CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA

QUYỂN 17

TAM TẠNG PHÁP SƯ NGHĨA TỊNH PHỤNG CHẾ DỊCH.

 

Học xứ thứ hai: Ĺa ba y.

          Lúc bấy giờ, Bạc-già-phạm ở nơi thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn Cấp-cô-độc. Khi ấy, các Bí-sô chứa nhiều ba y. An cư nơi nào, được y tài, giặt, nhuộm, cắt, xếp gói lại đem gởi nơi Bí-sô Chủ Nhơn, chỉ mặc hai y đi du hành trong nhân gian. Sau thời gian cất giữ, Bí-sô kia không về, Bí-sô Chủ Nhơn đem ra hong phơi, tốn công sức mất nhiều th́ giờ, không có th́ giờ nhiếp niệm, đọc tụng, yên tỉnh tư duy. Các Bí-sô cơ hiềm, bày tỏ điều không như ư nói:

          - Tại sao Bí-sô chứa nhiều y dư, gây trở ngại chánh nghiệp cho kẻ khác ?!

Thế rồi các Bí-sô đem nhơn duyên này tŕnh bày đầy đủ với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn dùng nhơn duyên này tập hợp chúng Bí-sô, v́ các Bí-sô khen ngợi các vị thiểu dục, tu chánh hạnh Đỗ-đa, bảo các Bí-sô:

- Ta v́ mười điều lợi…V́ các Bí-sô chế Học xứ này như sau:

           “Nếu lại có Bí-sô may y đă xong, y Yết-sỉ-na lại xuất, ĺa một trong ba y, ngủ ngoài giới, cho đến một đêm, Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.

          Đức Phật ở thành Vương-xá, trong rừng Trúc. Lúc ấy, Cụ thọ Đại Ca-diếp-ba cũng ở trong thành này, nơi hang Tây-ni-ca. Khi ấy, Tăng-già cùng trong một cương giới trưởng tịnh. Các Bí-sô đến ngày thứ mười lăm khi trưởng tịnh đều có mặt đông đủ, chỉ đợi Đại Ca-diếp-ba. Bấy giờ Ngài Đại Ca-diếp-ba từ hang động đi đến, trên tuyến đường đi gặp trời mưa nước sông lớn. Khi Ngài lội qua sông bị ướt y đại, phải vắt nước để phơi, đợi khô, măi đến chiều mới đến địa điểm trưởng tịnh Ngài an tọa nơi chỗ ngồi của Ngài trong Đại chúng. Các Bí-sô bạch Ngài:

- Tất cả chúng tôi tập hợp đông đủ từ lâu, chỉ đợi Tôn giả. Tại sao Tôn giả đến trễ ?

          Khi ấy, Cụ thọ Đại Ca-diếp-ba, đối trong Đại chúng thuật lại sự việc đă xảy ra đầy đủ và nói:

- Tôi là Ca-nhiếp-ba[1] tuổi già sức yếu, đại y vừa dày vừa nặng, duy chuyển thật là khó, cho nên đến trễ. Nay, tôi không biết giải quyết việc ấy như thế nào!

          Thế rồi, các Bí-sô đem nhơn duyên này tŕnh bày đầy đủ với đức Phật. Đức Phật dạy:

- Này các Bí-sô! Bí-sô Ca-nhiếp-ba tuổi già sức yếu, các vị nên tác pháp Yết-ma bất ly Tăng-già-chi. Nếu có vị nào như vậy cũng tác pháp như vậy. Đánh kiền chùy, tập chúng, tối thiểu bốn vị được tác pháp.

          Sau đó, Bí-sô Ca-nhiếp-ba tùy theo cấp bực lớn nhỏ kính lễ xong, đến trước Thượng tọa ngồi chồm hỏm, chấp tay, tác bạch:

- Đại đức Tăng-già lắng nghe! Tôi là Bí-sô Ca-nhiếp-ba tuổi già sức yếu, nay đến trước chúng Tăng xin pháp bất ly Tăng-già-chi v́ tuổi già sức yếu. Từ mẫn cố! (nói như vậy 3 lần).

Khi các Bí-sô đến tác pháp Yết-ma. (Trong 101 Yết-ma có thuật đầy đủ). Tăng-già đă cho Bí-sô kia tác pháp bất ly Tăng-già-chi rồi th́ vị ấy mặc hai y, thượng và hạ, du hành trong nhơn gian không có ǵ nghi hoặc.

Trong cuộc họp ấy, Ngài Xá-lợi-tử cũng có mặt, nhân đó Ngài bạch với các Bí-sô:

- Tôi bị bệnh phong mà y Tăng-già-chi nặng không thể vác hay mang đi được. Việc này nên giải quyết thế nào ?!

Các Bí-sô nghe, rồi bạch với đức Phật. Đức Phật dạy:

- Các vị nên trao cho Xá-lợi-tử pháp bất ly Tăng-già-chi v́ Bí-sô ấy có bệnh phong. Ngoài ra, vị nào cũng trong trường hợp đó cũng làm như vậy. Tập chúng như thường lệ, cho đến tối thiểu là bốn người, nên xin giữa chúng. Chuẩn theo pháp Ca-diếp-ba đă xin mà tác pháp Yết-ma đă làm. Đă đắc pháp rồi, đồng như trước mà du hành.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn khen ngợi tŕ giới, thiểu dục tri túc khổ hạnh, là đoan nghiêm hơn hết và Ngài bảo các Bí-sô:

- Trước là sáng chế sau là tùy khai, v́ các Bí-sô chế Học xứ này như sau: “Nếu lại có Bí-sô may y đă xong, y Yết-sỉ-na lại xả, ĺa một trong ba y, ngủ ngoài giới, cho đến một đêm, trừ chúng tác pháp, Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.

+ Y đă xong, y Yết-sỉ-na lại xuất, có bốn câu sai biệt (nói đầy đủ như trước). Nói ĺa một y, tức là trong  ba y, ĺa một cái, khác giới mà ngủ. Cho đến tướng mặt trời xuất hiện trừ Tăng yết-ma, Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca. Vật đă phạm phải xả, tác pháp đồng như trước.

Trong vấn đề này tướng phạm  như thế nào ?

Nhiếp tụng:

Một, hai, nhiều thôn xá

                   Tường, rào, hào vây quanh.

                   Kỹ nhạc nhà ngoại đạo

                   Phố quán lấy lầu trường

                   Nhà xe, thuyền, rừng cây

                   Đều có bốn không đồng

                   Ở trong bốn oai nghi

                   Hộ y nên khéo biết.

Có một thôn xá, hai thôn xá, nhiều thôn xá. Tường bao quanh thôn, rào bao quanh thôn, hào bao quanh thôn. Một thôn có một thế phần, có nhiều thế phần. Nhiều thôn có một thế phần, có nhiều thế phần.

Một nhà có một thế phần, có nhiều thế phần. Nhiều nhà có một thế phần, có nhiều thế phần cứ như vậy nên biết: nhà kỹ nhạc, nhà ngoại đạo, phố, quán, lầu và trường đường, xe thuyền và rừng cây đều có một thế phần, có nhiều thế phần, bốn loại không đồng.

- Thế nào gọi là một thôn xá ?

Một khu vực gồm có núi, đồng nội, người, th́ gọi là một thôn xá. Khu vực này phạm vi bao nhiêu th́ gọi là một thôn xá.

Khu vực này phạm vi bao nhiêu th́ gọi là một thế phần ?

Gồm cả trong và ngoài nhà độ một tầm. Lại nữa, một chỗ có khả năng tụ hội người để xây, giă, sao, mài, ăn uống… Cũng gọi là một thế phần.

Nếu y của Bí-sô ở trong nhà, thân ở thế phần; hoặc y ở thế phần, thân ở trong nhà, khi tướng mặt trời xuất hiện, đều không phạm.

Nếu để y trong nhà và thế phần thân ở chỗ khác cho đến trước khi mặt trời xuất hiện th́ phạm tội Ác tác, khi tướng mặt trời xuất hiện phạm Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca. Một nhà như vậy, hai nhà cũng thế.

- Thế nào gọi là nhiều thôn xá ?

Trong một thôn người và nhà cửa xây dựng  không có trật tự, trong nếp sống lộn xộn. Trường hợp này phạm vi bao nhiêu gọi là thế phần, đồng hay là khác ? Trường hợp thôn đây không thế phần, có khác không đồng, ĺa phân tề của y, dựa theo nhà làm tiêu chuẩn.

- Thế nào gọi là tường vây quanh thôn ?

Tức là bốn bề của thôn có tường vây quanh. Trường hợp này phạm vi bao nhiêu gọi là thế phần ? Trong và ngoài tường gồm một tầm. Lại nữa, ngang bằng với không gian của con gà bay rồi đáp xuống. Lại nữa, ngang bằng với chỗ người biết tàm quư đi tiện lợi. Đây là thế phần ngoài ra như trước đă nói.

- Thế nào gọi là rào vây quanh thôn ?

Tức bốn bề của thôn có rào bao quanh. Trường hợp này phạm vi bao nhiêu gọi là thế phần ? Trong và ngoài rào gồm một tầm; lại nữa, ngang bằng với chỗ mười hai khuỷu tay đo được; lại nữa ngang bằng với chỗ cổ xe chở tre, sáu con ḅ kéo, quay đầu lại được. Đây là thế phần.

- Thế nào gọi là hào vây quanh thôn ?

Bốn bề của thôn có hào xung quanh. Trường hợp này phạm vi bao nhiêu gọi là thế phàn ? Trong và ngoài hào gồm một tầm; lại nữa ngang bằng với chỗ mà bụi của chân con trâu, con dê đi bay đến; lại nữa ngang bằng với chỗ của một viên sỏi lớn từ trong giỏ rác được đổ văng ra. Đó là thế phần.

-Thế nào gọi là một thôn có một thế phần ?

Tức là thôn ấy có vườn rừng, một thần miếu, chỗ chúng tập hợp, như vậy là một thôn có một thế phần. Trường hợp này, trong phạm vi bao nhiêu gọi là thế phần ? Tức là phạm vi ngoài vườn, rừng một tầm; lại nữa ngang bằng với tụ hội để xay, giă, sao, mài, nấu nướng, ăn uống. Đó là thế phần.

-Thế nào gọi là một thôn có nhiều thế phần ?

Tức là nơi thôn ấy có nhiều vườn, rừng, nhiều thần miếu, chỗ tụ tập đông. Như vậy gọi là một thôn có nhiều thế phần. Phạm vi này bao nhiêu gọi là thế phần, khác hay đồng ? Đây không có thế phần chỉ dựa vào trong một cái thất mà nói.

- Thế nào gọi là nhiều thôn có một thế phần ?

Tức nhiều thôn có một vườn rừng, một thần miếu, chỗ chúng tập hợp. Như vậy gọi là nhiều thôn có một thế phần. Phạm vi này bao nhiêu gọi là thế phần ? Trong thôn luôn cả ngoài thôn đều có một tầm. Lại nữa, ngang bằng với chỗ tụ hội để xay, giă, mài, sao, nấu nướng, ăn uống, cũng gọi là thế phần.

- Thế nào gọi là nhiều thôn có nhiều thế phần ?

Tức là nhiều thôn có nhiều vườn rừng, nhiều thần miếu, chỗ chúng tụ họp. Như vậy gọi là nhiều thôn có nhiều thế phần. Trường hợp này, phạm vi bao nhiêu gọi là thế phần, có khác hay đồng ? Đây không có thế phần. Ngoài ra đều như trước.

- Thế nào gọi là một nhà có một thế phần ?

Tức là trong nhà này chỉ có một gia trưởng, anh em không chia riêng. Như vậy gọi là một nhà có một thế phần. Sự việc này đồng như vấn đề một thôn xá đă nói ở trước.

- Thế nào gọi là một nhà có nhiều thế phần ?

Tức trong nhà này có nhiều gia trưởng, anh em chia riêng nhau. Đây là một nhà có nhiều thế phần. Ngang bằng mức nào gọi là thế phần ? Ngang bằng với cửa ra vào, không có thế phần.

- Thế nào là nhiều nhà, có một thế phần ?

Tức là trong nhiều nhà, chỉ có một gia trưởng, anh em không chia ra riêng. Như thế là nhiều nhà, có một thế phần.

- Thế nào là nhiều nhà, có nhiều thế phần ?

Tức là nhiều nhà, có nhiều gia trưởng, anh em chia riêng nhau. Phạm vi bao nhiêu gọi là thế phần, cái ǵ chung, cái ǵ riêng ? Đây không có thế phần.

- Thế nào là một nhà kỹ nhạc có một thế phần ?

Tức là trong nhà này có một gia trưởng, anh em không chia riêng nhau. Như vậy gọi là một nhà có một thế phần. Phạm vi bao nhiêu gọi là thế phần ? – Ngoài phạm vi chung của nhà gồm có một tầm. Lại nữa, ngang bằng với chỗ đủ để cái giá trống, đàn Tỳ-bà, ống tiêu, ống sáo dụng cụ của giàn nhạc và ban nhạc hội tụ ăn uống, cũng gọi là thế phần.

- Thế nào gọi là một nhà kỹ nhạc có nhiều thế phần ?

Tức là trong nhà này có nhiều gia trưởng, anh em chia riêng nhau. Như vậy gọi là một nhà có nhiều thế phần. Trường hợp này, phạm vi bao nhiêu gọi là thế phần, cái ǵ chung, cái ǵ riêng ? Riêng là căn cứ vào chỗ ở của anh em; chung là trong phạm vi của giá trống và cờ hiệu.

- Thế nào gọi là  nhiều nhà kỹ nhạc có một thế phần ?

Nghĩa là các nhà này chỉ có một gia trưởng, anh em không phân chia nhau. Như vậy gọi là nhiều nhà, có một thế phần. Trường hợp này, phạm vi bao nhiêu gọi là nột thế phần ? - Ngoài phạm vi trong nhà  gồm có một tầm. Lại nữa, ngang bằng với chỗ để giá trống… đều gọi là thế phần.

- Thế nào gọi là nhiều nhà kỹ nhạc, có nhiều thế phần ?

Tức là các nhà này có nhiều gia trưởng, anh em chia riêng nhau. Trường hợp này,  phạm vi bao nhiêu  gọi là thế phần ? Cái ǵ chung, cái ǵ riêng ? Đây không có thế phần.

- Thế nào gọi là một nhà ngoại đạo có một thế phần ?

Tức là trong nhà này đồng một kiến giải, không có ư thú riêng biệt. Như vậy gọi là thế phần. Ngoài phạm vi chung trong nhà  gồm có một tầm. Lại nữa, ngang bằng với chỗ phơi phân ḅ, chất củi, để quân b́nh, ḷ lửa, dụng cụ cúng tế, chỗ tụ họp xay, giă, nấu nướng, ăn uống.

- Thế nào gọi là một nhà ngoại đạo có nhiều thế phần ?

Tức là trong nhà này có nhiều kiến giải ư thú bất đồng. Thế phần này, cái ǵ đồng, cái ǵ khác ? – Tức là ngang bằng với cái miễu thờ trời.

- Thế nào gọi là nhiều nhà ngoại đạo có một thế phần ?

Tức là trong các nhà này đồng một kiến giải, không có ư thú riêng biệt. Đây là thế phần. Ngoài phạm vi chung của nhà gồm có một tầm. Lại nữa ngang bằng với chỗ phơi phân trâu v.v…

- Thế nào gọi là nhiều nhà ngoại đạo có nhiều thế phần ?

Các nhà này có nhiều kiến giải ư thú không đồng nhau. Thế phần này, cái ǵ chung, cái ǵ riêng ? Đây không có thế phần.

- Thế nào gọi là một phố có một thế phần ?

Tức là trong phố này có một gia trưởng, anh em không chia riêng nhau. Đây là thế phần gồm có ngoài phạm vi trung gian chung vừa một tầm. Lại nữa, ngang bằng với chỗ đủ để hàng hóa, dụng cụ mua bán giao dịch như cân lượng…

- Thế nào gọi là một phố có nhiều thế phần ? 

Tức là trong phố đây có nhiều gia trưởng, anh em chia riêng nhau. Thế phần này cái ǵ chung, cái ǵ riêng ? - Tức là dựa vào vấn đề giao dịch giường nằm, ghế ngồi.

- Thế nào gọi là nhiều phố có một thế phần ?

Tức là các phố này chỉ có một gia trưởng, anh em không chia riêng nhau. Thế phần này ngoài trung gian chung gồm có một tầm. Lại nữa, ngang bằng với chỗ để hàng hóa…

- Thế nào nhiều phố có nhiều thế phần ? 

Tức là trong các phố này có nhiều gia trưởng hoặc anh em chia riêng nhau. Trường hợp này, phạm vi bao nhiêu gọi là thế phần, cái ǵ chung, cái ǵ riêng ? - Đây không có thế phần.

- Thế nào gọi là một quán có một thế phần ?

Tức là trong quán này có một gia trưởng, anh em không chia riêng. Thế phần này, ngoài phạm vi trung gian chung gồm có một tầm. Lại nữa, ngang bằng với chỗ đủ để đại mạch, tiểu mạch, dầu, mè, tơ, lụa… cân đấu để giao dịch.

- Thế nào gọi là một quán có nhiều thế phần ?

Tức là trong quán này có nhiều chủ quán, hoặc anh em chia riêng nhau. Phạm vi bao nhiêu gọi là thế phần ? Cái ǵ chung, cái ǵ riêng ? Tức là chỗ chứa một vật, để giường, ván ngồi.

- Thế nào gọi là nhiều quán có một thế phần ?

Các quán này chỉ có một chủ quán, anh em chung sống với nhau. Thế phần này, ngoài phạm vi trung gian chung gồm có một tầm. Lại nữa, ngang bằng với chỗ đủ để đậu, mè v.v… các vật.

- Thế nào gọi là nhiều quán có nhiều thế phần ?

Tức là các quán này có nhiều chủ quán  hoặc anh em không chung sống với nhau. Phạm vi này bao nhiêu  gọi là thế phần ? Cái ǵ chung, cái ǵ riêng ? Đây không có thế phần.

- Thế nào gọi là một lầu có một thế phần ?

Tức là trong lầu này có một chủ lầu, anh em chung sống với nhau. Thế phần này, ngoài phạm vi trung gian chung gồm có một tầm. Lại ngang bằng với chỗ tới lui, ăn, uống, tụ họp .

- Thế nào gọi là một lầu có nhiều thế phần ?

Tức là trong lầu này có nhiều chủ lầu, hoặc anh em không chung sống với nhau. Trường hợp này, phạm vi bao nhiêu là thế phần ? Cái ǵ chung, cái ǵ riêng ? – Nghĩa là chỗ đủ để cái thang.

- Thế nào gọi là nhiều lầu, có một thế phần ?

Tức là lầu này có một chủ lầu, anh em chung sống. Thế phần này, ngoài phạm vi trung gian chung gồm có một tầm, để tụ họp ăn uống.

- Thế nào gọi là nhiều lầu, có nhiều thế phần ?

Tức là trong các lầu này có nhiều chủ lầu, hoặc anh em không chung sống với nhau. Phạm vi bao nhiêu là thế phần ? Cái ǵ chung cái ǵ riêng? – Đây không có thế phần.

- Thế nào gọi là một tràng có một thế phần ?

Tức là trong tràng này có một tràng chủ, anh em chung sống với nhau. Thế phần này, ngoài phạm vi trung gian chung gồm có một tầm, chỗ đủ để gạo lúa khuông đấu.

- Thế nào gọi là một tràng có nhiều thế phần ?

Tức là trong tràng này có nhiều chủ tràng, hoặc anh em không chung sống với nhau. Phạm vi bao nhiêu là thế phần ? Cái ǵ chung cái ǵ riêng? - Tức là dựa theo cương giới của tràng.

- Thế nào gọi là nhiều tràng có một thế phần ? 

Tức là tràng này có một chủ tràng, anh em không phân ly. Thế phần này, ngoài phạm vi trung gian chung gồm có một tầm dùng để lúa gạo.

- Thế nào gọi là nhiều tràng có nhiều thế phần ? 

Tức là các tràng này có nhều chủ tràng, hoặc anh em phân ly. Phạm vi bao nhiêu là thế phần ? Cái ǵ chung, cái ǵ riêng ? – Đây không có thế phần. (Tràng là nơi đất bằng và rộng).

- Thế nào gọi là một nhà (đường) có một thế phần ?

Tức là trong nhà này có một đường chủ, anh em không phân ly. Thế phần này, ngoài phạm vi trung gian chung có một tầm, chỗ để cột trâu ngựa, để cỏ và phân...

- Thế nào gọi là một nhà có nhiều thế phần ?

Tức là trong nhà này có nhiều đường chủ, anh em phân ly nhau. Phạm vi bao nhiêu gọi là thế phần ? Tức là đến trong cửa vào.

- Thế nào gọi là nhiều nhà có một thế phần ?

Tức nhà các nhà này có một đường chủ, anh em chung sống. Thế phần này, ngoài phạm vi trung gian chung gồm có một tầm, đủ để cột trâu ngựa, đổ cỏ, bỏ phân.

- Thế nào gọi là nhiều nhà có nhiều thế phần ?

Tức là các nhà này có nhiều đường chủ, anh em không chung sống. Phạm vi bao nhiêu là thế phần ? Cái ǵ chung, cái ǵ riêng ? – Đây không có thế phần.

- Thế nào gọi là một xe có một thế phần ?

Tức là xe này có một xa chủ, anh em chung sống. Thế phần này là đủ cho xe cộ đi đứng, ngoài trung gian chung gồm có một tầm, đủ để cột trâu ngựa , bỏ phân cỏ, ăn uống.

- Thế nào gọi là một xe có nhiều thế phần ? 

Tức là xe này có nhiều xa chủ, anh em phân ly. Phạm vi bao nhiêu là thế phần ? - Bằng với cái ách của xe. Cái ǵ chung, cái ǵ riêng ? - Chung là chỉ có cái đ̣n ngang ở trước chiếc xe giữa hai chỗ mắc ḅ vào.

- Thế nào là nhiều xe có một thế phần ?

Tức là các xe đây có một xa chủ, anh em chung sống. Thế phần này tức là chỗ xe đi.

- Thế nào gọi là nhiều xe có nhiều thế phần ?

Tức là các xe này có nhiều xa chủ, anh em phân ly nhau. Phạm vi bao nhiêu là thế phần này ? Cái ǵ chung, cái ǵ riêng ? - Đây không có thế phần.

- Thế nào gọi một thuyền có một thế phần ? 

Tức là thuyền này có một chủ, anh em chung sống. Thế phần này tức là thuyền đi đứng, ngoài trung gian chung gồm có một tầm, tức là cột thuyền, nấu nướng, ăn uống.

- Thế nào gọi là một thuyền có nhiều thế phần ?

Tức là thuyền này có nhiều chủ, hoặc anh em phân ly nhau. Phạm vi bao nhiêu là thế phần ? - Bằng với một bên chiếc thuyền.

- Thế nào gọi là nhiều thuyền có một thế phần ?

Tức là các thuyền này có một chủ, anh em chung sống. Thế phần này là chỗ thuyền đi đứng.

- Thế nào gọi là nhiều thuyền có nhiều thế phần ?

Tức là các thuyền này có nhiều thuyền chủ, hoặc anh em phân biệt nhau. Phạm vi bao nhiêu là thế phần ? Cái ǵ chung cái ǵ riêng ? - Đây không có thế phần.

- Thế nào gọi là một khu rừng có một thế phần ?

Tức là trong khu rừng này có một lâm chủ, anh em không phân chia. Thế phần này, nghĩa là ngoài phạm vi khu rừng, trung gian chung, gồm có một tầm. Lại ngang bằng với chỗ hái bông, ăn uống…

- Thế nào gọi là một khu rừng, có nhiều thế phần ? 

Tức là khu rừng này có nhiều lâm chủ, hoặc anh em phân biệt. Phạm vi bao nhiêu là thế phần này ? - Ngang bằng một dặm vuông.

- Thế nào gọi là nhiều rừng có một thế phần ?

Tức các khu rừng này có một lâm chủ, anh em chung sống. Thế phần này, ngoài trung gian chung gồm một tầm vừa chỗ để hái hoa.

- Thế nào gọi là nhiều rừng, có nhiều thế phần ?

Tức là các rừng này có nhiều lâm chủ, hoặc anh em phân biệt. Phạm vi bao nhiêu là thế phần ? Cái ǵ chung ? Cái ǵ riêng ? Đây không có thế phần.

- Thế nào gọi một cây, có một thế phần ?

Tức là chỗ nhánh lá giao chạm nhau, ngoài trung gian chung gồm một tầm. Lại nữa ngang bằng với mức bóng mát của cây giữa ngày của tháng năm, hoặc là chỗ bông, lá, hay trái cây rơi xuống khi trời không có gió, hay ngang bằng với chỗ khi trời mưa giọt nước văng đến.

- Thế nào gọi là một cây, có nhiều thế phần ? 

Tức là nhánh lá của cây không giao tiếp nhau. Phạm vi bao nhiêu là thế phần ? Cái ǵ chung ? Cái ǵ riêng ? - Tức là ngang bằng với gốc cây.

- Thế nào gọi là nhiều cây, có một thế phần ? 

Tức là nhánh lá của nhiều cây giao tiếp phủ kín nhau, chung một bóng mát.

- Thế nào gọi nhiều cây, có nhiều thế phần ?

Tức là nhánh lá của nhiều cây này cách xa nhau, không giao tiếp thành một bóng mát. Phạm vi bao nhiêu thành thế phần ? Cái ǵ chung ? Cái ǵ riêng ? - Bí-sô có phạm, không phạm ?

Lúc bấy giờ Cụ thọ Ô-ba-ly bạch Phật:

- Kính bạch đức Thế Tôn! Khi Bí-sô đi, đứng, nằm, ngồi, ngang với mức nào là ĺa thế phần của y ?

Đức Phật dạy:

- Như Bà-la-môn Sanh Văn trồng cây Yểm-một-la, cách nhau bảy tầm bông trái tốt tươi: Khoảng cách bảy cây này gồm có bốn mươi chín tầm, Bí-sô đi trong phạm vi ấy không mất y phần, quá mức định trên là mất y phần. Khi đứng, nằm và ngồi th́ chỉ trong một tầm. Nếu khi ngủ trung gian giữa hai giới, chéo của y không rời khỏi thân là thế phần của y. Bí-sô ĺa y ngủ, nên làm ba việc, phạm hay không phạm đều như văn trên đă nói.

 

·        Học xứ thứ 3: Chứa y một tháng.

 Đức Phật ở thành Thất-la-phạt, vườn ông Cấp-cô-độc. Khi ấy các Bí-sô chứa nhiều y, nhận được vải màu xanh không may y liền, bèn đem cất, chờ cho có thứ vải khác. Nếu nhận được vật tương tự như vậy, ta sẽ may y. Nhận được màu xanh như vậy, nhận được màu vàng, màu đỏ, màu trắng và loại y dày, y mỏng cũng cất chứa theo ư nghĩ đó. Khi ấy, thiểu dục Bí-sô thấy vậy bèn sanh hiềm tiện:

- Tại sao Bí-sô chứa nhiều y vật, dồn, chứa, cất, để, mà không chịu may y ?

Các Bí-sô đem nhơn duyên này tŕnh đầy đủ lên đức Phật. Đức Phật lấy việc này làm nhơn duyên hỏi rơ ràng các Bí-sô. Các Bí-sô nói: “Đây là sự thật”. Đức Thế Tôn quở trách… đến câu: Ta quán mười điều lợi v́ các Thinh-văn đệ tử, đối với Tỳ-nại-da chế học xứ như sau:

“Nếu lại có Bí-sô y may xong, y Yết-sỉ-na lại xuất, đặng y phi thời, cần dùng th́ nhận. Nhận rồi phải mau may thành y. Nếu có hy vọng chỗ nào sẽ cúng cho đủ, nếu không đủ được phép chứa một tháng, chứa quá Ni-tát-kỳ Ba-dật-để-ca ”.

+ Nếu lại có Bí-sô y đă may xong, y Yết-sỉ-na lại xuất: (có bốn câu như trước). Đặng y phi thời: Lúc nào gọi là thời, lúc nào gọi là phi thời ?

- Thời là trú xứ nào không thọ y Yết-sỉ-na, trong ṿng một tháng, từ ngày mười sáu  tháng tám đến ngày mười lăm tháng chín. Nếu trú xứ nào có thọ y Yết-sỉ-na th́ trong ṿng năm tháng, từ ngày mười sáu tháng tám đến ngày mười lăm  tháng giêng, như vậy gọi là thời. Ngoài thời gian nói trên ra gọi là phi thời.

- Nếu có hy vọng nơi nào cúng, nghĩa là thiếu vải nên chờ xin cho đủ nên chứa. Trong ṿng một tháng hy vọng nơi cha mẹ, anh em, chị em, sư chủ v.v… Các chỗ sẽ cho ta y. Hoặc là ngày hội năm năm, ngày hội sáu năm, hoặc là ngày hội thăng chức, ngày hội măn năm, ta sẽ nhận được y, nếu đủ th́ tốt. Nếu trong ba y có một y không đủ th́ được chứa ngang bằng một tháng, chứa cất quá thời gian ấy, Ni-tát-kỳ Ba-dật-để-ca (nói đầy đủ như trước).

Trong vấn đề này tướng phạm như thế nào ?

Nhiếp tụng:

          Chỗ hy vọng hay không.

          Chỗ vải cầu khác loại

          Mới cũ phấn tảo khác

          Điều số lượng khuỷu tay.

- Nếu Bí-sô, ngày thứ nhất trong tháng được ít vải màu xanh chứa để, chưa may, có chỗ hy vọng cho thêm. Nếu khi nhận được y đồng một màu như vậy, ta sẽ may y. Ngay trong ngày nhận được y cùng màu, Bí-sô trong ṿng mười ngày phải may thành y, để tŕ, để xả, để tác pháp. Nếu không tŕ, không xả, không tác pháp, đến ngày thứ mười một, tướng mặt trời xuất hiện, Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca.

- Bí-sô ngày thứ nhất không nhận được loại y nào, ngày thứ hai, thứ ba, cho đến ngày thứ mười đều nhận được y. Bí-sô kia, trong mười ngày đó may thành y, để tŕ, để xả, để tác pháp. Nếu không tŕ, không xả, không tác pháp, đến ngày thứ mười một, tướng mặt trời xuất hiện, Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca.

- Bí-sô mười ngày không nhận được các loại y, ngày thứ mười một, thứ mười hai, cho đến ngày thứ mười chín cũng đều không nhận được y; ngày thứ hai mươi mới nhận được các loại y, liền nên như trước tác pháp, Nếu không tác pháp phạm Xả đọa.

- Bí-sô, hai mốt ngày không nhận được các loại y, đến ngày  thứ hai mươi chín mới nhận được y, trong ba mươi ngày may thành y, để tŕ, để xả, để tác phân biệt. Nếu không tŕ, không xả, không tác phân biệt, đến ngày thứ ba mươi mốt, tướng mặt trời xuất hiện, Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca. Do thời gian trước đặng y, tướng nhiễm nối tiếp nhau như vậy. Đặng y màu xanh như vậy, đặng các y màu khác, cũng đồng như đây.

- Nếu Bí-sô, ngày thứ nhất nhận được y màu xanh, không may thành y v́ thiếu, chứa để mà không có hy vọng chỗ nào sẽ cho, lại khởi ư nghĩ: “Nếu đặng y, đồng màu như vậy ta sẽ may thành y. Ngay ngày ấy đặng y đồng màu như vậy. Bí-sô trong ṿng mười ngày ấy phải may thành y để tŕ, để xả, để tác phân biệt. Nếu không tác pháp đến ngày thứ mười một, tướng mặt trời xuất hiện, Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca.

- Nếu ngày thứ nhất không nhận được các loại y, ngày thứ hai nhận được y, cho đến ngày thứ ba mươi nhận được y… (nói đầy đủ như trước) đến câu: Nhận được y màu xanh như vậy, đặng các loại y màu khác, cũng lại như vậy.

- Nếu Bí-sô ngày thứ nhất nhận được y màu xanh không may, mà chứa, có chỗ hy vọng để cho, xong chỗ hy vọng đó do thời tiết kéo dài, không xứng với sự mong muốn, mà không có cách nào hơn; hoặc ngay ngày nhận được y màu xanh, trong mười ngày nên may thành y… (nói đầy đủ như trên) cho đến ngày ba mưoi mới đặng các loại y màu khác, sự việc đồng như trước đă nói.

- Nếu Bí-sô ngày thứ nhất nhận được y màu xanh, không may, mà chứa, có chỗ hy vọng để cho. Chỗ hy vọng kia, tuy chưa đặng y, tâm chưa chấm dứt, hoặc đối với ngày nhận được y màu xanh… (nói rộng như trước).

- Nếu ngày thứ nhất đặng y màu xanh, không may thành y v́ thiếu, mà cất chứa, ḷng có hy vọng. Nếu chỗ hy vọng đều bị đoạn tuyệt, Bí-sô nhận được y kia, trong mười ngày nên tŕ, nên xả… (như trước).

          Lúc bấy giờ, Cụ thọ Ô-ba-ly bạch Phật:

- Kính bạch đức Thế Tôn! Có bao nhiêu loại y ?

Đức Phật dạy:

- Có hai loại y. Một là loại mới, hai là loại cũ. Mới tức là mới may, cũ tức là đă trải qua bốn tháng mặc dùng.

Này, Ô-ba-ly! Lại có năm loại y: một là y có thí chủ; hai là y không có thí chủ, ba là y văng hoàn, bốn là y người chết, năm là y phấn tảo.

Thế nào gọi là y có thí chủ ?

Nghĩa là có nam, nữ, Bán-trạch-ca làm người thí chủ của y.

Thế nào gọi là y không có thí chủ ?

Nghĩa không có nam, nữ, Bán-trạch-ca làm người thí chủ của y.

Thế nào gọi là y văng hoàn ?

Tức là như có người chết, quyến thuộc nhớ thương, dùng y phủ lên trên thây chết, khiêng đến chỗ thiêu, thiêu xác chết rồi đem y ấy về đặng cho chúng Tăng.

Thế nào gọi là y người chết ?

Tức là trong rừng thây chết, áo của người chết không có chủ sở hữu.

Thế nào gọi là y phấn tảo ?

Y này có năm loại: Một là y bỏ trên đường bộ; hai là bỏ nơi chỗ đổ rác; ba là y bỏ bên bờ sông; bốn là y bị kiến nhấm; năm là y phá nát.

Lại có năm loại y: một là y bị lửa cháy; hai là y bị nước ngâm; ba là y bị chuột gặm; bốn là y bị trâu nhơi; năm là y của bà mẹ đẻ con xong vất bỏ.

Bí-sô nhận được vải mới muốn may y, phải giặt nhuộm cắt may, Tăng-già-chi hai lớp, Ni-sư-đăn hai lớp, Ốt-đát-la-tăng-già một lớp, An-đát-bà-ta một lớp.

Nếu Bí-sô may Tăng-già-chi hai lớp rồi lại may lớp thứ ba, khi điểm tịnh, phạm tội Ác tác, cho đến ngày thứ mười một, tướng mặt trời xuất hiện lại phạm Xả-đọa.

Bí-sô đối với Tăng-già-chi mới, xé ra dùng làm khăn gói đồ khi xé phạm tội Ác tác, đến ngày thứ mười một tướng mặt trời xuất hiện bèn phạm Xả đoạ.

Bí-sô đối vời Tăng-già-chi mới, xé ra giặt nhuộm và nhiếp trở lại th́ không phạm, đến ngày thứ mười một, tướng mặt trời xuất hiện không vá nhiếp cho xong phạm Ny-tát-kỳ. Tăng-già-chi như vậy, Ni-sư-đăn... Đều đồng như vậy.

Nếu Bí-sô có y mới Ốt-đát-la-tăng-già may chồng lên lớp thứ hai, khi chồng thêm mắc tội Ác tác, đến ngày thứ mười một, khi tướng mặt trời xuất hiện, phạm tội Xả đoạ. Y An-đát-bà-ta cũng như vậy.

Nếu Bí-sô nhận được vải cũ muốn may y, nên giặt nhuộm, cắt, may, Tăng-già-chi bốn lớp, Ni-sư-đăn cũng bốn lớp, Ốt-đát-la-tăng-già và An-đát-bà-ta hai lớp.

Nếu Bí-sô, Ốt-đát-la Tăng-già và An-đát-bà-ta hai lớp lại nếu muốn thêm lớp thứ ba, khi thêm phạm tội Ác tác, đến ngày thứ mười một, khi tướng mặt trời xuất hiện, phạm tội Xả đọa.

Bí-sô đối với y nhiều lớp này nếu muốn xé để vá hay không vá, có phạm, không phạm, như trước đă nói.

Bí-sô nhận được y có chủ, y không chủ, y văng hoàn, y người chết, chuẩn theo y mới, y cũ, y nhiều lớp này nên biết. Nếu là y phấn tảo th́ may mấy lớp tùy ư chứ không hạn định.

Lúc bấy giờ, Cụ thọ Ô-ba-ly bạch phật:

- Kính bạch Đại đức! Tăng-già-chi cho mấy loại ? Điều số thế nào ?

Đức Phật bảo Ô-ba-ly:

- Có chín loại khác nhau: Tức chín điều, mười một điều, mười ba điều, mười lăm điều, mười bảy điều, mười chín điều, hai mươi mốt điều, hai mươi ba điều, hai mươi lăm điều. Này Ô-ba-ly! Ba loại của cấp dưới, hai dài, một ngắn. Ba loại của cấp giữa, ba dài, một ngắn. Ba loại của cấp trên, bốn dài, một ngắn. Nên may nên thọ tŕ. Quá mức lượng này thành phá nạp.

Ô-ba-ly-bạch-phật:

- Bạch đức Thế Tôn! Y lớn, y nhỏ bao nhiêu thứ ?

Đức phật dạy:

- Y Tăng-già-chi ba thứ, tức Thượng, Trung, Hạ.

Bậc Thượng bề đứng ba khuỷu tay, bề ngang năm khuỷu tay, bậc Hạ bề đứng hai khuỷu rưỡi tay; bề ngang bốn khuỷu rưỡi tay; chặng giữa hai bậc gọi là bậc Trung.

Ốt-đát-la-tăng-già và An-đát-bà-ta cũng có ba thứ, tức Thượng, Trung, Hạ, mức lượng như Tăng-già-chi đă nói.

Này Ô-ba-ly lại có hai loại An-đát-bà-ta: Bề đứng hai khuỷu tay, bề rộng năm khuỷu tay. Bề đứng hai khuỷu tay, bề rộng bốn khuỷu tay.

Nếu bật thứ nhất của An-đát-bà-ta chỉ trùm ba luân. Trong số y thọ tŕ, y này là nhỏ nhất.

Nếu y Ni-tát-kỳ nhỏ nhất, chỉ bằng tung hoành một khuỷu tay. Nếu Bí-sô phạm Xả đọa nên làm ba việc, như trước đă nói.

Trường hợp không phạm: Người phạm ban đầu, hoặc si cuồng tâm loạn thống năo sở triền.

 

Học xứ thứ 4: Sai Ni không phải bà con giặt y cũ ?

 Lúc bấy giờ, Bồ-tát từ Đổ Sử Thiên giáng hạ, thác sanh nơi thành Kiếp-tỳ-la, nhà vua Tịnh Phạm. Khi ấy tiếng đồn khắp bốn phương. Họ Thích-ca sanh được Thái tử, tại cạnh núi Tuyết bên ḍng sông Diêm thuộc thành Kiếp-tỷ-la, chỗ Tiên nhơn ở.

Cách đó không xa có Tiên nhơn Bà-la-môn, tên là A-tư-đà, rất giỏi về tướng số và bói toán. Nhà vua triệu đến để xem tướng Thái tử. Nhà tướng số A-tư-đà đă quyết đoán: “Một là Thái tử ở đời th́ làm vua Chuyển luân, nhiếp hóa bốn thiên hạ, một vị đại Thánh chúa, bảy báu như là Luân bảo, Tượng bảo, Mă bảo, Châu bảo, Nữ bảo, Chủ tàng thần bảo, Chủ binh thần bảo đầy đủ. Thiên tử viên măn, có oai lực lớn, dũng kiện không ai hơn, đủ khả năng hàng phục oán địch. Trên đại địa, khắp bốn biển không có đạo tặc, cũng không có h́nh phạt nặng. Dùng pháp lư để an ổn cuộc sống cho mọi người. Hai là Thái tử xuất gia, cạo bỏ râu tóc, dùng ḷng chánh tín, từ nhà đến chỗ chẳng phải nhà, sẽ đắc thành quả Phật, Ứng Chánh Biến Tri, tiếng đồn mười phương, giáo hóa cứu giúp các loài”.

Bấy giờ Đại vương trên các nước, thảy đều nghe biết Thái tử Thích-ca sanh ở Tuyết sơn, cho đến tiếng đồn mười phương, giáo hóa cứu giúp các loài. Các Đại vương đều khởi lên ư niệm: “Nay, ta nên đến thừa sự Thái tử, sau này sẽ được thọ phước lộc của Người”. Lại khởi ư nghĩ: “Nay, ta không có duyên để thấy được Thái tử, ta thừa sự vua Tịnh-phạn tức là thừa sự Thái tử”. Khi ấy các quốc vương đều sai sứ thần mang quốc tín đến chỗ vua Tịnh-phạn.

Sau khi ra đời, Bồ-tát được nuôi dưỡng nơi thâm cung, tuổi dần khôn lớn, mục kích lăo, bịnh, tử, ḷng đầy ưu năo, bèn đến trong rừng, buông bỏ mọi việc của đời. Các quốc vương nghe như vậy, đều suy nghĩ: “Từ lâu, ta sở dĩ phụng sự vua Tịnh-phạn là v́ Thái tử, mà nay Thái tử đă vào trong rừng với ḷng mong cầu sự thoát ly, vậy ta c̣n v́ lư do ǵ để phải chạy theo việc làm phí công tổn sức”. Do vậy, các sứ thần và các quốc tín thảy đều chấm dứt sự quan hệ với vua Tịnh-phạn.

Lúc ấy, Đại Vương Thắng Quang cùng với quốc vương Tịnh-phạn, là lân quốc có chung biên giới. Mặc dù, tín vật tuy chấm dứt nhưng sứ thần vẫn c̣n tới lui. Sau một thời gian, qua sự t́m hiểu, biết vị sứ thần của nước ấy tên là Mật Hộ.

Mỗi lần đại thần Mật Hộ đến vua Tịnh-phạn, luận bàn việc nước xong, bèn đến nhà vị đại thần Ô-đà-di để nghỉ ngơi. Ngược lại vua Tịnh-phạn muốn sai sứ thần đến trao đổi vấn đề ǵ với vua Thắng Quang th́ sai đại thần Ô-đà-di đến. Mỗi lần Ô-đà-di đến thành Thất-la-phạt, sau khi yết kiến vua Thắng Quang, luận bàn vương sự xong, bèn đến nhà sứ thần Mật Hộ để nghỉ ngơi.

Đại thần Mật Hộ có người vợ tên là Cấp-đa, nhan sắc đoan nghiêm, cái sắc đẹp dễ vui ḷng người. Ô-đà-di bèn cùng với Cấp-đa làm việc phi pháp. Khi Mật Hộ nghe đồn vợ ḿnh cùng với Ô-đà-di có tư t́nh giao mật, th́ lại có ư nghĩ: “Phải đoạn mạng hai tên xấu ác này”. Sau đó, lại nghĩ: “Nếu ta thanh toán như vậy, gây nên sự ưu loạn nơi vương thành, tạo thành sự kinh hoảng sợ sệt xôn xao: Tại sao v́ tội lỗi của vợ ḿnh mà lại giết Bà-la-môn ư ?!” Nghĩ như thế rồi bỏ qua sự việc không đề cập đến.

Thời gian sau, Mật Hộ qua đời. Bấy giờ vua Thắng Quang lấy cớ không có con, nên tài sản phải nhập vào kho của nhà vua. Ô-đà-di nghe sự việc như vậy rồi, bèn khởi ỹ nghĩ: “Ta c̣n sống đây, tại sao lại để cho Cấp-đa không có chỗ nương nhờ”. Qua một đêm suy nghĩ điều lợi, điều hại, sáng ngày sau đến chỗ vua Tịnh-phạn, bạch:

- Tâu Đại vương! Quốc vương cùng với quốc vương Thắng Quang cương giới tiếp nhau, thấy việc bất ẩn, bất tiện như vậy, nên sai sứ thần đến đó để trù đạt. Nếu không tham vấn sẽ đưa đến tai họa.

Vua Tịnh-phạn liền nói:

- Khanh nên làm vị sứ thần đến đó để thương lượng.

Khi ấy, Ô-đà-di liền đến thành Thất-la-phạt lại suy nghĩ: “Ta nên đến yết kiến nhà vua trước hay đến gặp vị đại thần của nhà vua trước”. Nghĩ như vậy lại cân nhắc suy tính: “Phép cầu được việc, lư phải từ dưới đi lên”, Ô-đà-di liền đến chỗ vị đại thần của nhà vua tŕnh bày tất cả ư nghĩ của ḿnh:

- Rằng tôi muốn Ngài thưa lên nhà vua cho tôi được lấy Cấp-đa. Mong Ngài làm ơn giúp tôi có lời thưa tŕnh với vua cho việc này.

Vị đại thần nghe xong thể tất sự việc.

Sau đó, Ô-đà-di đến chỗ vua Thắng Quang, luận bàn quốc sự rồi liền bạch với nhà vua:

- May mắn xin Đại vương chỉ định cho tôi chỗ tạm trú để nghỉ ngơi.

Nhà vua hỏi:

- Từ trước khanh đă từng tạm trú nơi nào ?

Ô-đà-di thưa:

- Trước đây tôi từng tạm trú nơi nhà của đại thần Mật Hộ.

Nhà vua nói:

- Hôm nay cũng nên đến đó để tạm trú.

Nhân đó Ô-đà-di tâu:

- Bạch Đại vương! Đại thần Mật Hộ, nay đă qua đời rồi.

Nhà vua bảo:

- Chủ nhà tuy chết, song nhà của họ đâu có chết ?

Ô-đà-di thưa:

- Bạch Đại vương! Nhà của họ tuy không chết, mà tài sản của họ hiện không c̣n thứ ǵ để dùng!

Nhà vua Thắng Quang ra lệnh cho đại thần của vua rằng:

- Cần t́m chỗ nào để Ô-đà-di tạm trú yên ổn được chăng!

Ô-đà-di vừa bước ra khỏi cung đ́nh, vị đại thần tâu với vua:

- Đâu phải Ô-đà-di không có chỗ tạm trú, xong ông ta, trước đây cùng với Cấp-đa giao thông, nhơn đây bổn ư của ông ấy muốn được nhà vua chấp nhận. Nếu, nay nhà vua chấp nhận để nắm lấy người ấy tức là nắm lấy được vua Tịnh-phạn vậy.

Vua Thắng Quang liền ra lệnh triệu Ô-đà-di đến nói:

- Này, Ô-đà-di! Thật sự ta không biết khanh cùng với Cấp-đa trước đây có giao mật. Nay đem Cấp-đa cho khanh làm vợ. Tài vật cùng nhà cửa thảy đều tương cấp.

Ô-đà-di lúc đó cuối ḿnh bái tạ lui ra.

Lúc bấy giờ, Cấp-đa nghe Ô-đà-di đến nhà, lần ra cửa đón rồi khóc ̣a nức nở.

Ô-đà-di hỏi:

- Tại sao Cấp-đa khóc kể ?

Cấp-đa bảo:

- Phu chủ khả ái của em đă qua đời! Nay, anh lại bỏ em nữa th́ không khóc kể sao được!

Ô-đà-di ngọt giọng nói:

- V́ sự quan hệ ấy nên nay tôi đến đây. Tôi đă tŕnh báo với nhà vua rồi. Em và tài sản nhà em đều được tương cấp. Em ở lại đây hay muốn về bên thành Kiếp-tỷ-la tùy ư.

Cấp-đa tự suy nghĩ: “Nếu ta về bên thành Kiếp-tỷ-la th́ vợ của Bà-la-môn không để ta sống. Ta nên ở lại ngôi nhà cũ của ta”. Thế là, Ô-đà-di có hai nhà: một tại Kiếp-tỷ-la, một tại Thất-la-phạt.

Trong thời gian sáu năm, Bồ-tát không có một vật ǵ gọi là sở hữu của ḿnh. Sau thời gian tu khổ hạnh, Ngài bèn tùy ư thọ một thứ uống thượng diệu, sau đó ăn uống, dùng tô du thoa khắp thân thể, tắm gội bằng nước nóng.

Ngài bèn đến tụ lạc Thắng Quân, chổ ở của hai mục ngưu nữ, một tên là Hoan Hỷ, một tên là Hỷ Lực. Ngài thọ một loại cháo nấu nhừ bằng mười sáu loại sữa, sự ăn uống làm cho cơ thể được hồi phục.

Ngài đến chổ nam tử Thiện Hạnh lấy cỏ cát tường. Hắc Long vương khen ngợi Bồ-tát hướng đến dưới cây Bồ-đề tự tay trải cỏ bằng phẳng ngay ngắn rồi ngồi lên hai chân chéo lên nhau, đoan thân chánh niệm, ḷng nghĩ miệng nói: “Nếu ta chưa đoạn hết các lậu hoặc ta thề không đứng dậy”. Quả thật các lậu đă đoạn hết, trong tư thế ngồi thiền quán của Bồ-tát.

Đức Thế Tôn hàng phục ba mươi sáu ức ma quân rồi, chứng nhất thế trí, nhận lời Phạm Vương thỉnh đến nơi Bà-la-nê-tư, ba lần chuyển mười hai hành pháp luân, độ năm Bí-Sô và hướng dẫn năm Bí-Sô rồi, đến trong rừng Bạch Điệp độ sáu mươi Hiền bộ, khiến trụ nơi Kiến đế.

Ngài trở lại nơi tụ lạc Thắng Quân độ hai mục ngưu nữ khiến cho họ cũng trụ nơi kiến đế. Ngài đến bên rừng Ô-lư-tân-loa độ một ngàn ngoại đạo xuất gia thọ cụ. Ngài đến trên đỉnh núi Già-da, hiện ba thần biến giáo hóa, khiến hàng Bồ-tát, chư thiên trụ an ẩn Niết-bàn. Ngài đến Trượng Lâm khiến cho Ma-kiệt-đà chủ, Tân-tỳ-ta-la vương trụ nơi Kiến Đế.

Ngài lại độ tám mươi trăm ngàn các Thiên chúng, vô lượng trăm ngàn Bà-la-môn nước Ma-kiệt-đà v.v… Kế đến Ngài đến thành Vương-xá nhận tịnh xá Trúc lâm, đồng thời cho Thân Tử, Mục-liên xuất gia thọ cụ. Sau đó, ngài đến thành Thất-la-phạt, nhận rừng Thệ-đa vườn ông Cấp-cô-độc. Cuối cùng, Ngài đến Kiều-tát-la nói kinh Thiếu Niên, khiến vua Thắng Quang đắc Kiến đế rồi, trụ nơi rừng Thệ-đa.

Lúc bấy giờ, vua Thắng Quang sai người đến vua Tịnh-phạn báo tin mừng là Thái Tử đă chứng Vô thượng chánh giác cũng khiến cho loài hữu t́nh đồng hưởng cam lồ. Nay, Ngài hiện ở nơi rừng Thệ-đa.

Vua Tịnh-phạn nhận được tin này rồi, lấy tay chống má, ḷng ôm ưu sầu, than: “Xưa kia khi Thái tử Nhất Thế Nghĩa Thành tu khổ hạnh, ta thường sai xứ hỏi xem Thái tử có b́nh an không! Sứ giả t́m kiếm thăm rồi trở về báo cáo với ta chổ tu cuả Thái tử. Ta lại sai người đi thăm, không thấy ai trở về. Nay lại nói là Thái tử đến ở trong rừng Thệ-đa việc ấy là thế nào ?”

Ngay thời điểm ấy, đại thần Ô-đà-di đến nơi vương cung, thấy sự việc như vậy liền bạch:

- Bạch Đại Vương! Sao ngài chống tay nơi má, mà sống trong sự ưu sầu như vậy ?!

Vua Tịnh-phạn trả lời:

- Làm sao trẫm không ôm ḷng ưu năo được ? Trước kia khi Thái tử Nhứt Thế Nghĩa Thành tu khổ hạnh, trẫm thường sai người đến hỏi xem Thái Tử có b́nh an không ?. Sứ giả t́m đến về báo cáo với ta chổ tu của Thái tử. Vừa rồi sai người đến thăm th́ không thấy trở về báo cáo. Nay, lại được tin: Nhất Thế Nghĩa Thành Thía tử chứng Vô thượng chánh giác, cũng khiến cho loài hữu t́nh đồng nếm vị Cam lồ, hiện đến trụ nơi rừng Thệ-đa. Như vậy làm sao không ưu sầu ?!

Khi ấy, Ô-đà-di liền bạch với vua:

- Trước sự việc như vậy, thần xin đến đó, t́m hiểu tin tức rồi về tâu với vua.

Vua Tịnh-phạn hạ lệnh:

- Khanh đến t́m hiểu rồi về báo cáo chứ đừng ở luôn nhé!

Ô-đà-di thưa:

- Thần xin phụng mạng. Đoan chắc thần sớm trở về để báo cáo đến Đại Vương.

Ngay khi ấy, vua Tịnh-phạn, tự tay viết thư:

                   Từ thọ thai về sau

                   Tôi nuôi dưỡng Thế Tôn

                   Lữa phiền năo thường đốt

                   Măi mong cây Tối thắng.

                   Nay  đă lớn khôn rồi

                   Đồ chúng số vô biên

                   Mọi người thọ an lạc

                   Riêng ḿnh tôi chịu khổ!

Viết xong, đóng ấn, giao cho Ô-đà-di. Ô-đà-di mang thư tín nhà vua đến nơi thành Thất-la-phạt, đến chỗ Thế Tôn ngự, dâng lên sắc thư. Đức Thế Tôn nhận thư tín, liền tự tay mở ra xem. Khi ấy, Ô-đà-di bạch với Thế Tôn:

- Thế Tôn có thể về thành Kiếp-tỷ-la chăng!

Đức Thế Tôn bảo Ô-đà-di:

- Tôi cùng đi với ông.

Ô-đà-di nhớ lại ngày xưa, khi Thái tử vượt thành xuất gia, Phụ vương luôn luôn kêu về, Thái tử không về, nên bạch lại với Phật:

- Nếu Thái Tử không chịu trở về, th́ tôi có khả năng tạo điều kiện để Ngài về.

Đức Thế Tôn nghe câu nói đó rồi liền nói bài kệ để trả lời cho Ô-đà-di:

                   Lưới ái sanh tử nếu trừ hết

                   Đây chẳng cần người dẫn đường đi

                   Thế Tôn oai lực không cùng tận

                   Phương tiện nào ông thể dẫn đi ?

                   Lưới ái dục, sanh tử trừ xong

                    Đây chẳng cần ai dẫn đường đi

                   Cảnh giới Thế Tôn không xứ sở

                   Phương tiện ǵ ông thể đưa đi ?

 

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ-TỲ-NẠI-DA

QUYỂN 17 – (hết).



[1] Ca-nhiếp-ba, c̣n gọi là Ca-diếp-ba.