán, trước đây đă cho tôi gỗ, nay muốn lấy để dùng, tôi có thể nhận từ ngài được chứ ?

Đại thần trả lời:

- Thưa Thánh giả, nếu Đại vương đă cho ngài gỗ đây là điều quá tốt, tuỳ ư Thánh giả cứ đi lấy.

Bấy giờ trong  thành có một loại gỗ. Tất cả đều do nhà vua Vị Sanh Oán trực tiếp nắm giữ, như một kho tàng bảo hộ một cách chặt chẽ. Nơi nào đại thành Vương-xá bị sụp đổ, cần gỗ để tu bổ, cũng phải khó khăn lắm mới sử dụng được thứ gỗ dự trữ này. Không thể chấp nhận một ai khác.

Khi Bí-sô Đăn-ni-ca hạ một cây cắt ra rồi chở đi, ngay lúc ấy, Đại thần giữ thành tuần hành các nẻo đường, thấy một cây gỗ to bị chặt và chở đi. Chứng kiến sự việc đă rồi này khiến ông rất kinh hoàng, liền nghi vấn suy nghĩ: “Phải chăng đất nước Ma-kiệt-đà của vua Vị Sanh Oán, đang có oán tặc muốn xâm nhập thành chăng!? Cây gỗ này thuộc về vua chưởng hộ, không chấp nhận cho ai. Tại sao có người vội chặt đem đi ?”.

 Sự thật việc này phải sáng tỏ, ông ta vội đến ngay vị quan trông coi về cây gỗ, báo cáo:

- Đại thần biết chăng, tôi vừa đi tuần tra các nẻo đường thấy một cây gỗ lớn bị chặt đem đi, Tôi vô cùng kinh hoàng khi chứng kiến điều này, lông trên người tôi đều dựng ngược lên. Oán tặc ư?! Há phải chăng đất nước vua Vị Sanh Oán đang bị giặc xâm nhập! Hoặc quan trông coi về cây gỗ thuận đem cây gỗ lớn này cho ai đó chăng ?!

Vị Đại thần khẳng định rằng:

- Tôi không hề dám đem cây ấy cho ai, xong Bí-sô Đăn-Ni-ca đến đây nói với tôi như thế này. “vua Vị Sanh Oán cho tôi cây gỗ này. Ngài biết cho điều đó”. Khi ấy tôi trả lời: “Thánh  giả!  nếu thật Đại vương đă cho cây gỗ ấy. Đó là điều may mắn, Thánh giả tùy ư sử dụng chỗ đă cho”. Phải chăng chỗ cây kia do Bí-sô chặt ?

Liền ngay sau đó, vị thần giữ thành đến tâu với vua Vị Sanh Oán:

- Muôn tâu! thánh thượng có biết cho chăng, hạ thần vừa đi tuần các nẻo đường, thấy có một cây gỗ, đây là loại gỗ mà Đại vương khi cần thiết đến  để sử dụng vào việc tu bổ cũng đặt thành vấn đề khó khăn, ấy vậy mà bị ai đó đốn chặt đem đi. Hạ thần trông thấy việc này, rất đổi kinh hoàng, lông trên người hạ thần dựng ngược. Oan gia đạo tặc của nhà vua ư ?! Đâu lẽ  nào chúng xâm nhập thành ? Hạ thần liền đến hỏi vị Đại thần trông coi về cây gỗ: “Ông không cho cây cho người nào chứ ?!” Vị quan ấy trả lời: “Tôi không hề dám đem gỗ cho ai. Xong có Bí-sô Đăn-ni-ca đến đây nói rằng: “ Nhà vua đă cho Bí-sô ấy cây gỗ ”. Nghe thế, vị quan trông coi về cây gỗ nói: “ Nếu vua cho Bí-sô th́ có thể tùy ư lấy ”. Một khi tùy ư th́ Bí-sô kia liền chặt cây gỗ mang đi. Há là thế! Xin Đại vương nhớ lại, Ngài có cho gỗ cho ai không ?

Nhà vua nói:

- Trẫm nhớ chưa bao giờ cho ai gỗ.

Vua liền ra lệnh vị Đại thần trông coi cây gỗ đến. Nhận được lệnh vua, vị Đại thần giục giă thẳng Vương cung. Cùng lúc ấy, Bí-sô Đăn-ni-ca, nhơn có chút việc vào thành Vương-xá. Gặp lại nhau kịp lúc, vị quan trông coi cây gỗ than phiền với Bí-sô Đăn-ni-ca rằng:

- Thánh giả biết chăng, v́ ngài lấy cây, nay vua cho gọi tôi...

Bí-sô bảo rằng:

- Ông đến trước đi nhé, tôi sẽ đến sau.

Dù có đi trước hay đến sau, quan coi gỗ và Bí-sô Đăn-ni-ca đều cùng là kẻ nhận lệnh phải đến cửa vua. Mà đă đến cửa vua th́ phải đứng đợi. Trong lúc đứng đợi, vị sứ giả mới vào tâu với nhà vua:

- Bẩm Đại Vương! Vị quan trông coi cây gỗ, hiện có mặt ngoài cửa, c̣n Bí-sô kia tuy không bị gọi cũng đến hầu cửa vua .

Nhà vua nói:

- Người chưởng mộc khoan đừng bảo vào, cho phép gọi người xuất gia kia vào đây .

Sứ giả lui ra truyền lệnh Bí-sô vào. Vào đến trước vua, Bí-sô thủ lễ nói:

- Nguyện Đại vương vô bệnh trường thọ.

Chúc xong, đứng qua một bên. Khi ấy, nhà vua hỏi Bí-sô Đăn-ni-ca:

- Thánh giả! Người không cho cây, mà lấy có hợp lư không ?

Đăn-ni-ca nói:

- Không hợp lư.

Vua nói:

- Nếu vậy, tại sao thầy lấy cây của tôi đem đi ?

Đăn-ni-ca nói:

 - Chính vua trước kia cho.

Vua nói:

- Tôi không nhớ điều đó. Nếu thầy nhớ th́ nhắc cho tôi với .

Đăn-ni-ca nói:

- Lẽ nào nhà vua không nhớ, khi vua mới lên ngôi, đứng trước quần chúng, với âm vang sư tử rống, nhà vua dơng dạc như vầy: “Trong nước ta, nếu Sa-môn, Bà-la-môn, người giữ giới làm điều lành, không làm việc trộm cắp th́ trong xứ sở của ta, bất cứ chỗ nào có cỏ, cây, và nước, được lấy dùng làm theo ư muốn”.

Vua nói:

- Tôi căn cứ vào vật vô chủ mà nói lời nói ấy, c̣n cây này là vật có người chưởng thủ, lư do nào Thánh giả lại lấy ?.

Đăn-ni-ca nói:

- Nhà vua đă sở cứ vào vật vô chủ để tuyên lệnh th́ việc này can hệ đến vua ở chỗ nào?.

Vua nghe lời nói ấy, đùng đùng nổi giận, trán nhăn lại như ba dăy núi, lông mi dựng ngược, dậm chân, trợn mắt khoa tay, nói:

 - Sa-môn! Ông nay đáng chết! Ta không thể giết. Ông tức tốc phải đi ngay! Từ nay về sau không nên làm như vậy.

Vào thời ấy, mọi người đều lắm tiếng ồn ào b́nh phẩm rằng: -“Điều kỳ lạ hiếm thấy! Vua Vị Sanh Oán nước Ma-kiệt-đà, bẩm tánh bạo ngược, nóng nảy làm ǵ có chuyện dung thứ tội Sa-môn đáng chết, mà nay chỉ dùng lời quở trách rồi phóng thích”.

Khi trở về đến trứ xứ, Đăn-ni-ca nói với các Bí-sô:

- Vừa rồi, tôi chút nữa bị vua Vị Sanh Oán giết.

- Các Bí-sô hỏi lư do tại sao ?

Đăn-ni-ca tŕnh bày đầy đủ nhân duyên với các Bí-sô. Các Bí-sô đem vấn đề này tŕnh lên đức Phật. Đức Phật bảo Cụ thọ A-nan-đà rằng:

- Ông mặc y Tăng-già-chi, cùng với một Bí-sô vào thành Vương-xá, đi khắp các nẻo đường, nơi nào có dân chúng cư trú, hoặc Bà-la-môn, Cư sĩ, hoặc thôn ấp tụ lạc, thương chủ, người giàu có, người có ḷng tin, kẻ không có ḷng tin, cứ như thế khắp tất cả, hỏi rơ điều này: “Ăn trộm vật, đáng giá bao nhiêu th́ pháp của vua phải xử tội tử h́nh ”.

Lúc bấy giờ, A-nan-đà vâng lời Phật dạy vào trong thành Vương-xá, hỏi hết mọi người:

- Ăn trộm đáng giá bao nhiêu th́ theo pháp của vua xử tử.

Mọi người trả lời:

- Ăn trộm vật đáng giá năm Ma-sái, hay hơn năm Ma-sái sẽ đáng tội phải chết.

Đă hoàn tất việc hỏi, A-nan-đà ra khỏi thành Vương-xá đến chỗ Thế Tôn, lễ xong túc rồi, đứng qua một bên, bạch với đức Thế Tôn:

- Bạch Đại đức, như lời Phật dạy, con đă hỏi khắp mọi người: “Ăn trộm bao nhiêu th́ bị tội tử h́nh ? Mọi người đều nói với con, nếu ăn trộm vật đáng giá năm Ma-sái, hay trên năm Ma-sái th́ pháp vua phải tội tử h́nh”.

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn lấy đây làm nhơn duyên tập hợp các Bí-sô Tăng-già. Biết mà vẫn hỏi, chẳng phải không biết mà hỏi. Hỏi đúng lúc, không đúng lúc không hỏi. Có lợi ích th́ hỏi, không lợi ích không hỏi. Phá bỏ sai lầm, ngăn tội lỗi, đoạn trừ nghi hoặc, v́ lợi ích cho nên biết mà vẫn hỏi:

- Này, Bí-sô-Đăn-ni-ca, con ông thợ làm sành sứ! Ông thật sự đă làm việc lấy cây của nhà vua một cách đường đột như vậy, phải không ?

Bí-sô-Đăn-ni-ca thưa:

- Thật vậy, bạch Thế Tôn.

Thế Tôn quở trách rằng:

- Việc ông đă làm đó không phải Sa-môn, không phải tịnh hạnh, không phải hạnh tùy thuận, việc làm của người xuất gia chẳng phải làm những điều như vậy.

Từng sai lầm một, Thế Tôn quở trách rồi, bảo các Bí-sô:

- Tôi xem xét kỹ mười điều lợi, cho đến Chánh pháp cửu trụ, v́ các Thanh-văn đệ tử đối với Tỳ-nại-da, từ thực tế này mà chế ra Học xứ được nói rơ như sau: “Nếu lại có Bí-sô hoặc ở trong tụ lạc, hoặc ở chỗ trống vắng, lấy vật không có đối tượng cho, với tâm trộm cắp. Khi ăn trộm như vậy, hoặc vua, hay Đại thần của vua, hoặc bắt, hoặc giết, hoặc trói, đuổi khỏi nước, hoặc quở trách: Ôi! Nam tử, người là giặc, ngu si không biết ǵ, làm việc ăn trộm như vậy. Như vậy là kẻ ăn trộm. Bí-sô này phạm Ba-la-thị-ca, không nên chung sống”.

+ Câu: “Nếu lại có Bí-sô” là chỉ cho Đăn-ni-ca. Bao nhiêu nghĩa khác như trên đă nói.

- Tụ lạc, là chỉ cho phạm vi xóm làng nhà cửa.

- Chỗ trống vắng: Là nơi ngoài phạm vi xóm làng nhà cửa.

- Đối tượng (tha giả): Là nam nữ, Hoàng môn... Không cho mà lấy:

- Vật không có người cho, tức là vàng v.v... Lấy với tâm trộm cắp: Vật không được người cho tặc tâm mà lấy. Khi lấy vật như vậy, hoặc năm Ma-sái, hoặc hơn năm Ma-sái th́ phạm.

- Vua: là chỉ cho ḍng Sát-đế-lợi hay Bà-la-môn. Hoặc ḍng Bệ-xá, hoặc Mậu-đạt-la mà nhận lấy Sát-đế-lợi vương quyền đảnh vị th́ đều gọi là vua. Hoặc có người nữ thọ quyền đảnh vị cũng gọi là vua.

- Đại thần của vua: Là chỉ cho quan Phụ tướng của vua, v́ vua, lo việc chánh trị trong nước.

- Bắt: Là cột đem đến.

- Giết: Là chấm dứt mạng sống.

- Trói: Có ba loại gông: Sắt, cây, dây.

- Đuổi khỏi nước: Là không cho ở trong nước.

- Quở trách: Ôi! Nam tử, người là giặc, ngu si không biết ǵ: Đó là lời khinh tiện nhục mạ. Như vậy: Là chỉ cho người ăn trộm.

- Bí-sô: Là người có tánh Bí-sô.

Thế nào gọi là tánh Bí-sô ?

-Tức là người thọ Cụ viên !

Thế nào gọi là Cụ viên ?

          - Tức là bạch tứ Yết-ma, việc làm đúng như pháp, thành tựu hoàn toàn, một cách đầy đủ. Người bước lên cầu giới với tâm viên măn, ngưỡng vọng đầy đủ, khẩn cầu tha thiết. Nhận lănh với tất cả tấm ḷng không nhuế hận, nói lên bằng lời nói, để hiển bày ngữ nghiệp trong sáng rơ ràng, nên gọi là Viên cụ.

- Ba-la-thị-ca: Là tội cực trọng, cực kỳ ghớm ghiếc, xấu xa. Đó là điều đáng cơ hiềm, khinh tiện, không hề yêu chuộng ưa thích. Nếu người nào phạm tội này, khi vừa phạm, tức chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải là con của đức Thích-ca, mất tánh Bí-sô, trái ngược với tánh Niết-bàn. Đổ nhào, rơi tỏm, sa đọa, dù ai đó có được sự thắng vượt cũng không thể cứu được. Như cây cau bị chặt ngọn, không thể sống được, gọi là Ba-la-thị-ca.

Không nên chung sống: Là người này không được cùng với Bí-sô khác mà chung sống. Việc Trưởng tịnh, việc Tự tứ, việc Đơn bạch, Bạch nhị, Bạch tứ Yết-ma. Hoặc mười hai hạng người Yết-ma, người này không có trong số đó. Do vậy, nên gọi là không nên chung sống.

Trong vấn đề này, tướng phạm của Học xứ này như thế nào ?

        Bài tụng Tổng nhiếp:

Tự lấy ở trên đất,

Hoặc trên không rơi xuống,

Lụa, xe và dinh điền,

Trộm thuế, luôn không chân,

Đàn-trà-la, Thế-la

Chung lại là mười việc.

Bài tụng Biệt nhiếp:

Tự lấy, không cho lấy,

Tâm trộm vật của người,

Nghĩ là vật có chủ,

Có ba, năm không đồng.

Lại có bốn, bốn khác.

Cả hai, năm sai biệt.

Thảy đều dựa vật trọng

Việc tùy đó nên biết,

* Có ba loại tướng trạng: Bí-sô đối với vật trọng của người khác không cho mà lấy, phạm Ba-la-thị-ca.

- Ba tướng trạng là: Tự ḿnh lấy, coi người lấy và sai người lấy.

Thế nào gọi tự ḿnh lấy ?

- Tức là tự tay ḿnh trộm lấy, hoặc tự ḿnh hướng dẫn đến lấy, vật ấy rời khỏi chỗ củ.

 Thế nào coi là người lấy ?

- Tức là tự ḿnh coi người trộm lấy, hoặc tự ḿnh coi người hướng dẫn họ đến lấy, vật ấy rời khỏi chỗ củ.

Thế nào gọi là sai người lấy ?

- Tức là tự ḿnh sai người đến lấy, hoặc sai người dẫn đến lấy, vật ấy rời khỏi chỗ củ.

Nếu Bí-sô dùng ba duyên này, đối với vật trọng của người khác không cho mà lấy, phạm Ba-la-thị-ca.

* Lại có ba yếu tố, Bí-sô đối với trọng vật của người khác, không cho mà lấy, phạm Ba-la-thị-ca.

Ba yếu tố ấy là ǵ ?

- Tức là: Người khác không cho; thể là trọng vật; vật rời khỏi chỗ củ.

Thế nào gọi là không cho mà lấy ?

- Tức vật của nam, nữ, Hoàng môn chưa được chính họ trao cho mà lấy th́ được gọi là vật không cho mà lấy.

Thế nào gọi là thể trọng vật ?

- Tức là đủ năm Ma-sái hay trên năm Ma-sái.

Thế nào gọi là rời khỏi chỗ củ ?

- Tức từ chỗ này dời qua chỗ khác.

Bí-sô dùng ba duyên này, đối với trọng vật của người khác, không cho mà lấy, phạm Ba-la-thị-ca.

- Lại có ba duyên, Bí-sô đối với trọng vật của người khác, không cho mà lấy, phạm Ba-la-thị-ca.

* Ba duyên là những ǵ ?

Bức khởi tâm lấy trộm; tạo phương tiện; rời khỏi chỗ củ.

Thế nào gọi là khởi tâm lấy trộm ?

- Tức là khởi tâm của kẻ giặc, lấy trộm vật của người khác.

Thế nào gọi là tạo phương tiện ?

- Tức hoặc dùng tay, dùng chân, lập kế hoạch để tiến hành. Vật rời khỏi chỗ củ... như trước nên biết.

* Lại có ba duyên, Bí-sô đối với trọng vật của người khác, không cho mà lấy, phạm Ba-la-thị-ca.

Những ǵ là ba ?

- Vật có sở hữu chủ, thể là trọng vật, vật rời khỏi chỗ củ.

Thế nào gọi là vật có sở hữu chủ ?

- Tức là trọng vật ấy thuộc quyền sở hữu của nam, nữ, Hoàng môn... nên gọi là có người quản lư. Trọng vật và ĺa khỏi chỗ củ như trước đă nói.

* Lại có ba duyên, Bí-sô đối với trọng vật của người khác, không cho mà lấy, phạm Ba-la-thị-ca.

Ba duyên là ǵ ?

- Khởi ư nghĩ là có người quản lư, thể là trọng vật, rời khỏi chỗ củ. Thế nào gọi là khởi ư nghĩ là có người quản lư ?

- Tức là Bí-sô khởi ư niệm như thế này: Vật này là của người khác, hoặc nam, hoặc nữ v.v... quản lư. Khởi ư tưởng là vật của người khác. Ngoài ra, như trước đă nói.

* Lại có bốn duyên, Bí-sô đối với vật trọng của người khác, không cho mà lấy, phạm Ba-la-thị-ca.

- Nghĩa là vật do người khác quản lư, khởi ư tưởng là vật của người khác, là trọng vật, rời khỏi chỗ củ, Bí-sô phạm Ba-la-thị-ca. 

* Lại có bốn duyên, Bí-sô đối với trọng vật của người khác, không cho mà lấy, phạm Ba-la-thị-ca.

Thế nào là bốn ?

- Tức là tâm lấy trộm, khởi phương tiện, là trọng vật, rời khỏi chỗ củ, ngoài ra như trên đă nói.

* Lại có bốn duyên, Bí-sô đối với vật của người khác, không cho mà lấy, phạm Ba-la-thị-ca.

Thế nào là bốn:

- Người khác bảo hộ, khởi ư tưởng là thuộc của ḿnh, là trọng vật, đưa ra khỏi chỗ.

Thế nào là người khác bảo hộ ?

- Như người có trọng vật đựng trong vật ǵ đó, hoặc tự ḿnh thủ hộ, hoặc khiến bốn loại binh mă cùng ḿnh pḥng hộ.

Thế nào là khởi ư tưởng là thuộc của ḿnh ?

- Người có trọng vật để trong rương tủ, khởi ư tưởng là của ḿnh, và nói: Đây là vật của ta. Ngoài ra như trên đă nói.

* Lại có bốn duyên, Bí-sô đối với trọng vật của người khác,  không cho mà lấy, phạm Ba-la-thị-ca.

- Nghĩa là có người thủ hộ không có ư tưởng thuộc về của ḿnh, hoặc không có người thủ hộ có ư tưởng thuộc về của ḿnh, trọng vật rời khỏi chỗ.

Thế nào là thủ hộ không có ư tưởng thuộc về của ḿnh ?

- Như có kẻ trộm, giặc, phá các thành ấp, chạy, giấu, trốn trong rừng; khi ấy người giữ xóm làng đoạt lại được vật kia, gom lại một chỗ, để bảo vệ, mà khi nghĩ vật ấy là của ḿnh.

Thế nào là không thủ hộ có ư tưởng thuộc về của ḿnh ?

- Như có trọng vật để ở trong rương không có người hoặc ngựa, b́nh tướng... Thủ hộ, có ư tưởng thuộc về của ḿnh không cho mà lấy, trọng vật rời chỗ, phạm tội đồng như trước.

* Lại có năm duyên, Bí-sô đối với vật của người khác, không cho mà lấy, phạm Ba-la-thị-ca.

Những ǵ là năm ?

- Chẳng tưởng vật của ḿnh, chẳng tưởng của thân hữu, chẳng tưởng dùng tạm, khi lấy không nói với người, với tâm trộm cắp, phạm Ba-la-thị-ca.

* Lại có năm duyên, Bí-sô không phạm.

Năm duyên là ǵ ?

- Có khởi ư nghĩ là của ḿnh, tưởng của thân hữu, tưởng tạm dùng, khi lấy nói với người, không có tâm trộm, th́ không phạm.

 

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA

QUYỂN 2- (hết)