CĂN BẢN THUYẾT
NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA
TAM
TẠNG PHÁP SƯ NGHĨA TỊNH PHỤNG CHẾ DỊCH.
Học xứ thứ hai: Ĺa ba y.
Lúc bấy giờ,
Bạc-già-phạm ở nơi thành Thất-la-phạt,
rừng Thệ-đa, vườn Cấp-cô-độc. Khi
ấy, các Bí-sô chứa nhiều ba y. An cư nơi nào, được
y tài, giặt, nhuộm, cắt, xếp gói lại đem
gởi nơi Bí-sô Chủ Nhơn, chỉ mặc hai y đi
du hành trong nhân gian. Sau thời gian cất giữ, Bí-sô kia không
về, Bí-sô Chủ Nhơn đem ra hong phơi, tốn công
sức mất nhiều th́ giờ, không có th́ giờ
nhiếp niệm, đọc tụng, yên tỉnh tư duy.
Các Bí-sô cơ hiềm, bày tỏ điều không như ư
nói:
- Tại sao Bí-sô
chứa nhiều y dư, gây trở ngại chánh nghiệp
cho kẻ khác ?!
Thế
rồi các Bí-sô đem nhơn duyên này tŕnh bày đầy
đủ với đức Thế Tôn. Đức Thế
Tôn dùng nhơn duyên này tập hợp chúng Bí-sô, v́ các Bí-sô khen
ngợi các vị thiểu dục, tu chánh hạnh
Đỗ-đa, bảo các Bí-sô:
- Ta v́
mười điều lợi…V́ các Bí-sô chế Học
xứ này như sau:
“Nếu lại có Bí-sô may y đă
xong, y Yết-sỉ-na lại xuất, ĺa một trong ba y,
ngủ ngoài giới, cho đến một đêm,
Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.
Đức Phật ở thành Vương-xá,
trong rừng Trúc. Lúc ấy, Cụ thọ Đại
Ca-diếp-ba cũng ở trong thành này, nơi hang Tây-ni-ca.
Khi ấy, Tăng-già cùng trong một cương giới
trưởng tịnh. Các Bí-sô đến ngày thứ
mười lăm khi trưởng tịnh đều có
mặt đông đủ, chỉ đợi Đại
Ca-diếp-ba. Bấy giờ Ngài Đại Ca-diếp-ba
từ hang động đi đến, trên tuyến
đường đi gặp trời mưa nước
sông lớn. Khi Ngài lội qua sông bị ướt y
đại, phải vắt nước để phơi,
đợi khô, măi đến chiều mới đến
địa điểm trưởng tịnh Ngài an tọa
nơi chỗ ngồi của Ngài trong Đại chúng. Các
Bí-sô bạch Ngài:
- Tất
cả chúng tôi tập hợp đông đủ từ lâu,
chỉ đợi Tôn giả. Tại sao Tôn giả
đến trễ ?
Khi ấy, Cụ thọ Đại
Ca-diếp-ba, đối trong Đại chúng thuật
lại sự việc đă xảy ra đầy đủ
và nói:
- Tôi là Ca-nhiếp-ba[1]
tuổi già sức yếu, đại y vừa dày vừa
nặng, duy chuyển thật là khó, cho nên đến
trễ. Nay, tôi không biết giải quyết việc ấy
như thế nào!
Thế rồi, các Bí-sô đem nhơn duyên này
tŕnh bày đầy đủ với đức Phật.
Đức Phật dạy:
- Này các Bí-sô!
Bí-sô Ca-nhiếp-ba tuổi già sức yếu, các vị nên
tác pháp Yết-ma bất ly Tăng-già-chi. Nếu có vị nào
như vậy cũng tác pháp như vậy. Đánh kiền
chùy, tập chúng, tối thiểu bốn vị
được tác pháp.
Sau đó, Bí-sô Ca-nhiếp-ba tùy theo cấp
bực lớn nhỏ kính lễ xong, đến
trước Thượng tọa ngồi chồm hỏm,
chấp tay, tác bạch:
- Đại
đức Tăng-già lắng nghe! Tôi là Bí-sô Ca-nhiếp-ba
tuổi già sức yếu, nay đến trước chúng
Tăng xin pháp bất ly Tăng-già-chi v́ tuổi già sức yếu.
Từ mẫn cố! (nói như vậy 3 lần).
Khi các Bí-sô
đến tác pháp Yết-ma. (Trong 101 Yết-ma có thuật
đầy đủ). Tăng-già đă cho Bí-sô kia tác pháp
bất ly Tăng-già-chi rồi th́ vị ấy mặc hai y,
thượng và hạ, du hành trong nhơn gian không có ǵ nghi
hoặc.
Trong cuộc
họp ấy, Ngài Xá-lợi-tử cũng có mặt, nhân
đó Ngài bạch với các Bí-sô:
- Tôi bị
bệnh phong mà y Tăng-già-chi nặng không thể vác hay mang
đi được. Việc này nên giải quyết
thế nào ?!
Các Bí-sô nghe,
rồi bạch với đức Phật. Đức
Phật dạy:
- Các vị nên
trao cho Xá-lợi-tử pháp bất ly Tăng-già-chi v́ Bí-sô
ấy có bệnh phong. Ngoài ra, vị nào cũng trong
trường hợp đó cũng làm như vậy. Tập
chúng như thường lệ, cho đến tối
thiểu là bốn người, nên xin giữa chúng.
Chuẩn theo pháp Ca-diếp-ba đă xin mà tác pháp Yết-ma
đă làm. Đă đắc pháp rồi, đồng như
trước mà du hành.
Lúc bấy
giờ, đức Thế Tôn khen ngợi tŕ giới,
thiểu dục tri túc khổ hạnh, là đoan nghiêm
hơn hết và Ngài bảo các Bí-sô:
- Trước
là sáng chế sau là tùy khai, v́ các Bí-sô chế Học xứ
này như sau: “Nếu lại có Bí-sô may y đă xong, y
Yết-sỉ-na lại xả, ĺa một trong ba y, ngủ
ngoài giới, cho đến một đêm, trừ chúng tác
pháp, Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.
+ Y đă xong,
y Yết-sỉ-na lại xuất, có bốn câu sai biệt
(nói đầy đủ như trước). Nói ĺa một
y, tức là trong ba y, ĺa một
cái, khác giới mà ngủ. Cho đến tướng
mặt trời xuất hiện trừ Tăng yết-ma,
Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca. Vật đă phạm
phải xả, tác pháp đồng như trước.
Trong vấn
đề này tướng phạm
như thế nào ?
Nhiếp tụng:
Một, hai, nhiều thôn xá
Tường, rào, hào
vây quanh.
Kỹ nhạc nhà
ngoại đạo
Phố quán lấy
lầu trường
Nhà xe, thuyền,
rừng cây
Ở trong bốn oai
nghi
Hộ y nên khéo
biết.
Có một thôn
xá, hai thôn xá, nhiều thôn xá. Tường bao quanh thôn, rào bao
quanh thôn, hào bao quanh thôn. Một thôn có một thế
phần, có nhiều thế phần. Nhiều thôn có một
thế phần, có nhiều thế phần.
Một nhà có
một thế phần, có nhiều thế phần.
Nhiều nhà có một thế phần, có nhiều thế
phần cứ như vậy nên biết: nhà kỹ nhạc,
nhà ngoại đạo, phố, quán, lầu và trường
đường, xe thuyền và rừng cây đều có
một thế phần, có nhiều thế phần, bốn
loại không đồng.
- Thế nào
gọi là một thôn xá ?
Một khu
vực gồm có núi, đồng nội, người, th́
gọi là một thôn xá. Khu vực này phạm vi bao nhiêu th́
gọi là một thôn xá.
Khu vực này
phạm vi bao nhiêu th́ gọi là một thế phần ?
Gồm cả
trong và ngoài nhà độ một tầm. Lại nữa,
một chỗ có khả năng tụ hội người
để xây, giă, sao, mài, ăn uống… Cũng gọi là
một thế phần.
Nếu y
của Bí-sô ở trong nhà, thân ở thế phần;
hoặc y ở thế phần, thân ở trong nhà, khi
tướng mặt trời xuất hiện, đều
không phạm.
Nếu
để y trong nhà và thế phần thân ở chỗ khác
cho đến trước khi mặt trời xuất
hiện th́ phạm tội Ác tác, khi tướng mặt
trời xuất hiện phạm Ny-tát-kỳ
Ba-dật-để-ca. Một nhà như vậy, hai nhà
cũng thế.
- Thế nào
gọi là nhiều thôn xá ?
Trong một
thôn người và nhà cửa xây dựng không có trật tự, trong nếp
sống lộn xộn. Trường hợp này phạm vi
bao nhiêu gọi là thế phần, đồng hay là khác ? Trường
hợp thôn đây không thế phần, có khác không
đồng, ĺa phân tề của y, dựa theo nhà làm tiêu
chuẩn.
- Thế nào
gọi là tường vây quanh thôn ?
Tức là
bốn bề của thôn có tường vây quanh.
Trường hợp này phạm vi bao nhiêu gọi là thế
phần ? Trong và ngoài tường gồm một tầm.
Lại nữa, ngang bằng với không gian của con gà bay
rồi đáp xuống. Lại nữa, ngang bằng với
chỗ người biết tàm quư đi tiện lợi.
Đây là thế phần ngoài ra như trước đă
nói.
- Thế nào
gọi là rào vây quanh thôn ?
Tức
bốn bề của thôn có rào bao quanh. Trường hợp
này phạm vi bao nhiêu gọi là thế phần ? Trong và ngoài
rào gồm một tầm; lại nữa, ngang bằng
với chỗ mười hai khuỷu tay đo
được; lại nữa ngang bằng với chỗ
cổ xe chở tre, sáu con ḅ kéo, quay đầu lại
được. Đây là thế phần.
- Thế nào
gọi là hào vây quanh thôn ?
Bốn bề
của thôn có hào xung quanh. Trường hợp này phạm vi
bao nhiêu gọi là thế phàn ? Trong và ngoài hào gồm một
tầm; lại nữa ngang bằng với chỗ mà
bụi của chân con trâu, con dê đi bay đến; lại
nữa ngang bằng với chỗ của một viên
sỏi lớn từ trong giỏ rác được
đổ văng ra. Đó là thế phần.
-Thế nào
gọi là một thôn có một thế phần ?
Tức là thôn
ấy có vườn rừng, một thần miếu,
chỗ chúng tập hợp, như vậy là một thôn có
một thế phần. Trường hợp này, trong
phạm vi bao nhiêu gọi là thế phần ? Tức là
phạm vi ngoài vườn, rừng một tầm; lại
nữa ngang bằng với tụ hội để xay, giă,
sao, mài, nấu nướng, ăn uống. Đó là thế
phần.
-Thế nào
gọi là một thôn có nhiều thế phần ?
Tức là
nơi thôn ấy có nhiều vườn, rừng, nhiều
thần miếu, chỗ tụ tập đông. Như
vậy gọi là một thôn có nhiều thế phần.
Phạm vi này bao nhiêu gọi là thế phần, khác hay
đồng ? Đây không có thế phần chỉ dựa
vào trong một cái thất mà nói.
- Thế nào gọi là nhiều thôn có một
thế phần ?
Tức nhiều thôn có một vườn
rừng, một thần miếu, chỗ chúng tập
hợp. Như vậy gọi là nhiều thôn có một
thế phần. Phạm vi này bao nhiêu gọi là thế
phần ? Trong thôn luôn cả ngoài thôn đều có một tầm.
Lại nữa, ngang bằng với chỗ tụ hội
để xay, giă, mài, sao, nấu nướng, ăn
uống, cũng gọi là thế phần.
- Thế nào
gọi là nhiều thôn có nhiều thế phần ?
Tức là
nhiều thôn có nhiều vườn rừng, nhiều
thần miếu, chỗ chúng tụ họp. Như vậy
gọi là nhiều thôn có nhiều thế phần.
Trường hợp này, phạm vi bao nhiêu gọi là thế
phần, có khác hay đồng ? Đây không có thế
phần. Ngoài ra đều như trước.
- Thế nào gọi là một nhà có một
thế phần ?
Tức là trong nhà này chỉ có một gia
trưởng, anh em không chia riêng. Như vậy gọi là
một nhà có một thế phần. Sự việc này
đồng như vấn đề một thôn xá đă nói
ở trước.
- Thế nào
gọi là một nhà có nhiều thế phần ?
Tức trong nhà này có nhiều gia
trưởng, anh em chia riêng nhau. Đây là một nhà có
nhiều thế phần. Ngang bằng mức nào gọi là thế
phần ? Ngang bằng với cửa ra vào, không có thế
phần.
- Thế nào là nhiều nhà, có một thế
phần ?
Tức là trong nhiều nhà, chỉ có một
gia trưởng, anh em không chia ra riêng. Như thế là
nhiều nhà, có một thế phần.
- Thế nào là nhiều nhà, có nhiều
thế phần ?
Tức là nhiều nhà, có nhiều gia
trưởng, anh em chia riêng nhau. Phạm vi bao nhiêu gọi là
thế phần, cái ǵ chung, cái ǵ riêng ? Đây không có thế
phần.
- Thế nào là một nhà kỹ nhạc có
một thế phần ?
Tức là trong nhà này có một gia
trưởng, anh em không chia riêng nhau. Như vậy gọi
là một nhà có một thế phần. Phạm vi bao nhiêu
gọi là thế phần ? – Ngoài phạm vi chung của nhà
gồm có một tầm. Lại nữa, ngang bằng
với chỗ đủ để cái giá trống, đàn
Tỳ-bà, ống tiêu, ống sáo dụng cụ của giàn
nhạc và ban nhạc hội tụ ăn uống, cũng
gọi là thế phần.
- Thế nào gọi là một nhà kỹ
nhạc có nhiều thế phần ?
Tức là trong nhà này có nhiều gia
trưởng, anh em chia riêng nhau. Như vậy gọi là
một nhà có nhiều thế phần. Trường hợp
này, phạm vi bao nhiêu gọi là thế phần, cái ǵ chung, cái
ǵ riêng ? Riêng là căn cứ vào chỗ ở của anh em;
chung là trong phạm vi của giá trống và cờ hiệu.
- Thế nào gọi là nhiều nhà kỹ nhạc có
một thế phần ?
Nghĩa là các nhà này chỉ có một gia
trưởng, anh em không phân chia nhau. Như vậy gọi là
nhiều nhà, có một thế phần. Trường hợp
này, phạm vi bao nhiêu gọi là nột thế phần ? -
Ngoài phạm vi trong nhà gồm
có một tầm. Lại nữa, ngang bằng với
chỗ để giá trống… đều gọi là thế
phần.
- Thế nào gọi là nhiều nhà kỹ
nhạc, có nhiều thế phần ?
Tức là các nhà này có nhiều gia
trưởng, anh em chia riêng nhau. Trường hợp
này, phạm vi bao nhiêu gọi là thế phần ? Cái ǵ
chung, cái ǵ riêng ? Đây không có thế phần.
- Thế nào gọi là một nhà ngoại
đạo có một thế phần ?
Tức là trong nhà này đồng một
kiến giải, không có ư thú riêng biệt. Như vậy
gọi là thế phần. Ngoài phạm vi chung trong nhà gồm có một tầm. Lại
nữa, ngang bằng với chỗ phơi phân ḅ, chất
củi, để quân b́nh, ḷ lửa, dụng cụ cúng
tế, chỗ tụ họp xay, giă, nấu nướng,
ăn uống.
- Thế nào gọi là một nhà ngoại
đạo có nhiều thế phần ?
Tức là trong nhà này có nhiều kiến
giải ư thú bất đồng. Thế phần này, cái ǵ
đồng, cái ǵ khác ? – Tức là ngang bằng với cái
miễu thờ trời.
- Thế nào gọi là nhiều nhà ngoại
đạo có một thế phần ?
Tức là trong các nhà này đồng một
kiến giải, không có ư thú riêng biệt. Đây là thế
phần. Ngoài phạm vi chung của nhà gồm có một
tầm. Lại nữa ngang bằng với chỗ phơi
phân trâu v.v…
- Thế nào gọi là nhiều nhà ngoại
đạo có nhiều thế phần ?
Các nhà này có nhiều kiến giải ư thú
không đồng nhau. Thế phần này, cái ǵ chung, cái ǵ
riêng ? Đây không có thế phần.
- Thế nào gọi là một phố có
một thế phần ?
Tức là trong phố này có một gia
trưởng, anh em không chia riêng nhau. Đây là thế
phần gồm có ngoài phạm vi trung gian chung vừa
một tầm. Lại nữa, ngang bằng với chỗ
đủ để hàng hóa, dụng cụ mua bán giao
dịch như cân lượng…
- Thế nào gọi là một phố có
nhiều thế phần ?
Tức là trong phố đây có nhiều gia
trưởng, anh em chia riêng nhau. Thế phần này cái ǵ
chung, cái ǵ riêng ? - Tức là dựa vào vấn đề giao
dịch giường nằm, ghế ngồi.
- Thế nào gọi là nhiều phố có
một thế phần ?
Tức là các phố này chỉ có một gia
trưởng, anh em không chia riêng nhau. Thế phần này ngoài
trung gian chung gồm có một tầm. Lại nữa, ngang
bằng với chỗ để hàng hóa…
- Thế nào nhiều phố có nhiều
thế phần ?
Tức là trong các phố này có nhiều gia
trưởng hoặc anh em chia riêng nhau. Trường
hợp này, phạm vi bao nhiêu gọi là thế phần, cái
ǵ chung, cái ǵ riêng ? - Đây không có thế phần.
- Thế nào gọi là một quán có một
thế phần ?
Tức là trong quán này có một gia
trưởng, anh em không chia riêng. Thế phần này, ngoài
phạm vi trung gian chung gồm có một tầm. Lại
nữa, ngang bằng với chỗ đủ để
đại mạch, tiểu mạch, dầu, mè, tơ,
lụa… cân đấu để giao dịch.
- Thế nào gọi là một quán có nhiều
thế phần ?
Tức là trong quán này có nhiều chủ quán,
hoặc anh em chia riêng nhau. Phạm vi bao nhiêu gọi là
thế phần ? Cái ǵ chung, cái ǵ riêng ? Tức là chỗ
chứa một vật, để giường, ván
ngồi.
- Thế nào gọi là nhiều quán có một
thế phần ?
Các quán này chỉ có một chủ quán, anh em
chung sống với nhau. Thế phần này, ngoài phạm vi
trung gian chung gồm có một tầm. Lại nữa, ngang
bằng với chỗ đủ để đậu, mè
v.v… các vật.
- Thế nào gọi là nhiều quán có
nhiều thế phần ?
Tức là các quán này có nhiều chủ
quán hoặc anh em không chung
sống với nhau. Phạm vi này bao nhiêu gọi là thế phần ? Cái ǵ
chung, cái ǵ riêng ? Đây không có thế phần.
- Thế nào gọi là một lầu có
một thế phần ?
Tức là trong lầu này có một chủ
lầu, anh em chung sống với nhau. Thế phần này,
ngoài phạm vi trung gian chung gồm có một tầm.
Lại ngang bằng với chỗ tới lui, ăn,
uống, tụ họp .
- Thế nào gọi là một lầu có
nhiều thế phần ?
Tức là trong lầu này có nhiều chủ
lầu, hoặc anh em không chung sống với nhau.
Trường hợp này, phạm vi bao nhiêu là thế phần
? Cái ǵ chung, cái ǵ riêng ? – Nghĩa là chỗ đủ
để cái thang.
- Thế nào gọi là nhiều lầu, có
một thế phần ?
Tức là lầu này có một chủ
lầu, anh em chung sống. Thế phần này, ngoài phạm
vi trung gian chung gồm có một tầm, để tụ
họp ăn uống.
- Thế nào gọi là nhiều lầu, có
nhiều thế phần ?
Tức là trong các lầu này có nhiều
chủ lầu, hoặc anh em không chung sống với nhau.
Phạm vi bao nhiêu là thế phần ? Cái ǵ chung cái ǵ riêng? –
Đây không có thế phần.
- Thế nào gọi là một tràng có một
thế phần ?
Tức là trong tràng này có một tràng chủ,
anh em chung sống với nhau. Thế phần này, ngoài
phạm vi trung gian chung gồm có một tầm, chỗ
đủ để gạo lúa khuông đấu.
- Thế nào gọi là một tràng có
nhiều thế phần ?
Tức là trong tràng này có nhiều chủ
tràng, hoặc anh em không chung sống với nhau. Phạm vi
bao nhiêu là thế phần ? Cái ǵ chung cái ǵ riêng? - Tức là
dựa theo cương giới của tràng.
- Thế nào gọi là nhiều tràng có
một thế phần ?
Tức là tràng này có một chủ tràng, anh
em không phân ly. Thế phần này, ngoài phạm vi trung gian
chung gồm có một tầm dùng để lúa gạo.
- Thế nào gọi là nhiều tràng có
nhiều thế phần ?
Tức là các tràng này có nhều chủ tràng,
hoặc anh em phân ly. Phạm vi bao nhiêu là thế phần ?
Cái ǵ chung, cái ǵ riêng ? – Đây không có thế phần. (Tràng
là nơi đất bằng và rộng).
- Thế nào gọi là một nhà
(đường) có một thế phần ?
Tức là trong nhà này có một
đường chủ, anh em không phân ly. Thế phần
này, ngoài phạm vi trung gian chung có một tầm, chỗ
để cột trâu ngựa, để cỏ và phân...
- Thế nào gọi là một nhà có nhiều
thế phần ?
Tức là trong nhà này có nhiều
đường chủ, anh em phân ly nhau. Phạm vi bao nhiêu
gọi là thế phần ? Tức là đến trong cửa
vào.
- Thế nào gọi là nhiều nhà có một
thế phần ?
Tức nhà các nhà này có một
đường chủ, anh em chung sống. Thế phần
này, ngoài phạm vi trung gian chung gồm có một tầm,
đủ để cột trâu ngựa, đổ cỏ,
bỏ phân.
- Thế nào gọi là nhiều nhà có
nhiều thế phần ?
Tức là các nhà này có nhiều
đường chủ, anh em không chung sống. Phạm vi
bao nhiêu là thế phần ? Cái ǵ chung, cái ǵ riêng ? – Đây
không có thế phần.
- Thế nào gọi là một xe có một
thế phần ?
Tức là xe này có một xa chủ, anh em
chung sống. Thế phần này là đủ cho xe cộ
đi đứng, ngoài trung gian chung gồm có một
tầm, đủ để cột trâu ngựa , bỏ
phân cỏ, ăn uống.
- Thế nào gọi là một xe có nhiều
thế phần ?
Tức là xe này có nhiều xa chủ, anh em
phân ly. Phạm vi bao nhiêu là thế phần ? - Bằng
với cái ách của xe. Cái ǵ chung, cái ǵ riêng ? - Chung là
chỉ có cái đ̣n ngang ở trước chiếc xe
giữa hai chỗ mắc ḅ vào.
- Thế nào là nhiều xe có một thế
phần ?
Tức là các xe đây có một xa chủ,
anh em chung sống. Thế phần này tức là chỗ xe
đi.
- Thế nào gọi là nhiều xe có nhiều
thế phần ?
Tức là các xe này có nhiều xa chủ, anh
em phân ly nhau. Phạm vi bao nhiêu là thế phần này ? Cái ǵ
chung, cái ǵ riêng ? - Đây không có thế phần.
- Thế nào gọi một thuyền có
một thế phần ?
Tức là thuyền này có một chủ, anh
em chung sống. Thế phần này tức là thuyền đi
đứng, ngoài trung gian chung gồm có một tầm,
tức là cột thuyền, nấu nướng, ăn
uống.
- Thế nào gọi là một thuyền có
nhiều thế phần ?
Tức là thuyền này có nhiều chủ,
hoặc anh em phân ly nhau. Phạm vi bao nhiêu là thế phần
? - Bằng với một bên chiếc thuyền.
- Thế nào gọi là nhiều thuyền có
một thế phần ?
Tức là các thuyền này có một chủ,
anh em chung sống. Thế phần này là chỗ thuyền
đi đứng.
- Thế nào gọi là nhiều thuyền có
nhiều thế phần ?
Tức là các thuyền này có nhiều
thuyền chủ, hoặc anh em phân biệt nhau. Phạm vi
bao nhiêu là thế phần ? Cái ǵ chung cái ǵ riêng ? - Đây
không có thế phần.
- Thế nào gọi là một khu rừng có
một thế phần ?
Tức là trong khu rừng này có một lâm
chủ, anh em không phân chia. Thế phần này, nghĩa là
ngoài phạm vi khu rừng, trung gian chung, gồm có một
tầm. Lại ngang bằng với chỗ hái bông, ăn
uống…
- Thế nào gọi là một khu rừng, có
nhiều thế phần ?
Tức là khu rừng này có nhiều lâm
chủ, hoặc anh em phân biệt. Phạm vi bao nhiêu là
thế phần này ? - Ngang bằng một dặm vuông.
- Thế nào gọi là nhiều rừng có
một thế phần ?
Tức các khu rừng này có một lâm
chủ, anh em chung sống. Thế phần này, ngoài trung gian
chung gồm một tầm vừa chỗ để hái hoa.
- Thế nào gọi là nhiều rừng, có
nhiều thế phần ?
Tức là các rừng này có nhiều lâm
chủ, hoặc anh em phân biệt. Phạm vi bao nhiêu là
thế phần ? Cái ǵ chung ? Cái ǵ riêng ? Đây không có
thế phần.
- Thế nào gọi một cây, có một
thế phần ?
Tức là chỗ nhánh lá giao chạm nhau,
ngoài trung gian chung gồm một tầm. Lại nữa ngang
bằng với mức bóng mát của cây giữa ngày của
tháng năm, hoặc là chỗ bông, lá, hay trái cây rơi
xuống khi trời không có gió, hay ngang bằng với
chỗ khi trời mưa giọt nước văng
đến.
- Thế nào gọi là một cây, có nhiều
thế phần ?
Tức là nhánh lá của cây không giao tiếp
nhau. Phạm vi bao nhiêu là thế phần ? Cái ǵ chung ? Cái ǵ
riêng ? - Tức là ngang bằng với gốc cây.
- Thế nào gọi là nhiều cây, có một
thế phần ?
Tức là nhánh lá của nhiều cây giao
tiếp phủ kín nhau, chung một bóng mát.
- Thế nào gọi nhiều cây, có nhiều
thế phần ?
Tức là nhánh lá của nhiều cây này cách
xa nhau, không giao tiếp thành một bóng mát. Phạm vi bao
nhiêu thành thế phần ? Cái ǵ chung ? Cái ǵ riêng ? - Bí-sô có
phạm, không phạm ?
Lúc bấy giờ Cụ thọ Ô-ba-ly
bạch Phật:
- Kính bạch đức Thế Tôn! Khi Bí-sô
đi, đứng, nằm, ngồi, ngang với mức nào
là ĺa thế phần của y ?
Đức Phật dạy:
- Như Bà-la-môn Sanh Văn trồng cây
Yểm-một-la, cách nhau bảy tầm bông trái tốt
tươi: Khoảng cách bảy cây này gồm có bốn
mươi chín tầm, Bí-sô đi trong phạm vi ấy không
mất y phần, quá mức định trên là mất y
phần. Khi đứng, nằm và ngồi th́ chỉ trong
một tầm. Nếu khi ngủ trung gian giữa hai
giới, chéo của y không rời khỏi thân là thế
phần của y. Bí-sô ĺa y ngủ, nên làm ba việc,
phạm hay không phạm đều như văn trên đă
nói.
·
Học
xứ thứ 3: Chứa y một tháng.
- Tại sao Bí-sô chứa nhiều y vật,
dồn, chứa, cất, để, mà không chịu may y ?
Các Bí-sô đem nhơn duyên này tŕnh
đầy đủ lên đức Phật. Đức
Phật lấy việc này làm nhơn duyên hỏi rơ ràng các
Bí-sô. Các Bí-sô nói: “Đây là sự thật”. Đức
Thế Tôn quở trách… đến câu: Ta quán mười
điều lợi v́ các Thinh-văn đệ tử,
đối với Tỳ-nại-da chế học xứ
như sau:
“Nếu lại có Bí-sô y may xong, y
Yết-sỉ-na lại xuất, đặng y phi thời,
cần dùng th́ nhận. Nhận rồi phải mau may thành y.
Nếu có hy vọng chỗ nào sẽ cúng cho đủ,
nếu không đủ được phép chứa một
tháng, chứa quá Ni-tát-kỳ Ba-dật-để-ca ”.
+ Nếu lại có Bí-sô y đă may xong, y
Yết-sỉ-na lại xuất: (có bốn câu như
trước). Đặng y phi thời: Lúc nào gọi là
thời, lúc nào gọi là phi thời ?
- Thời là trú xứ nào không thọ y
Yết-sỉ-na, trong ṿng một tháng, từ ngày
mười sáu tháng tám
đến ngày mười lăm tháng chín. Nếu trú xứ
nào có thọ y Yết-sỉ-na th́ trong ṿng năm tháng,
từ ngày mười sáu tháng tám đến ngày mười
lăm tháng giêng, như vậy
gọi là thời. Ngoài thời gian nói trên ra gọi là phi
thời.
- Nếu có hy vọng nơi nào cúng, nghĩa
là thiếu vải nên chờ xin cho đủ nên chứa.
Trong ṿng một tháng hy vọng nơi cha mẹ, anh em,
chị em, sư chủ v.v… Các chỗ sẽ cho ta y.
Hoặc là ngày hội năm năm, ngày hội sáu năm,
hoặc là ngày hội thăng chức, ngày hội măn
năm, ta sẽ nhận được y, nếu
đủ th́ tốt. Nếu trong ba y có một y không
đủ th́ được chứa ngang bằng một
tháng, chứa cất quá thời gian ấy, Ni-tát-kỳ
Ba-dật-để-ca (nói đầy đủ như
trước).
Trong vấn đề này tướng
phạm như thế nào ?
Nhiếp tụng:
Chỗ hy vọng hay không.
Chỗ vải cầu khác loại
Mới cũ phấn tảo khác
Điều số lượng khuỷu tay.
- Nếu Bí-sô, ngày thứ nhất trong tháng
được ít vải màu xanh chứa để, chưa
may, có chỗ hy vọng cho thêm. Nếu khi nhận
được y đồng một màu như vậy, ta
sẽ may y. Ngay trong ngày nhận được y cùng màu,
Bí-sô trong ṿng mười ngày phải may thành y, để
tŕ, để xả, để tác pháp. Nếu không tŕ, không
xả, không tác pháp, đến ngày thứ mười
một, tướng mặt trời xuất hiện, Ny-tát-kỳ
Ba-dật-để-ca.
- Bí-sô ngày thứ nhất không nhận
được loại y nào, ngày thứ hai, thứ ba, cho
đến ngày thứ mười đều nhận
được y. Bí-sô kia, trong mười ngày đó may thành
y, để tŕ, để xả, để tác pháp. Nếu
không tŕ, không xả, không tác pháp, đến ngày thứ mười
một, tướng mặt trời xuất hiện,
Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca.
- Bí-sô mười ngày không nhận
được các loại y, ngày thứ mười
một, thứ mười hai, cho đến ngày thứ
mười chín cũng đều không nhận
được y; ngày thứ hai mươi mới nhận
được các loại y, liền nên như trước
tác pháp, Nếu không tác pháp phạm Xả đọa.
- Bí-sô, hai mốt ngày không nhận
được các loại y, đến ngày thứ hai mươi chín mới
nhận được y, trong ba mươi ngày may thành y,
để tŕ, để xả, để tác phân biệt.
Nếu không tŕ, không xả, không tác phân biệt, đến
ngày thứ ba mươi mốt, tướng mặt
trời xuất hiện, Ny-tát-kỳ
Ba-dật-để-ca. Do thời gian trước
đặng y, tướng nhiễm nối tiếp nhau
như vậy. Đặng y màu xanh như vậy,
đặng các y màu khác, cũng đồng như đây.
- Nếu Bí-sô, ngày thứ nhất nhận
được y màu xanh, không may thành y v́ thiếu, chứa
để mà không có hy vọng chỗ nào sẽ cho, lại
khởi ư nghĩ: “Nếu đặng y, đồng màu
như vậy ta sẽ may thành y. Ngay ngày ấy đặng
y đồng màu như vậy. Bí-sô trong ṿng mười ngày
ấy phải may thành y để tŕ, để xả,
để tác phân biệt. Nếu không tác pháp đến ngày
thứ mười một, tướng mặt trời
xuất hiện, Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca.
- Nếu ngày thứ nhất không nhận
được các loại y, ngày thứ hai nhận
được y, cho đến ngày thứ ba mươi
nhận được y… (nói đầy đủ như
trước) đến câu: Nhận được y màu
xanh như vậy, đặng các loại y màu khác, cũng
lại như vậy.
- Nếu Bí-sô ngày thứ nhất nhận
được y màu xanh không may, mà chứa, có chỗ hy
vọng để cho, xong chỗ hy vọng đó do
thời tiết kéo dài, không xứng với sự mong
muốn, mà không có cách nào hơn; hoặc ngay ngày nhận
được y màu xanh, trong mười ngày nên may thành y…
(nói đầy đủ như trên) cho đến ngày ba
mưoi mới đặng các loại y màu khác, sự
việc đồng như trước đă nói.
- Nếu Bí-sô ngày thứ nhất nhận
được y màu xanh, không may, mà chứa, có chỗ hy
vọng để cho. Chỗ hy vọng kia, tuy chưa
đặng y, tâm chưa chấm dứt, hoặc
đối với ngày nhận được y màu xanh… (nói
rộng như trước).
- Nếu ngày thứ nhất đặng y
màu xanh, không may thành y v́ thiếu, mà cất chứa, ḷng có hy
vọng. Nếu chỗ hy vọng đều bị
đoạn tuyệt, Bí-sô nhận được y kia, trong
mười ngày nên tŕ, nên xả… (như trước).
Lúc
bấy giờ, Cụ thọ Ô-ba-ly bạch Phật:
- Kính bạch đức Thế Tôn! Có bao
nhiêu loại y ?
Đức Phật dạy:
- Có hai loại y. Một là loại mới,
hai là loại cũ. Mới tức là mới may, cũ
tức là đă trải qua bốn tháng mặc dùng.
Này, Ô-ba-ly! Lại có năm loại y:
một là y có thí chủ; hai là y không có thí chủ, ba là y văng
hoàn, bốn là y người chết, năm là y phấn
tảo.
Thế nào gọi là y có thí chủ ?
Nghĩa là có nam, nữ, Bán-trạch-ca làm
người thí chủ của y.
Thế nào gọi là y không có thí chủ ?
Nghĩa không có nam, nữ, Bán-trạch-ca làm
người thí chủ của y.
Thế nào gọi là y văng hoàn ?
Tức là như có người chết,
quyến thuộc nhớ thương, dùng y phủ lên trên
thây chết, khiêng đến chỗ thiêu, thiêu xác chết
rồi đem y ấy về đặng cho chúng Tăng.
Thế nào gọi là y người chết ?
Tức là trong rừng thây chết, áo
của người chết không có chủ sở hữu.
Thế nào gọi là y phấn tảo ?
Y này có năm loại: Một là y bỏ trên
đường bộ; hai là bỏ nơi chỗ
đổ rác; ba là y bỏ bên bờ sông; bốn là y bị
kiến nhấm; năm là y phá nát.
Lại có năm loại y: một là y
bị lửa cháy; hai là y bị nước ngâm; ba là y
bị chuột gặm; bốn là y bị trâu nhơi;
năm là y của bà mẹ đẻ con xong vất bỏ.
Bí-sô nhận được vải mới
muốn may y, phải giặt nhuộm cắt may,
Tăng-già-chi hai lớp, Ni-sư-đăn hai lớp,
Ốt-đát-la-tăng-già một lớp, An-đát-bà-ta
một lớp.
Nếu Bí-sô may Tăng-già-chi hai lớp
rồi lại may lớp thứ ba, khi điểm tịnh,
phạm tội Ác tác, cho đến ngày thứ mười
một, tướng mặt trời xuất hiện
lại phạm Xả-đọa.
Bí-sô đối với Tăng-già-chi mới,
xé ra dùng làm khăn gói đồ khi xé phạm tội Ác tác,
đến ngày thứ mười một tướng
mặt trời xuất hiện bèn phạm Xả
đoạ.
Bí-sô đối vời Tăng-già-chi
mới, xé ra giặt nhuộm và nhiếp trở lại th́
không phạm, đến ngày thứ mười một,
tướng mặt trời xuất hiện không vá
nhiếp cho xong phạm Ny-tát-kỳ. Tăng-già-chi như
vậy, Ni-sư-đăn... Đều đồng như
vậy.
Nếu Bí-sô có y mới
Ốt-đát-la-tăng-già may chồng lên lớp thứ hai,
khi chồng thêm mắc tội Ác tác, đến ngày thứ
mười một, khi tướng mặt trời xuất
hiện, phạm tội Xả đoạ. Y An-đát-bà-ta
cũng như vậy.
Nếu Bí-sô nhận được vải
cũ muốn may y, nên giặt nhuộm, cắt, may,
Tăng-già-chi bốn lớp, Ni-sư-đăn cũng bốn
lớp, Ốt-đát-la-tăng-già và An-đát-bà-ta hai
lớp.
Nếu Bí-sô, Ốt-đát-la Tăng-già và
An-đát-bà-ta hai lớp lại nếu muốn thêm lớp
thứ ba, khi thêm phạm tội Ác tác, đến ngày
thứ mười một, khi tướng mặt trời
xuất hiện, phạm tội Xả đọa.
Bí-sô đối với y nhiều lớp này
nếu muốn xé để vá hay không vá, có phạm, không
phạm, như trước đă nói.
Bí-sô nhận được y có chủ, y
không chủ, y văng hoàn, y người chết, chuẩn theo y
mới, y cũ, y nhiều lớp này nên biết. Nếu là
y phấn tảo th́ may mấy lớp tùy ư chứ không
hạn định.
Lúc bấy giờ, Cụ thọ Ô-ba-ly
bạch phật:
- Kính bạch Đại đức!
Tăng-già-chi cho mấy loại ? Điều số thế
nào ?
Đức Phật bảo Ô-ba-ly:
- Có chín loại khác nhau: Tức chín
điều, mười một điều, mười ba
điều, mười lăm điều, mười
bảy điều, mười chín điều, hai
mươi mốt điều, hai mươi ba
điều, hai mươi lăm điều. Này Ô-ba-ly! Ba
loại của cấp dưới, hai dài, một ngắn.
Ba loại của cấp giữa, ba dài, một ngắn. Ba
loại của cấp trên, bốn dài, một ngắn. Nên
may nên thọ tŕ. Quá mức lượng này thành phá nạp.
Ô-ba-ly-bạch-phật:
- Bạch đức Thế Tôn! Y lớn, y
nhỏ bao nhiêu thứ ?
Đức phật dạy:
- Y Tăng-già-chi ba thứ, tức
Thượng, Trung, Hạ.
Bậc Thượng bề đứng ba
khuỷu tay, bề ngang năm khuỷu tay, bậc Hạ
bề đứng hai khuỷu rưỡi tay; bề ngang
bốn khuỷu rưỡi tay; chặng giữa hai bậc
gọi là bậc Trung.
Ốt-đát-la-tăng-già và An-đát-bà-ta
cũng có ba thứ, tức Thượng, Trung, Hạ,
mức lượng như Tăng-già-chi đă nói.
Này Ô-ba-ly lại có hai loại An-đát-bà-ta:
Bề đứng hai khuỷu tay, bề rộng năm
khuỷu tay. Bề đứng hai khuỷu tay, bề
rộng bốn khuỷu tay.
Nếu bật thứ nhất của
An-đát-bà-ta chỉ trùm ba luân. Trong số y thọ tŕ, y này
là nhỏ nhất.
Nếu y Ni-tát-kỳ nhỏ nhất,
chỉ bằng tung hoành một khuỷu tay. Nếu Bí-sô
phạm Xả đọa nên làm ba việc, như
trước đă nói.
Trường hợp không phạm:
Người phạm ban đầu, hoặc si cuồng tâm
loạn thống năo sở triền.
Học xứ thứ 4: Sai Ni không phải bà con
giặt y cũ ?
Cách đó không xa có Tiên nhơn Bà-la-môn, tên là A-tư-đà,
rất giỏi về tướng số và bói toán. Nhà vua
triệu đến để xem tướng Thái tử.
Nhà tướng số A-tư-đà đă quyết đoán:
“Một là Thái tử ở đời th́ làm vua Chuyển
luân, nhiếp hóa bốn thiên hạ, một vị
đại Thánh chúa, bảy báu như là Luân bảo,
Tượng bảo, Mă bảo, Châu bảo, Nữ bảo,
Chủ tàng thần bảo, Chủ binh thần bảo
đầy đủ. Thiên tử viên măn, có oai lực
lớn, dũng kiện không ai hơn, đủ khả
năng hàng phục oán địch. Trên đại
địa, khắp bốn biển không có đạo
tặc, cũng không có h́nh phạt nặng. Dùng pháp lư
để an ổn cuộc sống cho mọi người.
Hai là Thái tử xuất gia, cạo bỏ râu tóc, dùng ḷng
chánh tín, từ nhà đến chỗ chẳng phải nhà,
sẽ đắc thành quả Phật, Ứng Chánh Biến
Tri, tiếng đồn mười phương, giáo hóa
cứu giúp các loài”.
Bấy giờ Đại vương trên
các nước, thảy đều nghe biết Thái tử
Thích-ca sanh ở Tuyết sơn, cho đến tiếng
đồn mười phương, giáo hóa cứu giúp các
loài. Các Đại vương đều khởi lên ư
niệm: “Nay, ta nên đến thừa sự Thái tử, sau
này sẽ được thọ phước lộc
của Người”. Lại khởi ư nghĩ: “Nay, ta không
có duyên để thấy được Thái tử, ta
thừa sự vua Tịnh-phạn tức là thừa sự
Thái tử”. Khi ấy các quốc vương đều sai
sứ thần mang quốc tín đến chỗ vua
Tịnh-phạn.
Sau khi ra đời, Bồ-tát
được nuôi dưỡng nơi thâm cung, tuổi
dần khôn lớn, mục kích lăo, bịnh, tử, ḷng
đầy ưu năo, bèn đến trong rừng, buông bỏ
mọi việc của đời. Các quốc vương
nghe như vậy, đều suy nghĩ: “Từ lâu, ta
sở dĩ phụng sự vua Tịnh-phạn là v́ Thái
tử, mà nay Thái tử đă vào trong rừng với ḷng mong
cầu sự thoát ly, vậy ta c̣n v́ lư do ǵ để
phải chạy theo việc làm phí công tổn sức”. Do
vậy, các sứ thần và các quốc tín thảy
đều chấm dứt sự quan hệ với vua
Tịnh-phạn.
Lúc ấy, Đại Vương Thắng
Quang cùng với quốc vương Tịnh-phạn, là lân
quốc có chung biên giới. Mặc dù, tín vật tuy chấm
dứt nhưng sứ thần vẫn c̣n tới lui. Sau
một thời gian, qua sự t́m hiểu, biết vị
sứ thần của nước ấy tên là Mật
Hộ.
Mỗi lần đại thần Mật
Hộ đến vua Tịnh-phạn, luận bàn việc
nước xong, bèn đến nhà vị đại thần
Ô-đà-di để nghỉ ngơi. Ngược lại vua
Tịnh-phạn muốn sai sứ thần đến trao
đổi vấn đề ǵ với vua Thắng Quang th́
sai đại thần Ô-đà-di đến. Mỗi lần
Ô-đà-di đến thành Thất-la-phạt, sau khi yết
kiến vua Thắng Quang, luận bàn vương sự xong,
bèn đến nhà sứ thần Mật Hộ để
nghỉ ngơi.
Đại thần Mật Hộ có
người vợ tên là Cấp-đa, nhan sắc đoan
nghiêm, cái sắc đẹp dễ vui ḷng người.
Ô-đà-di bèn cùng với Cấp-đa làm việc phi pháp. Khi
Mật Hộ nghe đồn vợ ḿnh cùng với
Ô-đà-di có tư t́nh giao mật, th́ lại có ư nghĩ:
“Phải đoạn mạng hai tên xấu ác này”. Sau đó,
lại nghĩ: “Nếu ta thanh toán như vậy, gây nên
sự ưu loạn nơi vương thành, tạo thành
sự kinh hoảng sợ sệt xôn xao: Tại sao v́
tội lỗi của vợ ḿnh mà lại giết Bà-la-môn
ư ?!” Nghĩ như thế rồi bỏ qua sự
việc không đề cập đến.
Thời gian sau, Mật Hộ qua
đời. Bấy giờ vua Thắng Quang lấy cớ
không có con, nên tài sản phải nhập vào kho của nhà
vua. Ô-đà-di nghe sự việc như vậy rồi, bèn
khởi ỹ nghĩ: “Ta c̣n sống đây, tại sao
lại để cho Cấp-đa không có chỗ
nương nhờ”. Qua một đêm suy nghĩ
điều lợi, điều hại, sáng ngày sau
đến chỗ vua Tịnh-phạn, bạch:
- Tâu Đại vương! Quốc
vương cùng với quốc vương Thắng Quang
cương giới tiếp nhau, thấy việc bất
ẩn, bất tiện như vậy, nên sai sứ thần
đến đó để trù đạt. Nếu không tham
vấn sẽ đưa đến tai họa.
Vua Tịnh-phạn liền nói:
- Khanh nên làm vị sứ thần
đến đó để thương lượng.
Khi ấy, Ô-đà-di liền đến thành
Thất-la-phạt lại suy nghĩ: “Ta nên đến
yết kiến nhà vua trước hay đến gặp
vị đại thần của nhà vua trước”.
Nghĩ như vậy lại cân nhắc suy tính: “Phép cầu
được việc, lư phải từ dưới đi
lên”, Ô-đà-di liền đến chỗ vị đại
thần của nhà vua tŕnh bày tất cả ư nghĩ của
ḿnh:
- Rằng tôi muốn Ngài thưa lên nhà vua cho
tôi được lấy Cấp-đa. Mong Ngài làm ơn
giúp tôi có lời thưa tŕnh với vua cho việc này.
Vị đại thần nghe xong thể
tất sự việc.
Sau đó, Ô-đà-di đến chỗ vua
Thắng Quang, luận bàn quốc sự rồi liền
bạch với nhà vua:
- May mắn xin Đại vương
chỉ định cho tôi chỗ tạm trú để
nghỉ ngơi.
Nhà vua hỏi:
- Từ trước khanh đă từng
tạm trú nơi nào ?
Ô-đà-di thưa:
- Trước đây tôi từng tạm trú
nơi nhà của đại thần Mật Hộ.
Nhà vua nói:
- Hôm nay cũng nên đến đó
để tạm trú.
Nhân đó Ô-đà-di tâu:
- Bạch Đại vương!
Đại thần Mật Hộ, nay đă qua đời
rồi.
Nhà vua bảo:
- Chủ nhà tuy chết, song nhà của
họ đâu có chết ?
Ô-đà-di thưa:
- Bạch Đại vương! Nhà của
họ tuy không chết, mà tài sản của họ hiện
không c̣n thứ ǵ để dùng!
Nhà vua Thắng Quang ra lệnh cho đại
thần của vua rằng:
- Cần t́m chỗ nào để Ô-đà-di
tạm trú yên ổn được chăng!
Ô-đà-di vừa bước ra khỏi cung
đ́nh, vị đại thần tâu với vua:
- Đâu phải Ô-đà-di không có chỗ
tạm trú, xong ông ta, trước đây cùng với
Cấp-đa giao thông, nhơn đây bổn ư của ông
ấy muốn được nhà vua chấp nhận.
Nếu, nay nhà vua chấp nhận để nắm lấy
người ấy tức là nắm lấy được
vua Tịnh-phạn vậy.
Vua Thắng Quang liền ra lệnh triệu
Ô-đà-di đến nói:
- Này, Ô-đà-di! Thật sự ta không
biết khanh cùng với Cấp-đa trước đây có
giao mật. Nay đem Cấp-đa cho khanh làm vợ. Tài
vật cùng nhà cửa thảy đều tương
cấp.
Ô-đà-di lúc đó cuối ḿnh bái tạ lui
ra.
Lúc bấy giờ, Cấp-đa nghe
Ô-đà-di đến nhà, lần ra cửa đón rồi khóc
̣a nức nở.
Ô-đà-di hỏi:
- Tại sao Cấp-đa khóc kể ?
Cấp-đa bảo:
- Phu chủ khả ái của em đă qua
đời! Nay, anh lại bỏ em nữa th́ không khóc
kể sao được!
Ô-đà-di ngọt giọng nói:
- V́ sự quan hệ ấy nên nay tôi
đến đây. Tôi đă tŕnh báo với nhà vua rồi. Em
và tài sản nhà em đều được tương
cấp. Em ở lại đây hay muốn về bên thành
Kiếp-tỷ-la tùy ư.
Cấp-đa tự suy nghĩ: “Nếu ta
về bên thành Kiếp-tỷ-la th́ vợ của Bà-la-môn
không để ta sống. Ta nên ở lại ngôi nhà cũ
của ta”. Thế là, Ô-đà-di có hai nhà: một tại
Kiếp-tỷ-la, một tại Thất-la-phạt.
Trong thời gian sáu năm, Bồ-tát không có
một vật ǵ gọi là sở hữu của ḿnh. Sau
thời gian tu khổ hạnh, Ngài bèn tùy ư thọ một
thứ uống thượng diệu, sau đó ăn
uống, dùng tô du thoa khắp thân thể, tắm gội
bằng nước nóng.
Ngài bèn đến tụ lạc Thắng
Quân, chổ ở của hai mục ngưu nữ, một
tên là Hoan Hỷ, một tên là Hỷ Lực. Ngài thọ
một loại cháo nấu nhừ bằng mười sáu
loại sữa, sự ăn uống làm cho cơ thể
được hồi phục.
Ngài đến chổ nam tử Thiện
Hạnh lấy cỏ cát tường. Hắc Long
vương khen ngợi Bồ-tát hướng đến
dưới cây Bồ-đề tự tay trải cỏ
bằng phẳng ngay ngắn rồi ngồi lên hai chân chéo
lên nhau, đoan thân chánh niệm, ḷng nghĩ miệng nói:
“Nếu ta chưa đoạn hết các lậu hoặc ta
thề không đứng dậy”. Quả thật các lậu
đă đoạn hết, trong tư thế ngồi thiền
quán của Bồ-tát.
Đức Thế Tôn hàng phục ba
mươi sáu ức ma quân rồi, chứng nhất thế
trí, nhận lời Phạm Vương thỉnh đến
nơi Bà-la-nê-tư, ba lần chuyển mười hai hành
pháp luân, độ năm Bí-Sô và hướng dẫn năm
Bí-Sô rồi, đến trong rừng Bạch Điệp
độ sáu mươi Hiền bộ, khiến trụ
nơi Kiến đế.
Ngài trở lại nơi tụ lạc
Thắng Quân độ hai mục ngưu nữ khiến cho
họ cũng trụ nơi kiến đế. Ngài
đến bên rừng Ô-lư-tân-loa độ một ngàn
ngoại đạo xuất gia thọ cụ. Ngài
đến trên đỉnh núi Già-da, hiện ba thần
biến giáo hóa, khiến hàng Bồ-tát, chư thiên trụ an
ẩn Niết-bàn. Ngài đến Trượng Lâm khiến
cho Ma-kiệt-đà chủ, Tân-tỳ-ta-la vương
trụ nơi Kiến Đế.
Ngài lại độ tám mươi trăm
ngàn các Thiên chúng, vô lượng trăm ngàn Bà-la-môn
nước Ma-kiệt-đà v.v… Kế đến Ngài
đến thành Vương-xá nhận tịnh xá Trúc lâm,
đồng thời cho Thân Tử, Mục-liên xuất gia
thọ cụ. Sau đó, ngài đến thành
Thất-la-phạt, nhận rừng Thệ-đa
vườn ông Cấp-cô-độc. Cuối cùng, Ngài
đến Kiều-tát-la nói kinh Thiếu Niên, khiến vua
Thắng Quang đắc Kiến đế rồi, trụ
nơi rừng Thệ-đa.
Lúc bấy giờ, vua Thắng Quang sai
người đến vua Tịnh-phạn báo tin mừng là
Thái Tử đă chứng Vô thượng chánh giác cũng
khiến cho loài hữu t́nh đồng hưởng cam
lồ. Nay, Ngài hiện ở nơi rừng Thệ-đa.
Vua Tịnh-phạn nhận được
tin này rồi, lấy tay chống má, ḷng ôm ưu sầu,
than: “Xưa kia khi Thái tử Nhất Thế Nghĩa Thành tu
khổ hạnh, ta thường sai xứ hỏi xem Thái
tử có b́nh an không! Sứ giả t́m kiếm thăm rồi
trở về báo cáo với ta chổ tu cuả Thái tử.
Ta lại sai người đi thăm, không thấy ai
trở về. Nay lại nói là Thái tử đến ở
trong rừng Thệ-đa việc ấy là thế nào ?”
Ngay thời điểm ấy, đại
thần Ô-đà-di đến nơi vương cung,
thấy sự việc như vậy liền bạch:
- Bạch Đại Vương! Sao ngài
chống tay nơi má, mà sống trong sự ưu sầu
như vậy ?!
Vua Tịnh-phạn trả lời:
- Làm sao trẫm không ôm ḷng ưu năo
được ? Trước kia khi Thái tử Nhứt
Thế Nghĩa Thành tu khổ hạnh, trẫm
thường sai người đến hỏi xem Thái
Tử có b́nh an không ?. Sứ giả t́m đến về báo
cáo với ta chổ tu của Thái tử. Vừa rồi sai
người đến thăm th́ không thấy trở
về báo cáo. Nay, lại được tin: Nhất Thế
Nghĩa Thành Thía tử chứng Vô thượng chánh giác,
cũng khiến cho loài hữu t́nh đồng nếm
vị
Khi ấy, Ô-đà-di liền bạch với
vua:
- Trước sự việc như vậy,
thần xin đến đó, t́m hiểu tin tức rồi
về tâu với vua.
Vua Tịnh-phạn hạ lệnh:
- Khanh đến t́m hiểu rồi về
báo cáo chứ đừng ở luôn nhé!
Ô-đà-di thưa:
- Thần xin phụng mạng. Đoan
chắc thần sớm trở về để báo cáo
đến Đại Vương.
Ngay khi ấy, vua Tịnh-phạn, tự tay
viết thư:
Từ
thọ thai về sau
Tôi
nuôi dưỡng Thế Tôn
Lữa
phiền năo thường đốt
Măi
mong cây Tối thắng.
Nay đă lớn khôn rồi
Đồ
chúng số vô biên
Mọi
người thọ an lạc
Riêng
ḿnh tôi chịu khổ!
Viết xong, đóng ấn, giao cho
Ô-đà-di. Ô-đà-di mang thư tín nhà vua đến nơi
thành Thất-la-phạt, đến chỗ Thế Tôn
ngự, dâng lên sắc thư. Đức Thế Tôn nhận
thư tín, liền tự tay mở ra xem. Khi ấy,
Ô-đà-di bạch với Thế Tôn:
- Thế Tôn có thể về thành
Kiếp-tỷ-la chăng!
Đức Thế Tôn bảo Ô-đà-di:
- Tôi cùng đi với ông.
Ô-đà-di nhớ lại ngày xưa, khi Thái
tử vượt thành xuất gia, Phụ vương luôn
luôn kêu về, Thái tử không về, nên bạch lại
với Phật:
- Nếu Thái Tử không chịu trở
về, th́ tôi có khả năng tạo điều kiện
để Ngài về.
Đức Thế Tôn nghe câu nói đó
rồi liền nói bài kệ để trả lời cho
Ô-đà-di:
Lưới
ái sanh tử nếu trừ hết
Đây
chẳng cần người dẫn đường đi
Thế
Tôn oai lực không cùng tận
Phương
tiện nào ông thể dẫn đi ?
Lưới
ái dục, sanh tử trừ xong
Đây chẳng cần ai
dẫn đường đi
Cảnh
giới Thế Tôn không xứ sở
Phương
tiện ǵ ông thể đưa đi ?
CĂN BẢN
THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ-TỲ-NẠI-DA
QUYỂN 17 –
(hết).