TAM TẠNG PHÁP SƯ NGHĨA
TỊNH PHỤNG CHẾ DỊCH
·
Học xứ thứ năm, phần hai:
Đến Ni không phải bà con xin y…
Lúc bấy giờ, Bạc-già-phạm, do
Bí-sô Tiểu Quân cho nên quán sát sở thích của các Bí-sô thích
chủng, nói vi diệu pháp đáp ứng nhu cầu theo
căn tánh sai khác của họ, khiến cho năm trăm
Bí-sô thích chủng, liền từ chỗ ngồi tự
chứng viên măn, phá hết chướng ngại bởi vô
minh, đoạn hết hoặc trong ba cơi, đắc
A-la-hán, thành tựu tam minh, lục thông, tám giải thoát,
đắc như thật trí, kiếp sanh đă hết,
phạm hạnh đă lập, việc cần đă làm xong,
không thọ thân sau. Tâm không chướng ngại, như tay
nắm hư không, như dao cắt mùi thơm, ái tắng
không khởi, xem vàng cùng đất giống nhau không khác,
đối với tất cả danh lợi, không một
thứ ǵ không vất bỏ, Thích, Phạm Chư thiên
thảy đều cung kính.
Vấn đề trên
dẫn đến các Bí-sô đều sanh nghi niệm,
bạch đức Phật rằng:
- Bạch đức
Thế Tôn! Đây là điều hy hữu, v́ sao do Bí-sô
Tiểu Quân mà khiến năm trăm Bí-sô thích chủng xa
ĺa ḷng tham cầu, sống theo hạnh thiểu dục,
đặng quả thù thắng, vượt qua biển sanh
tử, lên bờ Niết-bàn, cuối cùng trụ nơi
chỗ an ẩn ?
Đức Thế tôn
bảo rằng:
- Này, các Bí-sô! Hiện
nay, Ta ĺa dục, sân, si, không ái, không thủ, đối
với các ngă mạn thảy đều trừ bỏ, thoát
khỏi các hữu chi, đặng Nhất thế chủng
trí, chứng vô thượng giác, do Tiểu Quân cho nên tán thán
thiểu dục, khiến năm trăm thích chủng ra
khỏi biển sanh tử, chứng đại Niết-bàn.
Đây chưa phải là điều hy hữu. Này các Bí-sô!
Như xưa kia, Ta đầy đủ các dục, sân, si,
có ái, có thủ, đối với các ngă mạn, sanh, lăo,
bệnh tử, ưu, bi, khổ năo đều không trừ
bỏ, luân hồi, hữu chi, chưa được
giải thoát, chẳng phải Nhất thế trí, cũng do
Ta v́ Tiểu Quân tán thán thiếu dục, quở trách đa
tham, khiến năm trăm người này đặng
ngũ thông cụ túc. Nhân duyên đây quư vị nên lắng
nghe:
- Thuở đời
quá khứ, nước Bà-la-nê-tư có vua tên là
Phạm-ma-đạt-đa là vị Đại pháp
vương. Thuở ấy phong túc an vui, nhơn vật xí
thạnh, không có đấu chiến, can qua chinh phạt,
không có tà ngụy ác nhơn quấy phá, không có tai quạnh và
các bệnh khổ. Lúa, mía, trâu dê trong xứ này sung túc.
Mọi người xem nhau như con một nhà. Vương
phu tên là Diệu Phạm. Trong thành này có một cái ao lớn
cũng tên là Diệu Phạm. Nhà vua không có con. V́ mục
đích cầu con nên tất cả các miễu thần trong
nước và đồng sanh thiên đều
được van vái, hy vọng kẻ kế thừa,
người đời đều nói: “Do cách cầu
khẩn như vậy mà được con th́ điều
này trở thành hư vọng”. Nếu đúng sự
thật th́ mỗi người đều có hàng ngàn
đứa con như Chuyển luân vương. Việc
ấy đă không xảy ra, cho nên biết là hư vọng.
Thật tế, vấn đề có con phải hội
đủ ba yếu tố: Một là cha mẹ có nhiễm
tâm; hai là bà mẹ hợp thời kỳ có thai nghén; ba là thân
trung ấm cần thọ sanh có mặt. Hội đủ
ba yếu tố trên mới có thọ thai hoặc trai hoặc
gái. Nhà vua hằng ngày sống trong sự mong cầu có con.
Vào thời gian nọ, có một
hữu t́nh đối với vô thượng
Bồ-đề thệ nguyện tu chứng, từ
địa ngục đến thác sanh vào thai của
Diệu Phạm phu nhân. Hạng nữ nhơn trí tuệ có
năm biệt trí (nói đầy đủ như
trước). Khi vương phi biết ḿnh có thai, ḷng sanh
vui sướng, liền thưa với nhà vua:
- Đại
vương nên biết, em đă có mang. Chắc chắn ngôi
vị kế thừa của Đại vương sẽ
được quang hiển v́ thai của em nó nằm bên hông
phía hữu. Theo hiện tượng này th́ sanh con trai là
điều không ǵ nghi ngại.
Nhà vua nghe rồi
rất đổi vui mừng (nói đầy đủ
như trước). Thời gian mang thai lúc nào bà cũng
được chăm sóc thích đáng đầy thoải
mái vui vẻ.
Khi ấy, đại
Phu nhân khởi ư nghĩ: “Lành thay! Tôi muốn nơi thành
cửa Đông rộng làm các phước thí. Cũng
vậy nơi cửa
Sau đó, Phu nhân
lại nghĩ: “Nay ta muốn đến nơi suối
rừng Hoa Uyển để du ngoạn . Nhà vua cùng
đưa Phu nhân đi ngoạn cảnh măn nguyện bà
lại nghỉ ngơi, lại sanh ư nghĩ: “Nay ta muốn
đến trong ao Diệu Phạm, khắp nơi này
đầy hoa lạ. Ta du ngoạn bằng thuyền cùng các
thể nữ”. Phu nhân tŕnh vua biết việc này, nhà vua
liền ra lệnh làm thuyền nhỏ và nhẹ để
sẵn nơi ao. Vua bảo phu nhân cùng các thể nữ
ngồi trên thuyền du ngoạn. Trong chuyến du ngoạn
này, trên thuyền, Phu nhân hạ sanh một nam tử. Hài nhi
có được trí túc mạng, và nhan mạo đoan chánh,
ai nấy đều hoan hỷ, thân sắc như vàng (nói
đầy đủ như trước). Cho đến
câu: Hài nhi này nên đặt tên ǵ ?
Các thân thuộc
nghĩ bàn:
- Hài nhi này khi sanh trên
nước, dựa vào hiện tượng này nên
đặt tên là “Thủy sanh”.
Sau đó, nhà vua đem
Thái tử giao cho tám bà mẹ để nuôi nấng (nói
rộng như trước) cho đến câu: Như hoa sen
lên khỏi nước. Bấy giờ Thái tử Thủy
Sanh đă được khôn lớn trưởng thành,
chợt có được suy nghĩ: “Ta từ cơi nào đă
chết, từng tương hợp với các nơi
tối tăm nào và đă tạo nghiệp ǵ ? Xưa kia ta
ở trong loài người sáu mươi năm đă
từng làm Thái tử. Do làm các điều ác nên đọa
vài địa ngục, nay ở trong nhơn đạo sanh
vào nhà vua. Đây không phải là chỗ thiện. Nếu
được làm vua lại đọa vào địa
ngục”. Do vậy, đối hiện phương
tiện, thân không đứng dậy được, chân tay
co quắp lại.
Ngày Thái tử Thủy
Sanh hạ sanh, có năm trăm vị Đại thần
cũng đều sanh con. Mỗi vị đều y theo
hiện tượng riêng của đứa con ḿnh mà
đặt tên. Tất cả đồng niên cùng một
tuổi có thể ra vào nơi chỗ ở của Thái
tử. Đại thần đều thường
đến chỗ nhà vua. Các đồng tử
được nhà vua ra lệnh vui vẻ đùa giỡn
cùng nhau nhảy nhót. Nhà vua trông thấy, liền nghĩ:
“Thủy sanh Thái tử nếu không bị tật cũng có
thể cùng vời đồng tử nhảy nhót”. Nay, Thái
tử của ta tuy chân bị tật nhưng cũng
lập lên ngôi vua. Khi ấy Thủy sanh nghe câu nói ấy bèn
nghĩ: “Vua cha vô cớ, trong cái thấy khổ đau c̣n
cưỡng bức ban ân: nay, ta lại nên “câm” không nói
thử xem sao”.
Sau một thời
gian, năm trăm đồng tử dần dần
biết nói, đến chỗ nhà vua, nhà vua lại nghĩ:
“Thái tử của ta nếu không câm cũng có thể nói được”.
Trước đây
đặt tên là Thủy sanh Thái tử. Nay đă què lại
câm nên gọi là “Thái tử câm què”. Tên Thủy Sanh của
Thái tử mọi người đều không kêu nữa.
Nhà vua chống tay nơi cằm thở than suốt ngày.
- Tại sao
đại vương chống tay nơi cằm, tựa
hồ như ḷng gánh lấy sự sầu năo ?!
Vua bảo:
- Làm sao Trẫm không
sầu ưu được ?! Trẫm làm vua giàu sang phú quư
đến tột cùng, xong người kế thừa
xứng đáng lại không, dù nam hay nữ. Tuy có một
người con thân lại tàn
phế câm què!
Trước một
đời đau khổ này, các Đại thần mỗi
người mời một thầy thuốc, đến
cùng hội chẩn, xem Thái tử mắc bệnh ǵ ? Sau khi
các lương y hội chẩn, không thấy Thái tử
mắc bệnh ǵ. Họ tâu với vua:
- Tâu Đại
vương! Chúng tôi hội chẩn kỹ, không thấy Thái
tử có bệnh trạng chi cả, các căn đều
tốt. Trường hợp này sợ có điều ǵ có
thể làm cho Thái tử ưu sầu hoản sợ nên Thái
tử không chịu nói.
Sau khi vua Phạn
Thọ nghe thầy thuốc nói thế vua bèn thiếc
lập phương tiện muốn cho Thái tử nói và
đi. Nhà vua bèn kêu người cầm đầu của
cơ quan hành sát đến nơi chỗ vắng dặn
riêng rằng:
- Trước mọi
người, ta sẽ hạ lệnh cho ngươi đem
Thái tử câm què của ta hành sát. Ngươi đưa Thái
tử đi nhưng đừng giết liền.
Người hành sát
tâu:
- Kính cẩn thần
nhận lệnh vua.
Trước mọi
người nhà vua đem Thái tử giao cho người hành
sát và ra lệnh y pháp đem đi giết. Ngay lúc ấy,
người thi hành bồng Thái tử đặt lên xe báu.
Chở ra ngoài thành
đến chỗ hành sát. Nhân lúc này, Thái tử câm què ngó
quanh bốn phía trong thành, thấy sự sống phú
thạnh bèn phát lên lời nói: “Trong thành này có người
ở mà như hoang vắng”. Khi nghe câu nói ấy
người thừa hành liền đem Thái tử giao
lại cho nhà vua và tâu:
- Tâu Đại
vương! Thái tử nói như vậy.
Nhà vua liền bồng
Thái tử câm què vào ḷng và nói:
- Ai là người
cừu địch của con, cha sẽ thanh toán liền; ai
là bạn của con, cha sẽ ân sũng họ.
Lúc nghe vua cha nói như
vậy, Thái tử vẫn câm ngay, không trả lời.
Thế rồi, nhà vua lại ra lệnh cho phần hành, hành
sát đem giết. Phần hành phụng mệnh đem Thái
tử đi như lần trước. Lần này Thái
tử thấy thây một người chết đặt
lên xe bốn người đẩy đi, Thái tử phát
lời rằng: “Đây v́ sự chết mà lại chết
hay v́ sự sống mà chết ?!” Nghe vậy người
thi hành liền vội quay trở về giao Thái tử cho
nhà vua. Nhà vua cũng như lần trước, bồng Thái
tử để vào ḷng, tuần tự hỏi… Thái tử
vẫn giữ thái độ câm, không đối đáp. Nhà
vua lại ra lệnh phần hành đem giết gấp.
Trên đường
đi ra khỏi Vương thành, nhân lúc thấy
đống lúa lớn Thái tử nói: “Với trước
kia không ăn gốc rễ, nên có đống lúa lớn
này”. Phần hành nghe, vội đem Thái tử trở về
giao cho nhà vua. Cũng như trước, nhà vua tuần
tự hỏi… Thái tử cũng lại câm. Lần này nhà
vua bảo đem vào rừng thây chết đào hầm chôn
sống. Phần hành phụng mệnh đem đi.
Đến nơi Thâm-ma-xá-na đào hầm xong, Thái tử
nói kệ:
Ngự
xa, người nghĩ sao!
Nơi
đây gấp đào hầm ?
Ta
nghe nên vội đáp
Hầm
đào để làm ǵ ?!
Kẻ đào hầm trả lời:
Đại
vương sanh con một
Miệng
câm không đi đứng.
V́
vậy bảo đào hầm.
Chôn
sâu con vô ích!
Bấy giờ, Thái tử câm què khởi lên
ư nghĩ: “Người hành sát này, ḷng ôm sự thảm
độc, tay cầm kiếm bén, chỉ muốn giết
người, chấm dứt mạng căn người
khác lấy đó làm nghề sống. Khẻ rùng ḿnh với
suy nghĩ họ có thể sẽ vất bỏ ta
dưới hầm sâu”. Nghĩ như vậy rồi, bèn nói
với người hành sát:
- Nếu Phụ vương ta, đáp
ứng nguyện vọng của ta, miệng ta sẽ nói và
đi bộ về lại
thành.
Người hành sát,
ḷng phấn khởi với sự hy hữu này liền phi
báo sự việc với nhà vua. Nhà vua nói:
- Nếu Thái tử
cần vương vị ta sẽ trao ngay, huống là
nguyện vọng khác mà ta không đáp ứng.
Thế rồi,
Đại vương rất đổi vui mừng,
bảo quần thần rằng:
-
Quốc
chủ nói nên lời
Hay
các vị chứng định
Theo
ư việc đều thành.
Khi ấy, chư
thần vâng lệnh của vua trang nghiêm thành quách khắp
nơi đều xinh đẹp lộng lẫy. Bỗng
chốc, trăm ngàn vô lượng nhân dân tụ họp trên
các nẻo đường, trông đợi mong
được nh́n thấy Thái tử đi bộ về
thành ấp.
Ngay thời
điểm ấy, Thái tử câm què đi bộ về
lại thành, đến ngay chỗ Đại vương,
kính lễ dưới chân Phụ vương nói kệ:
Đại vương nay nên biết
Con không phải câm, què
Cũng chẳng phải ngu khờ
Sợ khổ nên phải vậy.
Con có chân đi được
Sợ vào ác đạo khổ
Cho nên làm như vậy.
Nhà vua nói:
- Này đứa con quư
mến! Nếu sự thật là như vậy, tại sao
con không nó?! Tại sao con không đi ?! Con nói sợ, chủ ư
của con là sợ cái ǵ ?!
Thái tử thưa:
Xin vua cha
nghe cho
Con
nói duyên cớ này:
Thuở
đời trước của con
Từng
trải sáu chục năm
Được
làm vương Thái tử
Thọ
đủ năm dục lạc
Do
vậy sáu ngàn năm
Chịu
khổ năo vô ngần
Không
thể nào nói được
Nghiệp
hết mới ra khỏi
Lại
được làm thân người
Con
nhớ việc như vậy,
Sợ
đọa vào địa ngục
Nguyện
quyết không làm vua
Cho
con vào rừng cấm.
Nhà vua nói:
- Này đứa con quư
mến, vốn cha đă cầu khẩn, tu các thắng
hạnh, lập các thí hội cúng dường Tiên nhơn,
cầu mong được sanh con để kế thừa
vương vị, tại sao nay con lại bỏ đi
xuất gia?! Thái tử thưa:
Con
không cầu sung sướng.
Oán
trách do dục sanh.
Nguyện
tu chơn phạm hạnh.
Mới
hay dệt oán thù.
Con
không cầu sung sướng
Dục
như là trái độc
Nguyện
tu chơn phạm hạnh
Thường
hưởng thuốc
Nhà
vua nói:
Thế
gian ưa thích nhất
Ngôi
vua là hơn hết
Sao
con với hiện tại
Ly
tục, cầu bỏ đi?!
Thái
tử nói:
Chung cuộc càng thêm khổ
Đây không gọi là vui
Cốt cầu nơi chơn lạc
Khiến khổ mới không c̣n
Xin Phụ vương cho con
Bỏ tục đến với rừng.
Nhà vua nói:
Này đứa con quư mến!
Nay thân của con ở nơi lầu các, hương hoa ngào
ngạt, nệm giường nhung hoa, ngủ nghỉ êm
đềm, âm thanh sáo trúc đủ làm cho sự
thưởng ngoạn thú vị, y phục thượng
diệu, ăn mặc thích nghi, cam mỹ hào soạn, tùy ư
thọ hưởng. Nếu con xuất gia, gởi thân
nơi chốn sơn lâm, nằn ngủ trên lá khô, hổ
lang, sư tử kêu rống kinh hoàng, áo bằng vỏ cây,
ăn bằng củ trái, uống nước lă đục
ngàu. Tại sao con lại buông bỏ sự vinh quang cao
đẹp một cách tôn quư để ở trong rừng
hoang đầy khổ sở này?!
Thái tử nói:
Thà ở
rừng rú, áo vỏ cây
Ở cùng lang
hổ ăn gốc, trái
Không làm vua
để mà sát phạt
Cho đời
sau quả thiện không c̣n
Núi rừng
ẩn, xin vua cho phép
Đường
Niết-bàn ư tưởng cần tu
Nhà vua
nói:
Này,
đứa con yêu quư! Trước hết con đoạn ba
điều nghi cho cha, sau đó, việc xin xuất gia
của con chưa phải là điều khó. Tại sao con
thấy sự sống phú thạnh ở trong thành, con
lại nói: “Ở trong thành này có người ở mà như
hoang vắng”. Câu nói ấy với mật ư của con
như thế nào?
Thái
tử nói:
- Đại vương nên
nghe con nói đây: Vô cớ mà vua hạ lệnh sai
người giết con. Trong khi đó, không một
người nào nói được lên tiếng nói của
lẽ phải là: tại sao nhà vua lại hạ lệnh
giết Thái tử này ? Do vậy, con mới nói câu nói
ấy.
Nhà vua
nghe xong, liền nói:
- Thiện tai! (hay lắm!).
Lần thứ hai, tại sao con thấy khiêng người
chết, con lại nói: Đây là chết mà lại chết
hay sống mà lại chết? Mật ư của con trong câu nói
ấy là thế nào ?
Thái
tử thưa:
- Đại vương nghe
con nói đây: nếu có người tự làm ác hành
để rồi thân phải chết tức là chết mà
lại chết. Nếu có người tự làm thiện
hành mà thân phải chết tức là tuy chết mà sống
măi. Con dựa vào ư này nên nói lời nói ấy.
Phụ
vương nghe xong rồi liền nói:
- Câu này
cũng hay lắm!! Lần thứ ba, con thấy một
đống lúa lớn con lại nói: Đống lúa lớn
này nếu trước không ăn gốc rễ. Với
ngụ ư thế nào, con nói câu nói ấy ?
Thái
tử thưa:
-
Đại vương khéo nghe: người nông dân kia
đến người khác mượn tiền
trước để về làm ruộng. Đến mùa lúa
chín gặt thành một đống lúa lớn nhưng
người chủ nợ đến chở hết hơn
phân nửa. Nếu trước không mượn tiền th́
c̣n nguyên một đống lúa lớn. Loài người
cũng vậy: do hành thập thiện mới
được thân người. Nếu lại tạo ác,
không tu thiện nghiệp, căn lành đời
trước liền bèn tiêu tan. Căn lành mất cho nên
mất con đường lành. Ngược lại th́ không
bị mất mát. Con dựa vào ư này nên nói lời đó.
Nhà vua
nghe xong, tỏ nổi hân hoan: câu này lại hay hơn
nhiều! Lúc ấy, nhà vua liền ôm Thái tử nghẹn ngào
chảy nước mắt, nói:
- Ư chí con
đă quyết định không thể thay đổi, nay
tùy ư con tu hành thiện nghiệp. Sau này cha cũng theo con
đến rừng xanh!
Bấy
giờ, vua Phạm thọ ra lệnh hỏi chư
thần:
- Nếu
Thái tử ta không xuất gia th́ Thái tử sẽ là
người như thế nào?
- Thái
tử sẽ là vị quốc vương.
Nhà vua
hỏi tiếp:
- Khi
ấy các khanh sẽ là người ǵ ?
- Chúng tôi
sẽ là đoàn tùy tùng.
Nhà vua
lại hỏi:
- Nay, Thái
tử đă xuất gia, tại sao các con của các khanh
không tùy tùng ?
- Chúng tôi
kính cẩn vâng lệnh Đại vương khiến con cái
xuất gia theo Thái tử.
Cách thành
không xa có một tịnh xứ, nơi đó có Ngũ thông
Tiên nhơn, bẩm tánh từ bi, thương xót tất
cả. Thời ấy, Thái tử cùng với năm trăm
người ra khỏi thành Ba-la-nê-tư, đến chỗ
Tiên nhơn cần cầu xuất gia. Vị Tiên nhơn
đáp ứng sở nguyện. Sau khi chấp thuận cho
xuất gia, dạy các pháp yếu chẳng bao lâu Thái tử
chứng đặng Ngủ thông. Sau đó, Tiên nhơn qua
đời, Thái tử y theo phép làm lễ hỏa táng tử
thi. Sau đó, Thái tử câm què, đối với năm
trăm người tùy tùng kia trực tiếp chịu trách
nhiệm giáo huấn. Thế rồi, Thái tử câm què
được người đời gọi là
“người ẩn” và biệt hiệu thường
gọi là “Đại sư câm què” như để
đề cao.
Lúc
ấy, Đại sư câm què bèn khởi ư nghĩ: “Tại
sao năm trăm người đệ tử không
chứng đặng Ngũ thông ? Đâu không phải do họ
chứa nhiều áo da nai, áo da cây và ôm đồm quá
nhiều dụng cụ tế tự, khí vật
đựng nước, đầy dẩy rau trái, hoa
quả để tự cung phụng ḿnh, đem lại
sự mệt nhọc cho cơ thể nên Ngũ thông khó
chứng được. Nếu ta quở trách trị
phạt họ th́ năm trăm người này khó khai
giải (tiếp thu). Ta nên hướng dẫn họ phép tu
vô thượng Bồ-đề-tát-đỏa là
điều khéo léo để hóa độ họ”.
Sau
đó, Đại sư bảo các Ma-nộp-bạc-ca
rằng:
Này quư
vị nên biết: Tôi muốn trong ba tháng hạ này, sống
trong nếp sống im lặng, đừng để
một người nào tự tiện đến gặp
tôi, chỉ trừ một người đem gốc và trái
cây đến, và ngày thứ mười bốn trong tháng lúc
Trưởng tịnh.
Các đệ tử thọ
lời dạy của vị Đại sư, Cùng nhau
lập quy chế: “Trong ba tháng không được
người nào được tự tiện gặp Đại
sư chỉ trừ người đem trái cây và ngày
Trưởng tịnh. Nếu vị nào trái phạm chúng ta
khiến họ tác Ba-dật-để-ca tội thuyết
hối”. Vị Đại sư trong ba tháng, hoàn toàn
sống trong im lặng yên tỉnh, không một người
nào được vào yết kiến, trừ người
mang thức ăn và ngày Trưởng tịnh.
Lúc bấy giờ,
Đại sư ở trong trú xứ, thấy một con
chim bay, liền nói:
-
Thiện lai, phi điểu! (Lành thay con chim bay!). Nay, tôi cùng
với người có chỗ làm giống nhau. Ngươi
t́m thức ăn chỉ đủ no bụng, để cho
ư niệm tri túc sanh khởi c̣n tôi vừa nhận vật thực
vừa đủ no ḷng, để ḷng luôn luôn biết
đủ.
Kế đó,
Đại sư thấy một con nai, liền nói:
- Thiện lai, dă
lộc! (Lành thay, con nai rừng!). Nay, tôi cùng người có
chỗ làm giống nhau. Ngươi t́m thức ăn,
chỉ đủ no ḷng, để ư niệm tri túc sanh khởi
c̣n tôi nhận vật thực vừa đủ no bụng,
để hun đúc điều biết đủ trong ḷng.
Các đệ tử
khi nghe Đại sư của ḿnh nói chuyện cùng chim và
nai, đều khởi ư nghĩ: “Đâu chẳng phải
Đại sư của ta đă tự hủy bỏ nếp
sống im lặng yên tịnh. Do vậy, đều
đến chỗ Đại sư kính lễ, cùng ngồi”.
Vị Đại sư im lặng không nói một lời.
Các đệ tử lại sanh ư nghĩ: “Đâu chẳng
phải Đại sư của ta nói chuyện với Bàng
sanh chứ không nói với người, liền bèn bỏ
đi”.
Sau đó, có một
người con của Bà-La-Môn tên là Năng Thí, t́nh cờ
đến trú sứ này Đại sư Tiên nhơn từ
xa thấy, gọi:
- Năng Thí! Nay, tôi
cùng với người có chỗ thực hiện giống
nhau. Người chỉ thọ tŕ một chiếc áo da nai,
một vật dụng để cúng tế; tôi cũng
đồng như vậy. Người t́m thức ăn
cũng chỉ no bụng, liền ư thức tri túc sanh
khởi, c̣n tôi nhận vật thực cũng chỉ
đủ no ḷng, hum đúc điều biết đủ
vào ḷng. Không giống như chúng ta ở điểm này, có
các loài khác lại chứa nhiều áo, lưu trữ tạp
vật, nhẫy đầy rau trái, vất vă mệt mỏi
để t́m cầu!
Khi ấy, các
đệ tử nghe Đại sư nói như trên,
đều sanh ư nghĩ này: “Nay, Đại sư của ta
khen ngợi kẻ thiểu dục, chê bai người
đa cầu. Dựa theo ư thú này th́ chính do ḷng đa tham mà
chúng ta bị Đại sư xua đuổi chăng! Chúng
ta nên đối với những áo da, tạp vật dư,
coi đó như bệnh tật, như tên độc,
như ung thư, vất bỏ nó xuống sông. Chúng ta
chỉ nên mặc một áo, tạp vật mỗi thứ
một cái mà thôi”. Cả chúng đều đồng t́nh theo
ư kiến đó, đem tất cả vật dụng dư,
vất xuống sông, chỉ c̣n mỗi thứ một cái tùy
thân, rồi cùng đến chỗ Đại sư.
Đại sư quán căn cơ mà nói pháp, tất cả đều
được chứng Ngũ thông.
Lúc bấy giờ,
đức Thế Tôn bảo các Bí-sô:
- Quư Bí-sô chớ có sanh
ư nghĩ nào khác, Ngũ thông Tiên nhơn câm què lúc ấy chính
là thân ta vậy. Ta đem hạnh Bồ tát để giáo
hóa loài hữu t́nh. Năm trăm người đệ
tử lúc ấy là năm trăm Bí-sô ḍng họ Thích
vậy. Năng Thí lúc ấy là Tiểu Quân. Xưa kia Ta do
năng Thí nên khiến năm trăm người xa ĺa ḷng
tham nhiều, tu hạnh thiểu dục, chứng đặng
Ngũ thông; nay, do Tiểu Quân nên khiến năm trăm
Bí-sô thích chủng buông bỏ ḷng tham cầu, tuân hành
hạnh tri túc, đầy đủ Lục thông, thành
A-la-hán, cứu cánh an trụ trong thành tịch diệt.
Các ông nên biết:
- Tạo nghiệp hoàn
toàn đen đặng quả dị thục hoàn toàn đen,
tạo nghiệp hoàn toàn trắng đặng quả dị
thục hoàn toàn trắng, tạo nghiệp tạp th́
đặng quả dị thục tạp. Vậy các ông nên
bỏ cái nghiệp hoàn toàn đen và cái nghiệp tạp, nên
siêng năng tu cái nghiệp hoàn toàn trắng. Quán sát nhơn
duyên này các ông tu học. Đây là duyên khởi, xong Thế
Tôn Phật chưa từng cùng Bí-sô chế Hoạc xứ
này.
Lúc bấy giờ,
đức Phật ở thành Thất-la-phạt, nơi
rừng Thệ-đa, vườn ông Cấp-cô-độc,
Ngài chưa cấm Bí-sô-ni trụ nơi A-lan-nhă. Khi ấy,
chư Ni đến trong rừng vắng, tu tập tịnh
lự, thọ vui trong thắng định. Vào thời gian
nọ, Bí-sô-ni Liên Hoa Sắc cùng với năm trăm
đồ chúng cùng đến trong rừng tối;
dưới gốc cây, ngồi Bán-già nhập diệt
tận định. Đến xế chiều, các vị Ni
khác đều muốn trở về lại thành Thất-la-phạt
nên có vị đề nghị: “Chúng ta nên gọi Thánh
giả Liên Hoa Sắc xuất định để cùng
đi”. Có vị lại nói: Thánh giả đủ
đại oai thần. Nếu cần Thánh giả có thể
về chùa trước chúng ta. Do vậy không kêu mà mỗi
người tự trở về Thất-la-phạt. Măi
đến chiều tối, Liên Hoa Sắc mới xuất
định, nh́n khắp, biết chư Ni đă đi
hết, bèn khởi nghĩ: “Ta nên vào thành hay nên ở
lại đây”. Quyết định ở lại, Thánh
giả liền nhập định.
Đêm đến, có
bọn giặc cướp gồm năm trăm
người, hành nghề xong, đến bên cạnh
rừng này, cùng nhau nghị bàn: “Phân nửa số
người chia của vừa cướp trộm
được, phân nửa số người canh pḥng”.
Toán canh pḥng vào rừng họ bắt gặp cô Ni nhập
định, có người nói là gốc cây, có người
nói là người, có người nói đây là Bí-sô. Trong
bọn giặc có một vị tu xuất, nói:
- Đây là Bí-sô-ni,
chứ không phải Bí-sô.
Đồng bọn
hỏi:
- Tại sao biết?
Người ấy
bảo:
- Bí-sô th́ ngồi toàn
già, Ni th́ ngồi bán già. Vị này ngồi bán già cho nên
biết rơ là Ni.
Khi ấy, bọn
giặc khởi ư nghĩ hiếm có: chúng ta nên biết: trong
rừng rất tối tăm này là nơi đáng sợ,
một Bí-sô-ni có thể ở đêm tại đây là điều
hy hữu!
Thế rồi, họ
đến chỗ tướng quân của bọn chúng,
tướng quân hỏi:
- Các vị ở trong
rừng có thấy điều ǵ kỳ lạ chăng?
Đồng bọn
giặc trả lời:
- Có thấy. Trong
rừng tối tăm đáng sợ này mà có một cô Ni
ở đêm trong đó.
Tướng quân
của chúng nghe rồi liền bảo người pḥng
thủ rằng:
- Ta muốn
đến xem vậy.
Tướng quân
thấy Bí-sô-ni nhan dung đoan chánh, ai cũng muốn
ngắm nh́n, oai nghi tịch định, trông thấy
đều thâm kính. Tướng quân khâm khen: “Trong rừng
này có hai điều khả ái: một là ánh trăng
đẹp, hai là nhan sắc rực rỡ của Bí-sô-ni”.
Tướng quân bảo thức tỉnh cô Ni dậy
để tướng quân dâng cúng thức ăn.
Người tu
xuất trong bọn giặc nói:
- Vị này không ăn
phi thời.
Tướng quân nói:
- Bí-sô-ni trong rừng
này có hai điều khả ái: “một là dung nghi đoan
chánh, hai là không ăn phi thời”.
Tướng quân nói:
- Mời vị Ni
uống rượu.
Người tu
xuất nói:
- Vị này không
uống rượu.
Tướng quân nói:
- Trong rừng này có hai
thứ khả ái: một là dung nhan đoan chánh của
Bí-sô-ni, hai là cô Ni không uống rượu.
Tướng quân
lại nói:
- Nay ta may mắn
được gặp vị thượng phước
điền mà rốt cuộc không dâng cúng được
ǵ.
Do đó tướng
quân dùng chiếc áo Bạch điệp quư giá gói thức
ăn treo trên cây và nói: “Đúng như dung nghi tịch
định của thánh giả, không việc ǵ không hay, không
việc ǵ không biết, nay tôi đă để thức
ăn và y phục lại nơi đây, may mắn thay, Bí-sô-ni
sẽ từ bi thọ dụng”. Tướng quân nói như
vậy rồi liền để đó ra về.
Sáng ngày Liên Hoa Sắc
Ni mới xuất định, thấy nơi đây dấu
chân người đi rất đông. Cô vào định
lại, thấy và biết đó là dấu chân của
năm trăm bọn giặc, đến rồi đi. Cô
lại quán xem thân h́nh của chính ḿnh lúc ấy có hiện
điều ǵ xấu hổ chăng. Cô biết không có
điều ǵ tội lỗi xảy ra. Cô lại thấy
gói thức ăn treo trên cây, bèn khởi ư nghĩ: “Đây là
do tịnh tâm kính tín đem đến. Cô lại nghĩ:
nếu ta đợi có người nào đó trao thức
ăn th́ sợ cầm thú
đến hủy hoại người tịnh thí kia. Ta nên
đem thức ăn này dâng lên hiến cúng cho Tăng-già”.
Như đức
Phật dạy: “Nếu Ni rờ chạm vật (không
mời) là điều xấu (ác xúc) th́ đây là tịnh
của Bí-sô, c̣n Bí-sô ác xúc th́ đây là tịnh của Ni”. Do
thế cô liền từ tay cầm thức ăn đem
đến rừng Thệ-đa. Phép thường của
Luật chúng là lúc nào cũng có một hai vị đứng
ngoài cửa ngơ.
Ô-ba-nan-đà khi
đang đi kinh hành ở trước cửa ngơ, từ xa
thấy Bí-sô-ni đến, hỏi:
- Đại muội!
trời chưa sáng, cửa thành đă mở à ?
Cô Ni Liên Hoa trả
lời:
- Thưa Đại
đức! chẳng phải tôi ở đêm trong thành mà
từ rừng Tối đến.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Đại muội!
Ban ngày tôi vào trong rừng ấy, ḷng tôi đầy sự
sợ sệt, lông trong người tôi đều dựng
đứng lên. Tại sao Đại muội một ḿnh mà
ban đêm ở trong rừng ấy?! Đại muội
cầm cái ǵ nơi tay đó?
Bí-sô-ni Liên Hoa Sắc
đem tất cả sự việc tŕnh bày và nói:
- Đây là thức
ăn của bọn giặc với ḷng tịnh để
lại.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Đại muội!
Do oai nghi của cô mà bọn giặc sanh kính ái, mới
được vật thực này. Nếu họ gặp tôi
th́ họ sẽ cho gậy để gánh vật này đi.
Ô-ba-nan-đà nói tiếp: Đại muội! Nếu có
Bạch điệp mới tốt cho tôi may y Tăng-già-chi
hai lớp, sống trong nếp sống thiểu dục, tu
các thiện phẩm là điều tốt vậy.
Cô Ni nói:
- Thánh giả cần
chiếc y này chăng?
Ô-ba-nan-đà nói:
- Chắc là cô dư
dùng, cho th́ tôi xin nhận.
Bí-sô-ni nói:
- Xin Thánh giả
chịu phiền đợi, tôi mang thức ăn sáng
đem dâng cúng cho Tăng-già, rồi trở lại đây
đem y này dâng lên Thánh-giả.
Ô-ba-nan-đà khởi
lên ư nghĩ: “Nếu có vị “Hắc bát” nào đó thấy
vải này, chắc chắn là xin ngay ta lại hỏng
mất”, bèn nói:
- Đại muội
đứng đây, tôi sẽ kêu người ra nhận
thức ăn sáng đem vào.
Cô Ni chấp nhận ư
kiến đề nghị đó. Ô-ba-nan-đà liền vào
trong chùa thấy người nhận thức ăn (trị
nhật) rỗi răi đứng không, nói:
- Cụ thọ! Thí
chủ mang thức ăn đến vất vă hiện
đứng ngoài ngơ, Cụ thọ rănh nên ra nhận đem
vào.
Vị trị nhật
liền đi lấy đồ đựng rồi ra ngoài
ngơ để nhận vật cúng. Cô Ni Liên Hoa Sắc dâng
thức ăn xong, rủ sạch xấp Bạch điệp
rồi cúng cho Ô-ba-nan-đà. Nhận được y xong
Ô-ba-nan-đà hoan hỷ chú nguyện: “Cầu nguyện cho
người cúng y này tâm đẹp như anh lạc, v́ ḷng
giúp đỡ, định huệ được trang
nghiêm, đắc nhơn thiên đạo, thọ dụng
thắng diệu y phục theo ư muốn, cuối cùng
đến vô thượng an ẩn Niết-bàn”.
Ô-ba-nan-đà chú nguyện rồi liền bỏ đi.
Khi ấy, Bí-sô-ni Liên
Hoa Sắc khởi ư nghĩ: “Nay ta nên về bản xứ
kính lễ đức Thế Tôn”. Nghĩ xong, đến
chổ Đức Thế Tôn đảnh lễ chân Phật,
ngồi qua một bên. Hồi ấy, năm y Bí-sô-ni bị
rách nát. Đức Thế Tôn thấy vậy bèn bảo Tôn
giả A-nan-đà:
- Chúng Bí-sô-ni khi An
cư lợi dưỡng có đủ hay chăng ?
Tôn giả A-nan-đà bạch
Phật:
- Bạch Thế Tôn,
Ni chúng an cư lợi dưỡng đầy đủ.
Đức Thế Tôn
nghe xong hỏi:
- Tại sao Liên Hoa
Sắc Ni năm y bị rách nát ?
A-nan-đà thưa:
- Bạch đại
đức: Bí-sô-ni này ḷng tin vững chắc, ưa thích
thuần thiện, vật sở đắc đối
với Tam bảo đều hoan hỷ thí xả hiến
cúng. Cúng rồi t́m xin cái khác,
không thấy có ǵ trở ngại trong tư tưởng. Cô
Ni này vừa rồi, nhận được y Bạch
điệp quư giá cúng cho Tôn giả Ô-ba-nan-đà.
Đức Phật
bảo Tôn giả A-nan-đà:
- Bí-sô đối
với Ni không phải bà con nhận y hay chăng?
A-nan-đà thưa:
- Bí-sô ấy thọ
nhận.
Đức Phật
bảo A-nan-đà:
- Xong đối
với Bí-sô không phải bà con, không nên khởi ư niệm
đó. Bí-sô-ni này đủ năm y hay chăng ? nếu
họ có dư đem cúng th́ được nhận. Bí-sô
thân quyến th́ không như vậy. Thấy họ
thiếu thốn, không nên
nhận.
Lúc bấy giờ,
Đức Thế Tôn bảo A-nan-đà rằng:
- Số y chứa
cất trong pḥng, lấy năm y cho Bí-sô-ni Liên Hoa Sắc.
Tôn giả A-nan-đà
vâng lời dạy của đức Phật, lấy
năm y trong kho, trao cho Liên Hoa Sắc Bí-sô-ni.
Thế rồi,
Thế Tôn dùng nhơn duyên này tập hợp các Bí-sô (nói
đầy đủ như trên) cho đến câu:
đối với Tỳ-nại-da chế Học xứ này
như sau:
“Nếu lại có Bí-sô
đến Bí-sô-ni không phải bà con nhận y, Ni-tát-kỳ
Ba-dật-để-ca ”.
Đức Thế Tôn
v́ các Bí-sô chế Học xứ này rồi, tại thành
Thất-la-phạt có một Trưởng giả,
đại phú đa tài, thọ dụng đầy
đủ, của cải nhiều như Tỳ-sa-môn
vương. Trưởng giả cưới một
người con gái cùng họ làm vợ, ăn ở lâu
năm mà không có con, ḷng ôm ưu sầu lo lắng, suy
nghĩ: “Nhà ta nhiều của mà không có con nối ḍng, sau
khi ta chết, chỗ tư sản này nhà vua lấy cớ
không con mà tịch thu mất. C̣n đối với
đời sau ta cũng chưa tu tập phước
đức ǵ”. Trưởng giả cứ chống má than
dài theo sự sống.
Người vợ
thấy vậy, hỏi:
- Tại sao ưu
sầu, chống tay nơi má, thở than như vậy ?
Trưởng giả
bảo:
- Hiền thủ! Làm
sao tôi không buồn… (thuật lại đầy đủ
sự việc).
Người vợ
nói:
- Tu tập
phước đức để dành cho kiếp sau là
thế nào ?
Người chồng
nói:
- Hiền thủ! Dùng
thức ăn thịnh soạn cúng dường Phật,
Tăng; các Ngài thọ trai xong, dâng cúng mỗi vị một
cặp Bạch điệp thượng hạng. Như
vậy gọi là tu tập phước đức
để dành cho đời sau.
Người vợ
nghe rồi, liền nói:
- Như vậy,
tại sao chúng ta không làm?
Bấy giờ,
Trưởng giả đến chỗ đức Phật,
đănh lể dưới chân Phật rồi, ngồi qua
một bên. Đức Thế Tôn v́ Trưởng giả
diễn nói pháp mầu, chỉ vẽ những điều
lợi hại tội phước, Trưởng giả
mặc nhiên tiếp nhận . Nhân lúc ấy, Trưởng
giả từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa
áo, trống vai, chấp tay, bạch Phật:
- Kính thưa đức Thế Tôn,
cúi xin Ngài ai mẫn, con xin thỉnh Ngài và Bí-sô Tăng-già,
sáng mai đến nhà con thọ món cúng dường thiểu
mọn.
Đức Thế Tôn
chấp nhận bằng im lặng. Trưởng giả
biết đức Thế Tôn rủ ḷng thương
chấp nhận rồi kính lễ lui về.
Trong đêm đó,
Trưởng giả chuẩn bị đầy đủ
mọi thứ thịnh soạn. Sáng sớm, trần
thiết ṭa ngồi, an trí nước đầy
đủ, sai người đến thỉnh Phật và
Tăng đến thọ trai. Phần đầu của
ngày, đức Thế Tôn chấp y tŕ bát cùng chúng Bí-sô
đến nhà gia chủ. Đến chỗ thiết trai
nơi nhà Trưởng giả Phật và Tăng theo thứ
tự an tọa. Thấy Phật Tăng như pháp ngồi
vào chỗ ngồi rồi, Trưởng giả chính tay trao
dâng thức ăn thượng diệu và sự thọ
dụng cũng vừa đầy đủ.
Sau khi các Ngài rửa
tay dùng nước xong, Trưởng giả dâng cúng mỗi
vị một cặp Bạch điệp thượng
hạng. Tiếp theo, Trưởng giả lấy cái
ghế nhỏ, ngồi một bên trước đức
Phật để nghe diệu pháp. Đức Thế Tôn tùy
theo căn tánh chỉ vẽ điều lợi hại
tội phước, tuyên nói pháp mầu, tụng bài kệ
chú nguyện rồi, từ ṭa ngồi cáo lui. Trưởng
giả đưa chân Phật ra về, đi nhiễu ba
ṿng, đảnh lễ dưới chân Phật lui vào.
Từ nơi lầu
cao Trưởng giả tâm niệm tu các phước thí.
Trưởng giả báo cáo với người vợ
rằng:
- Này Hiền thủ!
Nàng nên vui mừng, tôi đă tu tập nhiều thiện
phước dành cho đời sau.
Người vợ
nói:
- Tuy Trưởng
giả đă làm mà em chưa được làm chi cả!
Trưởng giả
liền nói:
- Việc tu
phước đâu phải em không có chung trong này ?
Người vợ
nói:
- Tuy biết vậy,
xong em xin t́nh nguyện thỉnh Đại thế chúa và
Bí-sô-ni Tăng già, đến nhà thọ trai và dâng cúng
mỗi vị một cặp Bạch điệp
thượng hạng. Đây là phước đức dành
cho đời sau của em.
Trưởng giả
nghe xong, trả lời:
- Hay lắm! Hay
lắm! Tùy ư em cứ làm.
Thế rồi, vợ
của Trưởng giả bèn đến chỗ
Đại thế chúa Bí-sô-ni, đảnh lễ hai chân,
ngồi qua một bên, nghe diệu pháp rồi, từ
chỗ ngồi đứng dậy, bạch thánh giả và
Bí-sô-ni:
- Cúi xin quư vị
rủ ḷng thương, sáng mai đến nhà con thọ trai.
(nói đầy
đủ như trên) cho đến câu: Các Ngài rửa tay
xong, vợ Trưởng giả bèn đem chiếc
rương lớn, đựng đầy Bạch
điệp, đến trước ṭa, chính tay ḿnh khui ra.
Khi ấy, Đại thế chúa khởi ư nghĩ:
“Đức Thế Tôn chế giới không cho Bí-sô-ni
nhận y phục thượng diệu, nay, nếu ta
thọ tŕ trái với Học xứ, không thọ th́ trở
ngại vấn đề tu phước của thí chủ,
các Bí-sô-ni bị mất lợi dưỡng”.
Ny chúng đều nghĩ: Nếu
Đại thế chúa nhận y này là điều hay
lắm! Đại thế chúa biết tâm niệm của Ni
chúng như vậy, nên khởi ư nghĩ: Đức Thế
Tôn có thể nhân việc này cho thọ hảo y. Thế là
Đại thế chúa nhận tất cả y
được dâng cúng, v́ vợ Trưởng giả
đọc bài kệ chú nguyện rồi từ chỗ
ngồi lui về. Đại thế chúa đến chỗ
đức Thế Tôn, với oai nghi thường lệ,
đem tất cả sự việc tŕnh bày với
đức Thế Tôn.
Đức Phật
bảo Đại thế chúa rằng:
- Lành thay! Lành thay!
Như Lai chưa hứa khả mà người đă
biết thời, từ nay về sau cho phép Bí-sô-ni thọ y
quư giá. Nhận rồi đem đến đổi cho Bí-sô.
Đại thế chúa
vâng lời Phật dạy rồi, lễ túc, cáo lui. Về
lại trú sứ của Ni, Đại thế chúa phân chia
số thượng diệu y đó, và nói:
- Đức Thế
Tôn có dạy: Cho phép Bí-sô-ni nhận y quư giá rồi đem
đổi cho Bí-sô, lấy y thô tùy ư thọ dụng.
Sau khi, các Bí-sô-ni
nhận được y rồi, đến rừng
Thệ-đa để đổi cho các Bí-sô. Có chúng
mười hai Bí-sô-ni, đem y quư giá đến chỗ
Lục chúng, nói rằng:
- Kính thưa Thánh
giả, Thế Tôn có dạy: “Cho phép Ni nhận y quư giá
rồi đem đổi cho các Bí-sô”, xin Thánh giả
nhận hảo y này, đưa thô y cho tôi.
Lục chúng trả
lời:
- Các cô cúng cho chúng tôi,
chúng tôi c̣n chưa nhận, huống là đổi với
hạng người ngu muội vô thức, mất tự do
như các cô ư ?
C̣n các Ni chúng khác
mỗi người đem y nhận được
đến chỗ Bí-sô già, thuật lại câu chuyện và
xin được đổi y.
Vị Bí-sô già nói:
- Các cô đợi chút,
chờ tôi hỏi đức Phật đă.
Khi ấy, Bí-sô già
liền đến chỗ Phật, bạch:
- Bạch Đại
đức Thế Tôn! Có Bí-sô-ni đem hảo y tài
đến tôi, xin đổi y thô, không biết việc
ấy thế nào?
Đức Phật nói:
- Ta cấm Bí-sô đến Ni
nhận y, trừ đổi chác.
Khi đổi
được y, Bí-sô-ni vui mừng vô hạn. Lúc bấy
giờ, đức Thế Tôn khen ngợi người tŕ
giới thiểu dục tri túc, bảo các Bí-sô: Trước
đây là sáng chế, nay là tùy khai, nên thuyết giới
như sau:
“Nếu lại có Bí-sô
đến Bí-sô-ni không phải bà con nhận y, trừ
đổi chác, Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.
+ Nếu lại có
Bí-sô, là chỉ cho Ô-ba-nan-đà (ngoài ra, nghĩ như
trước). Có bảy loại y : (như trước
đă giải) trừ đổi chác tức là đổi
không phạm. Ny-tát-kỳ là pháp xả hối (như
trước đă giải)
Trong vấn đề
này, tướng tội như thế nào ?
Nếu Bí-sô
đối với Ni không phải bà con hay khởi ư
tưởng không phải bà con, hoặc sanh nghi mà
đến họ nhận y, phạm tội Xả
đọa.
Nếu Bí-sô
đối với Ni bà con, khởi tưởng chẳng
phải bà con, hoặc lại sanh nghi, phạm tội Ác tác.
Lại nữa, không
phạm: Nếu Bí-sô-ni đem y dâng cúng cho Tăng, hoặc
v́ nói pháp mà cúng, hoặc khi thọ Viên cụ mà cúng, hoặc
thấy bị giặc cướp nên cúng, hoặc là do mua
mà có, hoặc do hoán đổi mà được,
đều không phạm.
Bí-sô-ni được
nhiều người biết, nhận được
nhiều lợi dưỡng, đem y vật đến
trước Bí-sô để xuống đất, nói: Thưa
Thánh giả! Nay con nhận được y tài như
vậy, may mắn được Thánh giả từ bi
nạp thọ cho.
Ni nói như vậy
rồi để đó mà đi. Bí-sô nhận không phạm.
Lại, trường
hợp không phạm: Người phạm giới lần
đầu hoặc si cuồng tâm loạn thống năo
bức bách.
*Học xứ thứ 6: Đến cư
sĩ không phải bà con xin y.
Lúc bấy giờ, đức
Phật ở tại thành Thất-la-phạt, rừng
Thệ-đa, vườn ông Cấp-cô-độc. Trong thành
này có một Trưởng giả, cưới vợ
chưa bao lâu, nói với vợ rằng:
-Này Hiền thủ! Tôi
muốn mang hàng hóa đến xứ người giao
dịch để kinh cầu mong bảo tồn gia
nghiệp.
Người vợ bàn
với chồng:
-Lúc thiếu niên nên
thọ dục lạc, ngày già yếu mới nên cầu tài
lợi.
Người chồng
lại giải thích:
-Này Hiền thủ!
Lúc tuổi tráng niên đủ khả năng chịu
đựng sự gian khổ băng giá, nóng lạnh trong
khi đi t́m cầu lợi, đến khi tuổi già sức
yếu th́ ngồi thọ dụng.
Người vợ
nghe xong, nghĩ ngợi bảo rằng:
-Tôi không khuyên làm,
tự ư “ḿnh” muốn làm th́ việc ấy tùy ư “ḿnh”.
Người chồng
nói:
-Anh tự có trách
nhiệm đối với sự kinh cầu này.
Thế rồi,
Trưởng giả toan tính mua sắm hàng hóa và lương
thực đi đường, chu cấp mọi thứ,
sai người mang hàng hóa lên đường đến xứ
khác. Người vợ ở nhà, sau đó khởi ư
nghĩ: “Phu chủ của ta chịu khổ đi kinh
cầu, chấp nhận tất cả sự nóng lạnh,
đói khát, đều v́ ta để t́m lấy tài
vật,nay ta không nên ngồi yên một chỗ để
chờ thời”. Hành động theo ư nghĩ, người
vợ đến chợ mua Kíp bối tốt đem về
xe thành sợi tơ dệt thành sợi diệu
điệp, rồi ướp diệu điệp bằng
các loại hương thơm và đặt trong một
chiếc tráp. Khi Trưởng giả kinh cầu tài lợi,
thu hoạch được rồi trở về lại
bản xứ, người vợ lấy nước nóng có
ḥa hương thơm để chồng tắm rửa.
Người vợ mở tráp lấy diệu điệp
nặc mùi hoa thơm trao cho chồng mặc. Thấy
tấm ḷng của vợ như thế, Trưởng
giả liền có ư nghĩ: “Dù bán hết số lương
thực trước đây đem theo đường,
để ở nhà cũng không thể mua được
chiếc áo này”. Nên hỏi:
-Này, Hiền thủ!
Thượng y này từ đâu mà “ḿnh”có được ?
Người vợ
nhẹ nhàng bảo:
-Hiền thủ
hỏi ở đâu có được áo đẹp
đắc giá làm ǵ ? Anh cứ mặc.
Người chồng
đáp:
-Thôi th́ mặc
vậy.
Ông chồng liền mặc vào. Ông
ta lại hỏi:
-Áo đẹp này
ở đâu em có ?
Vợ bảo
chồng:
-Anh dùng cơm đi
đă!
Ăn xong ,
người chồng lại hỏi:
-Áo đẹp này
ở đâu em có ?
Người vợ
đem tất cả ư nghĩ và việc làm của ḿnh nói
cho chồng biết.Người chồng khâm khen vợ:
-Hay thay, người
vợ hiền! Anh là người đi t́m cầu của
cải c̣n em là kẻ khéo quản lư thủ hộ tốt
đẹp gia nghiệp, với cái đà “Đông có mày, Tây
có tao” như vậy không bao lâu nhà ta tích lũy
được tư tài, chắc chắn giàu to thôi em ạ
?
Người vợ
nói:
-Chiếc áo
đẹp này do sự chắc chiu khổ cực của em
mới có được, chỉ để cho anh, anh
tự giữ lấy để mặc chứ đừng
cho ai.
Người chồng
nghe, vui vẻ nói với người vợ:
-Tuyệt vời! Anh
sẽ như vậy!
Trưởng giả,
với tín tâm thuần thiện sẵn có, sau chuyến
đi xa kinh cầu tài lợi vừa về, liền
đến rừng Thệ-đa để kính lễ đức
Thế Tôn. Từ trong thành đi ra đến cửa thành,
người giữ cửa thấy, bèn có ư nghĩ: “Xem cách
ăn mặc sang trọng của Trưởng giả
đủ biết hiện nay ông ta đang thu hoạch
được nhiều tài lợi”.
Ngày ấy, Lục
chúng hầu hết đứng nơi cửa ngơ chùa.
Ô-ba-nan-đà thấy Trưởng giả đến, nh́n
chiếc áo của Trưởng giả mặc liền nảy
ra ư nghĩ: “Xem cách ăn mặc của Trưởng
giả đủ biết là vấn đề cầu tài
lợi đă được như ư. Nay ta nếu không
bằng mọi cách chiếm được chiếc áo
ấy th́ ta không xứng đáng với tên gọi
Ô-ba-nan-đà nữa”. Thế tất, liền xướng:
-Thiện lai,
Trưởng giả! (Hay thay! Chào Trưởng giả
mới đến!) Ngài từ lâu đi đâu, thấy
vắng, nay đầu tháng Trưởng giả mới
đến ?
Trưởng giả
đáp:
-Kính thưa Thánh
giả! Từ lâu con đi tha phương kinh cầu tài
lợi, gần đây mới về, hôm nay đến
để đảnh lễ đức Thế Tôn.
Bí-sô hỏi
Trưởng giả:
-Thu hoạch
được nhiều tài lợi hay không ?
Trưởng giả
bảo:
-Khi nhiều, khi ít
không chừng, miễn sao đừng tay không trở về
là được.
Bí-sô nói:
-Này Trưởng
giả! Tôi có thể đoán biết, khi thấy
nước trong ao chảy ra th́ rơ được
nước ao trong thăm thẳm; mắt thấy áo
đẹp, th́ biết ngay Trưởng giả thu hoạch
được nhiều tài lợi. Xong ,từ lâu
Trưởng giả cứ măi chạy theo cái tâm tham cầu
kinh doanh, không ngó ngàng đến việc ngơi nghỉ.
Trưởng giả chưa hề tu tạo phước
đức cho riêng ḿnh trong đời sau. Thôi Trưởng
giả có thể đến đây, tôi sẽ v́ Ngài nói pháp
mầu.
Khi ấy,
Trưởng giả v́ nghe nói pháp nên ngồi qua một bên.
Ô-ba-nan-đà có khả năng thuyết pháp hay đến
mức độ: Nếu nói về vấn đề tŕ giới
nhơn duyên th́ người nghe đều có cảm
tưởng tự thân sanh ngay lên Thiên thượng; nếu
nói về vấn đề bố thí nhơn duyên th́
người nghe có thể tự thân xẻo thịt
để phụng thí; nếu nói về vấn đề
tương quan tội nghiệp th́ người nghe có
thể cảm thấy như tự thân hiện đọa
nơi ác đạo. Ô-ba-nan-đà nói pháp tương ứng
với phước bố thí cho Trưởng giả nghe,
liền sanh tịnh tín, hỏi:
-Kính thưa Thánh
giả! May mắn thay, con được nghe diệu pháp
này, hiện con có một cặp Bạch điệp, xin
được phụng hiến.
Ô-ba-nan-đà liền
chú nguyện: “Phẩm vật mà Trưởng giả
phụng hiến là phát xuất từ đáy ḷng của
ḿnh”. (nói đầy đủ như trước) chú
nguyện rồi liền đ̣i chiếc áo. Ông
Trưởng giả nói:
-Chiếc áo này ở
nơi nhà, sáng mai con sẽ trao.
Ô-ba-nan-đà nói:
- Này Hiền thủ!
Như đức Thế Tôn dạy:
Tu
phước nên làm ngay.
Ngày
mai đâu biết c̣n.
Chung
cuộc đều cùng chết.
Điểm
gặp nhau tất yếu.
Ô-ba-nan-đà nói tiếp:
-Này, Trưởng giả!
Chiếc áo bạch điệp, Trưởng giả
đang mặc rất tốt, nên cho tôi, tôi sẽ cắt
rọc làm y Tăng-già-chi hai lớp để đắp
mặc trong nếp sống thiểu dục, tu các thiện
phẩm, ông được nhiều phước.
Trưởng giả trả
lời:
-Chẳng phải con tiếc
chiếc áo mà không cúng, xong vợ con trước đây nó có
căn dặn: “Chiếc áo này chỉ để cho anh, anh
giữ để bận đừng cho ai”.
Ô-ba-nan-đà liền
ngắt lời:
-Này, Trưởng
giả! Tôi từng nghe Trưởng giả bậc tịnh
tín hiền thiện là vị đại trượng phu,
nào ngờ Trưởng giả nay lại nghe theo lời nói
của vợ.
Thế rồi, Ô-ba-nan-đà
đến trước Trưởng giả kéo mạnh
lấy một lớp Bạch điệp. Cầm Bạch
điệp trong tay xem kỹ, rồi lật ngược
bàn tay, tỏ ra thất vọng. Trưởng giả
hỏi:
-Tại sao Thánh
giả tỏ vẻ như thế ?
Ô-ba-nan-đà nói:
-Ông có cái phước
dâng cúng mà không có cái phước thọ dụng. Trên cái giá
để mắc áo đă bị phá đi rỗng không th́
không c̣n dùng để mắc áo nữa. Nếu tôi được
trên giá ấy một lớp Bạch điệp th́ trao cho
tôi thêm một lớp đúng như lớp Bạch
điệp này mới đủ dùng để may y
Tăng-già-chi. Phước của Trưởng giả
như vậy mới thật viên măn.
Trưởng giả
nói:
-Đâu có thể tôi
lộ h́nh mà đi về được hay sao ?!
Ô-ba-nan-đà ngụy
biện:
-Sao lại vay
mượn cái h́nh thức bên ngoài để làm sự trang
sức chỉ nên lấy cái tư cách biết khước
từ sự hẹp ḥi, sự khinh bỉ, sự xấu
hổ mà làm áo để trang sức. Người không
biết xấu hổ dù mặc xiêm áo cũng chẳng khác
nào kẻ trần truồng. A mà, Trưởng giả không
mặc áo lót sao ?
Trưởng giả
trả lời là có mặc.
Ô-ba-nan-đà nói:
-Nếu như vậy
th́ nay trong thành này các Trưởng giả đều b́nh
đẳng: Ḿnh mặc áo lót, tay cầm roi làm kẻ
chăn súc vật, chiều tối lùa trâu ḅ súc vật
trở về chuồng. Trưởng giả cũng làm
như vậy, mặc áo lót, tay cầm roi theo họ vào thành
chứ có sao đâu! Mọi người thấy hoàn toàn không
phải ngại ngùng ǵ ?
Miệng nói tay th́ kéo
mạnh lớp Bạch điệp tuột khỏi thân.
Bấy giờ, Trưởng giả chỉ c̣n dính thân
một chiếc áo lót. Ô-ba-nan-đà trao cho một cái roi, đi
theo với đoàn người chăn trâu vào thành.
Người giữ cửa thấy vậy, hỏi:
-Trưởng giả
khi đi ra mặc áo Bạch điệp tốt, bây giờ
lại lộ thể trở về, Trưởng giả
gặp phải kẻ cướp hay chăng ?!
Ông Trưởng
giả trả lời:
-Tôi không gặp kẻ
cướp, tôi chỉ bị Thánh giả Ô-ba-nan-đà v́ tôi
nói pháp rồi cưỡng đoạt chiếc áo của
tôi.
Người giữ
cửa nghe rồi rất sanh ḷng cơ hiềm, hủy
mạ.
Sau đó Trưởng
giả Cấp-cô-độc, như thường nhật,
cùng năm trăm người tùy tùng đến
đảnh lễ hai chân đức Thế Tôn và các Đại
đức kỳ túc Bí-sô. Trưởng giả vừa
đến cửa thành, người giữ cửa thành báo
cáo:
-Trưởng giả
tuy có đoàn tùy tùng, xong cũng cần phải để ư
kẻo bị bọn cướp, cướp đoạt.
Trưởng giả
nghe xong liền hỏi:
-Đâu có lẽ, trên
tuyến đường đến vườn Cấp
lại có bọn cướp à ?
Người giữ
cửa hỏi:
-Trưởng giả
tuy trên đường đi không có mà trong vườn
Cấp lại có.
Trưởng giả
bảo:
-Này, nam tử! Bẩm
tánh ác của ngươi như lông dê đen không thể
hối cải được. Trong con đường này
Phật và Tăng chúng hằng in dấu đi lại
của các Ngài. Dù đă trăi qua nhiều năm tháng rồi
xong ngươi không hề biến đổi thành trắng
được.
Người giữ
cửa bảo:
-Trưởng giả!
Đức Thế Tôn thiện thệ và Bí-sô chúng Tăng,
dấu chân của các Ngài in lên cuộc đời con chiêm
ngưỡng và đội lên đầu, con đâu dám
bất kính. Xong, sáng hôm qua có một Trưởng giả
mặc một thượng y vào vườn Cấp, khi
ấy, Ô-ba-nan-đà v́ Trưởng giả nói pháp rồi
cưỡng đoạt chiếc áo thượng y của
Trưởng giả đó đem đi. Trưởng
giả ấy phải chỉ bận áo lót theo bầy trâu mà
vào thành, vừa đi vừa cơ hiềm hủy mạ,
mọi người đều nghe biết.
Trưởng giả
Cấp-cô-độc nghe rồi liền khởi ư nghĩ:
“Hôm nay, ta đem việc này vào vườn Cấp
để bạch Phật”. Trưởng giả vừa
đến, Ô-ba-nan-đà thấy, liền xướng:
- Thiện lai!
Trưởng giả!
Trưởng giả
Cấp-cô-độc như tỏ vẻ bất b́nh nói:
- Tôi không thiện lai
với thầy được!
Ô-ba-nan-đà nói:
- Trước đây
Trưởng giả chỉ mới có khói, nay đă bốc
thành lửa!
Trưởng giả
Cấp-cô-độc buồn nói:
- Nay, làm sao tôi không
bốc thành lửa được! Bao nhiêu người
xuất gia đều muốn xả tham, riêng Đại
đức ḷng tham lại tăng trưởng!
Ô-ba-nan-đà nói:
-Tôi làm ǵ mà
Trưởng giả nói thế ?
Trưởng giả
bảo:
-Đâu không phải
ngày hôm qua có một người muốn yết kiến
đức Phật, Đại đức v́ họ nói pháp
rồi cưỡng đoạt y của họ, khiến
cho họ mặc áo lót theo bầy trâu vào thành hay sao ?!
Ô-ba-nan-đà vẫn
ngụy biện. Người đời thường nói: “
Trưởng giả Cấp-cô-độc
bực ḿnh nói:
-Đâu thể nào
người kia lại trút hết nước trong b́nh vàng
rồi đem đến dâng cho Đại đức
được sao ?!
Ô-ba-nan-đà chống
chế:
-Trưởng giả
chớ nói nhiều lời. Nếu không chấp nhận
được th́ cứ bạch với Thế Tôn chế
giới cấm đi.
Trưởng giả
nói:
-Tôi đâu bỏ qua
việc này.
Đại đức
Ô-ba-nan-đà tỉnh bơ im lặng.
Khi ấy, Cấp-cô
Trưởng giả đến chỗ đức Thế
Tôn đầu diện kính lễ chân Phật rồi
ngồi qua một bên, bạch Phật:
-Kính bạch đức
Thế Tôn ! Nay, Thánh chúng nơi đây, có vị đến
nơi Cư sĩ hay vợ Cư sĩ chẳng phải bà
con xin y, cúi xin đức Thế Tôn v́ Thánh chúng tác ức
niệm sự, chớ dến Cư sĩ hay vợ Cư
sĩ không phải bà con xin y.
Lúc bấy giờ, đức
Thế Tôn nghe Trưởng giả nói, im lặng hứa
khả. Trưởng giả biết điều đó,
lễ Phật cáo lui. Đức Thế Tôn dùng nhơn duyên
này, tập hợp Bí-sô Tăng (như trước) hỏi
Ô-ba nan-đà rằng:
-Ông thực sự có
đến Cư sĩ vợ Cư sĩ không bà con xin y hay
chăng ?
Ô-ba-nan-đà thưa:
-Bạch đức Thế
Tôn ! Thật như vậy.
Đức Thế Tôn bằng
mọi cách quở trách Ô-ba-nan-đà rồi bảo các Bí-sô…
(như trước) cho đến câu: Đối với
Tỳ-nại-da, v́ các Bí-sô chế Học xứ này như
sau:
“Nếu lại có Bí-sô
đến Cư sĩ hay vợ Cư-sĩ chẳng
phải bà con xin y, Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.
Đức Thế Tôn v́ các
Bí-sô chế Học xứ này lần đầu. Sau đó,
đức Phật ở rừng Thệ-đa, nơi
đó có bốn mươi Bí-sô, du hành nhơn gian, bị
giặc cướp không có y phục. Các Bí-sô cùng bàn
luận:
-Như đức Thế Tôn
chế giới không cho đến nơi Cư sĩ hay vợ Cư sĩ không
phải bà con xin y. Chúng ta không có bà con nơi địa
phương này, chúng ta nên trở lại thành
Thất-la-phạt để nhờ đồng phạm
hạnh chúng ta giúp đỡ y phục.
Trong số đó có ư kiến:
-Chúng ta lộ h́nh mà đi
được hay sao ?
Họ cùng bàn và quyết
định: Ban đêm đi, ban ngày ẩn ḿnh. Theo kế
hoạch đó, họ tuần tự đến cửa ngơ
chùa, nơi thành Thất-la-phạt, vào lúc ban đêm. Các Bí-sô
đầu đêm, sau đêm, kỉnh giác tư duy. Khi nghe
tiếng gơ cửa, nh́n thấy đoàn người lộ
h́nh, liền nói:
-Này, các ngoại đạo
không mặc y! Đây không phải là trú xứ của các ông.
Đoàn người lộ
h́nh trả lời:
-Thưa Cụ thọ! Chúng
tôi không phải là người
ngoại đạo.
- Vậy các ông là
người ǵ ?
- Chúng tôi là Bí-sô.
- Bí-sô ở đâu mà
có h́nh thức như vậy ?
- Chúng tôi bị
giặc cướp… như thế này, làm sao bây giờ ?!
-Quư vị tên ǵ ?
- Chúng tôi có
bốn mươi Bí-sô khất thực đây.
- Xin chào:
Thiện lai, các Cụ thọ!
Cửa vừa
mở, các Bí-sô chen nhau bước vào để xin
được cứu… có vị trao Tăng-già-chi, có vị
được trao Ốt-đát-la-tăng-già, có vị
được trao An-đát-ba-ta, hoặc
Tăng-khước-kỳ, Nê-bà-san, Na-ba-đát-la,
Lự-thủy-la… Sáng ngày, các Bí-sô đem nhơn duyên ấy
bạch Phật. Đức phật dạy:
- Như vậy
nên có câu: Trừ thời gian khác. Thời gian khác là Bí-sô, y
bị đoạt, y bị mất, y bị cháy, y bị
trôi, y bị gió bay.
Lúc bấy
giờ, đức Thế Tôn khen ngợi người tŕ
giới… (như trước) cho đến câu: Bảo các
Bí-sô: Trước là sáng chế nay là tùy khai v́ các Bí-sô
chế Học xứ này như sau:
“Nếu lại có Bí-sô
đến Cư sĩ hay vợ Cư sĩ chẳng
phải bà con xin y, trừ trường hợp khác,
Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.
Trường hợp
khác là Bí-sô y bị đoạt, y bị mất, y bị
cháy, y bị gió thổi, y bị trôi. Đây là trường
hợp khác.
+ Nếu lại có
Bí-sô, là chỉ cho Ô-ba-nan-đà. Nghĩa của y như
trước đă nói. Xin là đến người cầu
xin. Cướp là bị giặc lấy. Mất là tự
ḿnh vô ư bị mất. Cháy là bị lửa cháy. Gió thổi
là bị băo thổi mất. Trôi là bị nước
cuốn đi. Có các nạn duyên đây, xin y nơi Cư
sĩ hay vợ Cư sĩ không phải bà con th́ không
phạm, ngoài ra khi nhận được phạm Xả
đọa.
Trong vấn đề
này tướng phạm như thế nào ?
Vấn đề này
có ba loại: giá trị, màu sắc, phân lượng.
-Về giá trị: Nếu
Bí-sô không v́ nạn duyên đến người không phải
bà con xin một Ca-lợi-sa-ba-noa giá trị của y
(Ca-lợi-sa-ba-noa đă giải thích trong giới không cho mà
lấy) và nhận được một Ca-lợi-sa-ba-noa
giá trị của y th́ khi xin phạm tội Ác tác, khi
nhận được phạm Xả đọa. Như
vậy tăng lên cho đến năm mươi
Ca-lợi-sa-ba-noa… Tùy theo lần xin, tùy theo số
lượng nhận được, tội nặng
nhẹ chuẩn theo trên th́ biết.
Nếu Bí-sô
đến người không phải bà con xin một
Ca-lợi-sa-ba-noa giá trị của y, mà nhận
được hai Ca-lợi-sa-ba-noa giá trị của y khi
xin th́ phạm Ác tác, khi
nhận không phạm. Như vậy cho đến năm
mươi Ca-lợi-sa-ba-noa… xin ít đặng nhiều, có phạm,
không phạm cũng chuẩn theo đây nên biết.
-Về màu sắc:
nếu Bí-sô đến người khác xin y màu xanh lại
nhận được y màu xanh, khi xin phạm Ác tác, khi
nhận, nhận lấy tội Xả đọa. Màu xanh
như vậy màu vàng, màu đỏ, màu trắng cho
đến dày mỏng cũng như vậy nên biết. Nếu
Bí-sô xin y màu xanh, mà nhận được màu vàng, khi xin
phạm Ác tác, khi được không phạm. Các màu sắc
khác, cho đến dày, mỏng sự hy vọng xen lẫn
nhau, cũng như vậy nên biết.
-Về phần lượng:
nếu Bí-sô đến người khác xin y bằng năm
khuỷu tay, khi nhận được y bằng năm
khuỷu tay, khi xin phạm Ác tác, khi nhận phạm Xả
đọa. Hoặc xin năm đặng mười, cho
đến năm mươi v.v… chuẩn theo trên nên
biết. Như vậy gọi là ba loại. Nếu xin
chỉ tơ lại được một miếng
nhỏ, xin một miếng nhỏ mà họ cho một y
rộng, đều không phạm.
Lại một trường
hợp không phạm nữa là: Người phạm ban
đầu, hoặc si cuồng tâm loạn thống năo
bức bách.
CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU
BỘ TỲ-NẠI-DA
QUYỂN 19 – (hết).