CĂN BẢN THUYẾT NHẤT
THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA
QUYỂN 16
·
Học xứ thứ 13: Ác
tánh chống trái lời khuyên can
Lúc bấy giờ,
Bạc-già-phạm ở tại nước
Kiều-thiểm-tỳ trong vườn Cù-sư-la. Khi
ấy, Cụ thọ Xiển-đà đă phạm tội mà
không như pháp bày tỏ sám hối. Các Bí-sô thân hữu
thấy sự việc như vậy, v́ muốn cho bạn
ḿnh được lợi ích an lạc, nên nói với
Cụ thọ Xiển-đà:
- Ngài phạm tội
như pháp sám hối.
Xiển-đà lại trả lời:
- Ai phạm tội th́ người đó
phải tự ḿnh như pháp sám hối.
Bạn thân của
Xiển-đà nói:
- Chính bản thân Ngài
phạm tội lại muốn khiến ai sám hối ?!
Xiển-đà
lại nói:
- Người có truy
hối họ sẽ sám hối.
Bạn của
Xiển-đà nói:
-Ngài đă phạm
tội nên sanh truy hối !
Xiển-đà
lại trả lời:
- Các Cụ thọ
chớ nên đến tôi nói điều ǵ hoặc tốt
hoặc xấu. Tôi cũng không đến các Cụ thọ
nói điều ǵ hoặc tốt hoặc xấu. Cụ
thọ hăy thôi khuyên tôi, chớ luận bàn với tôi. Các
Cụ thọ ! Các ngài gồm nhiều ḍng họ, gồm
nhiều chủng loại đến đây xuất gia,
cũng như lá cây gió thổi gom lại một chỗ. Các
Cụ thọ cũng lại như vậy. Nhân v́
đức Thế Tôn của tôi chứng vô thượng
giác nên các Ngài gồm nhiều ḍng họ tộc tánh đến
cần cầu xuất gia.
Các Bí-sô nghe
Xiển-đà nói như vậy liền sanh cơ hiềm,
nói như vầy:
- Tại sao Bí-sô cùng
với các Bí-sô đồng một Phật pháp, đồng
một Học xứ, khi các Bí-sô khác như pháp, như
luật chỗ riêng tư can gián thuyết hối, tự
thân lại không nhận lời can gián ?!
Do thế, các Bí-sô
đem nhơn duyên này tŕnh bày đầy đủ với
đức Phật. Đức Thế Tôn bảo:
- Các Bí-sô nên can gián
riêng Xiển-đà. Nếu có vị nào như vậy
cũng can gián như vậy. Xiển-đà! Ngài cùng các Bí-sô
đồng một Phật pháp, đồng một Học
xứ, như pháp, như luật, mà khi can gián cải
hối, chớ tự thân không nhận lời can gián.
Cụ thọ! Tự thân nên nhận lời can gián. Các Bí-sô
như pháp, như luật can gián Ngài; Ngài cũng như pháp,
như luật can gián các Bí-sô. Lần lượt can gián
với nhau, lần lược giáo dục cho nhau, lần
lược thuyết hối lẫn nhau. Như vậy chúng
Tăng Bí-sô của đức Như Lai ứng chánh
đẳng giác mới được tăng trưởng.
Cụ thọ! Ngài chớ nên chống trái với lời can
gián.
Các Bí-sô nghe Phật
dạy rồi, bạch Phật rằng:
- Như Thế Tôn
dạy, chúng con đă can gián Xiển-đà… cho đến
câu: Ngài chớ nên chống trái với lời can gián.
Khi các Bí-sô can gián
riêng Xiển-đà. Cụ thọ Xiển-đà vẫn
giữ nguyên ư kiến, trong nếp sống cố chấp,
lại c̣n nói: “Đây là sự thật ngoài ra đều
hư vọng”. Thế rồi, các Bí-sô đem nhơn duyên
này tŕnh bày đầy đủ lên đức Thế Tôn:
- Bạch Đại
đức Thế Tôn! Chúng con y theo lời Phật dạy
đă làm pháp can gián riêng Xiển-đà mà Xiển-đà
vẫn giữ nguyên ư kiến, khư khư bảo thủ
chấp chặt rằng: “Điều tôi nói ra là sự
thật ngoài ra đều hư vọng”.
Đức Thế
Tôn bảo:
- Các ông nên bạch
tứ Yết-ma để can gián Xiển-đà. Nếu có
vị nào như thế cũng nên can gián như vậy.
Phương thức: Trải tọa cụ, đánh
kiền chùy, tập Tăng như thường lệ.
Tăng tập hợp rồi, bảo một Bí-sô tác pháp:
“Đại
đức Tăng-già lắng nghe ! Cụ thọ
Xiển-đà này, các Bí-sô đúng như lời Phật
dạy Học xứ trong kinh, như pháp, như luật,
khi chánh thức can gián, tự thân không nhận lời can
gián lại nói: Này các Cụ thọ ! Chớ đến tôi
nói lời ǵ hoặc tốt, hoặc xấu; tôi cũng
không đến các Cụ thọ nói bất cứ điều
ǵ hoặc tốt, hoặc xấu. Các cụ thôi đi,
chớ can gián tôi ! Các Cụ thọ bèn can gián riêng. Khi can
gián riêng, Xiển-đà lại chấp chặt sự
việc và nói: “Điều tôi nói là sự thật, ngoài ra
đều hư vọng”. Nếu thời gian thích hợp
với đối Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng-già
bạch tứ Yết-ma can gián Xiển-đà: Này
Cụ thọ Xiển-đà ! Các Bí-sô đối với
lời Phật dạy trong Học xứ, trong kinh, như pháp,
như luật, khi chánh thức can gián, chớ tự thân
không nhận lời can gián, lại nói: Các Cụ thọ !
Chớ đến tôi nói điều ǵ hoặc tốt,
hoặc xấu; tôi cũng không đến các cụ nói
bất cứ điều ǵ hoặc tốt, hoặc
xấu. Cụ thọ Xiển-đà ! Nay, Ngài nên tự
nhận lời can gián”.
- Bạch như
vậy rồi, kế tiếp tác pháp Yết-ma:
“Đại
đức Tăng-già lắng nghe ! Cụ thọ
Xiển-đà này, các Bí-sô đối với lời Phật
dạy Học xứ trong kinh, như pháp, như luật,
khi chánh thức can gián, tự thân không nhận lời can
gián, lại nói: Này các Cụ thọ ! Chớ đến tôi
nói điều ǵ hoặc tốt, hoặc xấu, tôi
cũng không đến các Cụ thọ nói bất cứ
điều ǵ hoặc tốt, hoặc xấu. Các Cụ thọ
thôi đừng can gián tôi. Các Bí-sô bèn can gián riêng. Khi can gián
riêng Xiển-đà liền chấp chặt sự việc
không bỏ, lại nói: “Điều tôi nói là sự thật,
ngoài ra đều hư vọng”. Nay, Tăng-già bạch
tứ Yết-ma để can gián Xiển-đà: Các Bí-sô
đối với Phật dạy Học xứ trong kinh
như pháp, như luật, khi chánh thức can gián,
đừng tự thân không nhận lời can gián,
lại nói: Các Cụ thọ chớ đến tôi nói điều
ǵ hoặc tốt hoặc xấu, tôi cũng không
đến các Đại đức nói bất cứ
điều ǵ hoặc tốt, hoặc xấu. Này Cụ
thọ Xiển-đà ! Nay, Ngài nên bỏ tự thân không
nhận lời can gián. Các
Cụ thọ nào chấp thuận, Tăng trao cho Cụ
thọ Xiển-đà pháp bạch tứ Yết-ma
để hiểu dụ việc ấy. Này, Cụ thọ
Xiển-đà ! Các Bí-sô đối với lời Phật
dạy Học xứ trong kinh, như pháp, như luật,
khi chánh thức can gián, chớ tự thân không nhận
lời can gián. Cụ thọ! Tự thân nên nhận lời can gián. Các Bí-sô như pháp,
như luật, can gián Cụ thọ; Cụ thọ cũng
như pháp, như luật can gián các Bí-sô. Như vậy chúng
tăng của Bí-sô đệ tử đức Như Lai
ứng chánh đẳng giác mới được tăng
trưởng. Nghĩa là do lần lượt can gián nhau,
lần lượt dạy bảo nhau, lần lượt
nhắc nhở nhau. Này, Cụ thọ Xiển-đà ! Nên
bỏ tự thân không nhận lời can gián, chống trái
việc can gián của Tăng. Vị nào đồng ư th́ im
lặng, nếu không đồng ư xin nói ra. Đây là
Yết-ma lần đầu. Lần thứ hai lần
thứ ba cũng như vậy”. Văn kết thúc chuẩn
theo đây nên biết.
Các Bí-sô vâng lời Phật dạy, y pháp can
gián. Khi can gián Bí-sô Xiển-đà vẫn giữ nguyên ư
kiến, lại nói: “Điều tôi nói là sự thật,
ngoài ra đều hư vọng”. Các Bí-sô đem nhơn duyên
này bạch đầy đủ với đức
Phật:
- Bạch đức Thế Tôn ! Chúng con vâng
lời dạy, bạch tứ Yết-ma, can gián
Xiển-đà, xong ông ta không nhận lời can gián, lại
nói: “Điều tôi nói là sự thật, ngoài ra đều
hư vọng”.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng
nhơn duyên này tập hợp chúng Bí-sô. Ngài biết mà
vẫn hỏi… (như trước).
- Này, Xiển-đà ! Tại sao ông chấp
chặt không bỏ ?! Bằng mọi cách quở trách
rồi, cho đến câu: Ta quán mười điều
lợi, v́ các đệ tử chế Học xứ này
như sau:
“Nếu lại có Bí-sô ác tánh không nhận
lời can gián. Các Bí-sô đối với giới Phật
dạy trong kinh, như pháp, như luật, khi khuyên can, không
nhận lời khuyên can lại nói: Các Đại
đức chớ đến tôi nói điều ǵ hoặc
tốt, hoặc xấu; tôi cũng không đến các
Đại đức nói bất cứ điều ǵ
hoặc tốt, hoặc xấu. Các Đại đức
thôi, đừng khuyên tôi, đừng luận nói với tôi.
Các Bí-sô nói với Bí-sô ấy rằng: Cụ thọ! Ngài
không nên không nhận lời can gián. Các Đại
đức đối với trong kinh, như pháp, như
luật, khi khuyên can, nên nhận lời khuyên can. Cụ
thọ như pháp can gián các Bí-sô, Các Bí-sô cũng như pháp
can gián cụ thọ. Như vậy, chúng Thanh-văn của
đức Như Lai ứng chánh đẳng giác bèn
được Tăng trưởng, cùng nhau can gián,
nhắc nhở cho nhau. Cụ thọ! Ngài nên bỏ việc
ấy. Các Bí-sô khi can gián như vậy, bỏ th́ tốt,
không bỏ nên ba lần ân cần chánh thức can gián. Tùy theo
sự hướng dẫn nên gạn hỏi, khiến cho
bỏ việc ấy, bỏ th́ tốt, không bỏ,
Tăng-già-phạt-thi-sa …”
+
Nếu có Bí-sô chỉ cho Xiển-đà và đồng
bọn. Ác tánh không nhận lời can gián tức là bậc
thiện Bí-sô dùng lời nói tùy thuận, không trái với
chánh lư, chánh thức khuyên can mà giữ nguyên ư kiến
của ḿnh, không tiếp thu lời khuyên can. Các Bí-sô là
chỉ cho các Bí-sô trong pháp này. Đối với trong
giới kinh mà đức Phật đă nói.
- Phật là chỉ
cho vị Đại sư. Đối với trong Giới
kinh tức là bốn Ba-la-thị-ca, mười ba
Tăng-già-phạt-thi-sa, hai Bất định, ba
mươi Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca, chín
mươi Ba-dật-để-ca, bốn
Ba-la-để-đề-xá-ni, chúng đa học pháp,
bảy pháp Diệt tránh.
- Kinh là chỉ cho cái
nghĩa thứ lớp lược bày giải thích rơ ràng.
Khi y theo pháp luật… Như vậy khuyên can hối cải
mà không nghe theo lời của người, tự thủ ác
tánh của ḿnh, trong nếp sống cố chấp. Các
Đại đức đừng đến tôi nói
điều ǵ hoặc tốt hoặc xấu, tức là
lời phải cũng không
nghe, việc ác cũng không chận. Đây đều là
lời can gián riêng. Đại đức thôi đi tức
là lời từ chối sự can gián một cách quả
quyết. Cho đến ba lần can gián, nói đầy
đủ như trước.
Trong
vấn đề này tướng phạm thế nào ?
Khi
biết các Bí-sô can gián như pháp mà từ chối th́
phạm tội nặng nhẹ như giới trước
đă nói.
Khi
các Bí-sô đều có nghi vấn nên bạch Phật
rằng:
- Kính bạch
đức Thế Tôn! Bí-sô Xiển-đà này có nhơn duyên
ǵ mà ỷ thế đức Như Lai, dựa vào thế
lực của ḍng họ, đối với các Bí-sô
thiện hảo trước đây, tự ỷ kiêu
ngạo nói lời khinh thị ?
Đức
Phật bảo các Bí-sô:
- Bí-sô Xiển-đà
chẳng phải mới ngày nay mới ỷ thế lực
của ta, kiêu ngạo khinh thường các Bí-sô mà trong
đời quá khứ cũng
đă ỷ nơi Ta đối với các Bà-la-môn,
Cư sĩ thiện hảo tự khoe ḿnh để
rồi kiêu mạn. Sự việc như sau, quư vị
lắng nghe:
Thuở xa xưa
trong thành Thạch Thiết có Bà-la-môn tên là Nguyệt Tử,
lấy một người con gái cùng họ làm vợ.
Thời gian không lâu sanh được một đứa
con, được đặt tên là Nguyệt Quang, tuổi
vừa lớn khôn đă biết trông coi gia nghiệp.
Thời gian sau đó, Bà-la-môn kia lâm bệnh, bị vợ
con bỏ rơi không hề chăm sóc. Trong nhà đứa
tớ gái tự nghĩ: “Người Bà-la-môn này, ngày này qua
ngày khác có đến cả trăm việc liền tay
mưu cầu lấy áo cơm để giúp đỡ cho
chúng ta, nay gặp phải bệnh khổ, vợ con không ngó
đến. Ông là chủ của ta, ta không chăm sóc là
điều không hay”. Đứa tớ gái nghĩ như
vậy rồi liền đến chỗ thầy thuốc
thưa:
- Thưa Hiền
thủ! Ngài biết Bà-la-môn Nguyệt Tử chăng ?
Vị thầy
thuốc nói:
- Trước đây
tôi từng biết ông ấy, không biết hiện nay ông
ấy thế nào?
Đứa tớ gái
trả lời:
-
Hiện nay ông ấy bị bệnh mà vợ con bỏ
rơi. Ngài có thể ra phương thang để trị
bệnh ông ấy theo lời yêu cầu của tôi không ?
Ông
thầy thuốc hỏi:
-Vợ
con ông ấy đă không chăm
sóc, vậy ai là người nuôi sống ông ta ?!
Đứa
tớ gái thưa:
- Chỉ có một
ḿnh tôi chăm sóc mà thôi.
Vị
thầy thuốc liền ra phương thang để
chữa. Đứa tớ gái chăm lo mọi việc,
bệnh t́nh được thuyên giảm.
Khi
ấy, người Bà-la-môn liền sanh ư niệm: “Ta lâm
phải bệnh hoạn, vợ con ta không ngó ngàng
đến. Nay ta được sống, đều
nhờ ơn của người sứ nữ, đă có công
lao khó khổ, làm sao ta không trả ơn!” Do vậy,
liền nói với người sứ nữ:
-
Hiền thủ! Tôi vừa gặp phải bệnh hoạn,
vợ con của tôi không ngó ngàng đến. Nay tôi
được sống, là nhờ ơn của Hiền
thủ. Hiền thủ muốn ǵ, tôi đều thỏa
măn.
Người sứ nữ thưa:
- Nếu Đại gia đối với
tôi có chút tư ái như vậy, may mắn thay
được cùng tôi giao hoan.
Người Bà-la-môn
nói:
-Nay, người làm
sao thực hiện được giao hoan ấy? Ta sẽ
cho người năm trăm kim tiền, giải phóng
kiếp sống nô lệ của người. Người
được sống tự do, thoát khỏi đời
bần tiện.
Sứ nữ trả
lời:
- Thưa Đại
gia! Tuy tôi mong được giải phóng khỏi cái ách nô
lệ nhưng có được cái tâm mẫn niệm giao
hoan của ông vẫn hơn thôi!
Người Bà-la-môn
nói:
- Tùy theo nguyện
vọng của người. Sau khi nguyệt kỳ măn,
thời điểm có thể thọ thai, đến báo
với tôi.
Sau thời
điểm ấy, thời điểm thân sạch đúng
kỳ, sứ nữ đến báo với Đại gia.
Đại gia cùng với sứ nữ giao mật. Sứ
nữ mang thai.
Khi người
vợ của Bà-la-môn t́m hiểu, biết chồng với
đứa tớ gái lén làm việc giao thông. Kể từ
đó, bà ta hành hạ sứ nữ, đánh đập khổ
sở, cơm không đủ no áo không đủ ấm.
Sứ nữ tự nghĩ: “Thật là loài “hữu t́nh”
bạc phước, ngay từ ngày đầu nương
vào thai của ta th́ vợ của người Bà-la-môn
đối xử với ta bằng cây, bằng gậy
đă thí cho ta áo rách cơm khô, khổ sao là khổ!” Thế
rồi, cái ngày măn nguyệt khai hoa lại đến.
Sứ nữ sanh con, đứa con trai. Sứ nữ lại
có suy nghĩ: “Đây là loài “hữu t́nh” bạc
phước, ngay từ ngày đầu nương vào thai
của ta th́ vợ của người Bà-la-môn cấm
đoán hành hạ đánh đập ta... nếu loài
“hữu t́nh” này càng lớn th́ sự đói khổ của
ta càng thêm”. Nghĩ như vậy rồi liền đem hài
nhi bỏ vào trong cái chậu giặt, toan đem vất ra
ngoài. Khi ấy, người Bà-la-môn thấy, hỏi:
-Hiền thủ! Cái
ǵ đựng bên trong chậu giặt vậy ?
Sứ nữ lúng túng
trả lời:
- Không có cái ǵ
hết.
Người Bà-la-môn
khả nghi nói:
-Đem cái chậu
giặt đến cho tôi xem.
Chậu mang
đến, người Bà-la-môn thấy trong chậu
giặt có một hài nhi mới sanh, liền hỏi:
-Ngươi muốn
vất… chăng ?!
Sứ nữ
buồn khóc, nghẹn ngào thốt lên lời:
-“Vật” bạc
phước này, ngay khi ở trong thai, Đại gia
liền gia tăng sự hành hạ nghiêm trọng cực
kỳ đối với tôi, áo rách không đủ che thân,
cơm thừa không đủ no bụng. Nếu “vật”
bạc phước này càng lớn th́ đói khổ càng thêm
nhiều. Do nhơn duyên ấy, nay tôi muốn vất bỏ
nó đi!
Người Bà-la-môn
bùi ngùi thốt từng lời một:
-“Vật” này có
tội ǵ ?! Tôi mới là kẻ có tội!
Người Bà-la-môn khéo lời an ủi
khuyến dụ khiến cho sứ nữ đem về nuôi
nấng, đồng thời báo với người vợ
rằng:
-Ngươi đâu không nhớ trước
đây ta lâm bệnh mạng sống mong manh, người và
con của người đều không ngó ngàng đến.
Ngày nay, ta c̣n sống đây hoàn toàn nhờ ơn nuôi
nấng, chăm sóc tận t́nh của sứ nữ. Nếu
người chia bùi sẽ ngọt với người này
th́ tốt, bằng không ta sẽ lập người này lên
làm gia trưởng, ngươi trở thành kẻ hầu
hạ, sự cung cấp cho người sẽ
ngược lại.
Khi người vợ của Bà-la-môn nghe
chồng nói như vậy th́ hết sức kinh hăi, liền
sanh ỹ nghĩ riêng: “Bà-la-môn nầy bẩm tánh bạo ác,
ta không y theo lời của ông ta, ta sẽ bị nhục
h́nh”. Bà ta nghĩ như vậy xong, liền báo cáo với
chồng rằng:
- Em thật không biết, anh đă cùng
sứ nữ nầy có tư ái. Từ nay về sau cho
đến một lời nói vui, em cũng không dám vô ư
để lỡ lời!
Hài nhi kia do đă
bỏ trong chậu giặt định để vất ra
ngoài mà được cứu sống nên người trong
nhà đặt tên là “Chậu giặt” (Hoán bồn). Từ
đó, khôn lớn “Chậu giặt” được cùng
ăn với cha, với miếng ăn ngon. Người cha
được mời, “Chậu giặt” đều
được cha dẫn theo. Thời gian sau, Bà-la-môn kia lâm
phải trọng bệnh, kêu Trưởng tử Nguyệt
Quang nói:
-Sau khi cha qua
đời, con khỏi phải lo sự thiếu thốn,
xongđồng tử “Chậu giặt” tuổi c̣n thơ
ấu, con cần phải ưu niệm nó, khổ vui có
nhau!
Trước cha,
Nguyệt Quang cung kính lắng nghe lời giáo huấn
của cha. Người Bà-la-môn tuy được chăm
sóc thuốc thang đầy đủ, xong bệnh t́nh không
thuyên giảm, không bao lâu người Bà-la-môn qua đời,
có bài tụng như sau:
Sùng cao ắt đọa
lạc
Hiệp hội rồi
biệt ly
Có thân ắt phải chết.
Người Bà-la-môn
qua đời, vợ con họ hàng buồn rầu than khóc,
dùng lụa tạp sắc quư giá tẩn liệm. Chiếc xe
tang trang nghiêm đưa đến rừng thây, lễ
hỏa táng đúng nghi pháp. Quay trở về nhà cũ
cả gia đ́nh sống với ưu sầu c̣n lại.
Nguyệt Quang
bảo với Hoán Bồn rằng:
-Từ nay, em
đến cùng chung sống với anh, ăn với anh
một mâm.
Mẹ của
Nguyệt Quang thấy vậy lại nói:
-Con không nên cùng
sống, cùng ăn với con
của đứa tớ gái.
Nguyệt Quang
thưa với mẹ:
-Từ lâu mẹ
thường nói nó là em của con, tại sao ngày nay mẹ
lại nói nó là con của đứa tớ gái?!
Mẹ của
Nguyệt Quang liền báo với con
ḿnh là:
-Khi cha của con c̣n
sanh tiền bẩm tánh bạo ác, đâu ai dám gọi nó là
con của đứa tớ gái.
Lúc ấy Hoán Bồn
nghe nói như vậy rồi, liền đến mẹ ḿnh
thưa rằng:
-Con là con của
đứa tớ gái sanh ra phải không ?
Mẹ của Hoán
Bồn trả lời:
-Đều do
nghiệp về trước. Sao lại là kẻ nô nhi!
Ở đời mạnh hiếp yếu là chuyện
thường t́nh. Vợ của người Bà-la-môn này
cực kỳ ác hạnh, nay con nên t́m sự sống nơi
tha phương!?
Bấy giờ Hoán
Bồn từ tạ mẹ ḿnh để đi lang thang t́m
sự sống nơi thành ấp và tự cải
đổi tên ḿnh thành Nguyệt Tịnh. Nguyệt Tịnh
tuần tự du hành, đến thành Thất-la-phạt. Lúc
ấy, trong thành này có một vị Đại thần Bà-la-môn,
chỉ sanh một đứa con gái, nghi dung đoan chánh,
người đời ai cũng muốn ngắm cái dung
nhan ấy. Ái nữ vừa trưởng thành có thể làm
hôn lễ. Đại thần Bà-la-môn bèn có ư nghĩ:
“Thiếu nữ của ta, không cần t́m quư tộc, không
cần t́m tiền tài, không cần t́m dung sắc… để
hôn sánh, mà chỉ cần nam tử nào đối với ta
có thể học bốn minh luận, khéo hay thông
đạt, ta sẽ thuận gả”.
Nguyệt Tịnh
với tháng ngày làm kẻ du phương cầu thực xong
luôn lưu tâm đến vấn đề học
nghiệp. Nguyệt Tịnh đến chỗ của
người Đại thần Bà-la-môn xin được
cầu học bốn minh luận. Vị Đại sư
Bà-la-môn hỏi:
-Ông từ đâu
đến ?
Nguyệt Tịnh
đáp:
-Đến từ
thành Thạch Thiết.
Đại sư
hỏi:
-Ông biết các nhân
vật ở thành đó chăng ?
Nguyệt Tịnh
đáp:
-Tôi biết.
Đại sư
hỏi:
-Ông biết
đại Bà-la-môn Nguyệt Tử chăng ?
Nguyệt Tịnh
vừa nghe xong bỗng nhiên khóc. Đại sư bèn
hỏi:
-Tại sao ông khóc ?
Nguyệt Tịnh
thưa:
-Người ấy
đă qua đời rồi, Ngài là Tôn thân của tôi!
Vị Đại sư Bà-la-môn tự
giới thiệu:
-Tôi là bạn của người ấy,
từ lâu đă xa cách biền biệt, nay được
tin th́ người bạn của tôi đă qua đời,
thật là điều đáng thương tiếc!
Do vậy, vị Đại sư liền
chấp thuận sự cầu học của Nguyệt
Tịnh. Nguyệt Tịnh vui sống thích thú ham học
Tứ minh, bẩm tánh thông mẫn, thời gian chưa bao
lâu th́ đă thông hiểu tập luận. Thế rồi,
vị Bà-la-môn lại có suy nghĩ: “Trước đây, ta
có lời nguyện là thiếu nữ của ta không cần
t́m quư tộc, không cần t́m tiền tài, không cần t́m dung
sắc… Mà nam tử nào đối với ta có thể
học bốn minh luận, khéo hay thông đạt, ta sẽ
thuận gả”. Do vậy, liền dùng các anh lạc trang
sức cho thiếu nữ, mời tôn thân môn tộc
đến thiết lễ tế thần lửa.
- Ma-nạp-bà! Nay tôi đem thiếu nữ
này trao cho người làm vợ.
Nguyệt Tịnh thuận nhận, đi
quanh đống lửa ba ṿng. Bao nhiêu người Bà-la-môn
khác đồng thanh chú nguyện:
- Nguyện trường thọ, nguyện
không bệnh hoạn, tông môn tốt đẹp!
Sau đó, bày bố tất cả nghi lễ
cùng vui tác thành hôn lễ. Được vị Đại
thần ái niệm, giao cho việc trông coi gia thất,
của cải đều giao hết cho Nguyệt Tịnh.
Gia tài rất giàu, có nhiều trân bảo. Khách buôn xa gần
không ai không đến hợp đồng để làm
ăn. Khi ấy có khách buôn ở nơi thành Thạch
Thiết đem các hàng hóa đến thành
Thất-la-phạt, gặp được “Chậu
giặt”, cùng nhau nói bàn:
- “Chậu giặt” này, nay là chồng
của thiếu nữ con của Đại thần
Bà-la-môn. Người là một nghệ nhân chuyên nghiệp,
gia đ́nh cự phú, rất nhiều của cải. Giàu
nghèo mấy hồi, do số mệnh, ai đâu biết
trước được.
Số người buôn này, sau khi trao
đổi hàng hóa xong, chở các phẩm vật trở
về thành Thạch Thiết báo cho Nguyệt Quang biết
rằng:
- Tôi gặp “Chậu giặt”, em của ông
ở thành Thất-la-phạt, thông suốt tứ minh
luận, lấy con gái của vị Đại thần, gia
đ́nh cự phú, rất nhiều của cải tài sản
châu báu.
Nguyệt Quang nghe xong, liền báo cáo với
mẹ rằng:
- Con được tin “Chậu giặt”
hiện ở tại thành Thất-la-phạt thế lực
hào phú, khác với người tầm thường.
Người mẹ của Nguyệt Quang
nghe xong, tỏ vẻ không hài ḷng. Sau đó thời gian, gia
nghiệp của Nguyệt Quang ngày càng thua sút, đưa
đến sự nghèo nàn thiếu thốn. Mẹ của
Nguyệt Quang nói với con của ḿnh rằng:
- Như trước đây con nghe, Chậu
giặt là em của con, nay nó thành kẻ cự phú, con nên
đến thăm, của cải sẵn có, nó cứu giúp
cho con chăng!
Nguyệt Quang
thưa lại mẹ:
- Trước kia
mẹ nói nó là con của đứa tớ gái nay trở
thành em của con à ?!
Tuy vậy, không dám
trái với lời mẹ dạy, Nguyệt Quang bèn
đến nơi thành Thất-la-phạt. Vào ngày nọ
Chậu giặt nghe nói có đại huynh tên là Nguyệt
Quang cùng đi với đoàn con buôn đến thành này,
tức tốc đên chỗ đoàn buôn, nghinh đón
người anh một cách trọng hậu, quỳ lạy
hoan hỷ, kính thưa với người anh:
- Em tự
đặt tên là Nguyệt Tịnh, chứ không c̣n gọi là
Chậu giặt (Hoán Bồn) nữa.
Người anh
liền ghi nhận sự đổi tên của em ḿnh.
Nguyệt Tịnh rước người anh về nhà,
bảo vợ của ḿnh rằng:
- Đây là
đại huynh của anh. Em đặc biệt lưu tâm
cung phụng hầu hạ với những nhu cầu
tốt đẹp.
Vợ của
Nguyệt Tịnh nghe xong, y giáo cấp dưỡng.
Tánh t́nh của
Nguyệt Quang ôn ḥa độ lượng, dễ dàng
để ở chung; trái lại bẩm tánh của Hoán
Bồn (Châu giặt) thô ác bạo ngược rất khó
để ở cho được vừa ư. Với
người vợ trong nhà thường hành sử cấm
đoán cay độc. Khi ấy, vợ mới cưới
của Nguyệt Tịnh thưa với anh chồng là
Nguyệt Quang rằng:
- Anh đối
với nhà em như một nguồn sữa để
sống, bởi lẽ tánh của anh khoan dung độ
lượng nhơn từ, c̣n em của anh tính cứng
cỏi thô ác.
Nguyệt Quang bèn nói:
- Bẩm tánh của
nhà em như vậy mà em chưa được học
tập chú thuật quản gia. Do đó, việc phiền
bực càng thêm.
Vợ của
Nguyệt Tịnh liền thưa với người anh:
- May mắn thay! Anh
rủ ḷng thương ban cho em chú thuật quản gia.
Lúc ấy, Nguyệt
Quang nói bài kệ:
Minh chú không cho người
Có
cầu khẩn mới cho
Hoặc
thời được thừa sự
Nếu
không là như vậy
Dầu
chết không truyền trao.
Vợ của
Nguyệt Tịnh nghe xong liền nói:
- Anh cả cần nhận
bao nhiêu phẩm vật để tương xứng
với vấn đề ?
Nguyệt Quang
trả lời:
- Phẩm vật
trị giá năm trăm kim tiền th́ tương xứng
với việc trao cho thần chú.
Vợ của
Nguyệt Tịnh liền dùng năm trăm kim tiền
để hiến dâng và kính lễ cầu thỉnh:
- May mắn thay, kính xin
anh rủ ḷng thương ban cho em chú thuật quản gia.
Nguyệt Quang
trả lời:
- Đợi ngày anh
về sẽ trao cho.
Vợ Nguyệt
Tịnh tha thiết mong được nhận minh chú nên
khéo lời nói với chồng rằng:
- Đại huynh
đến chơi đă lâu, tại sao anh chưa tạo
điều kiện để Đại huynh trở
về!
Nguyệt Tịnh
liền nói:
- Hiền thủ! Em
chuẩn bị lương thực và thức ăn
uống đi đường.
Dặn ḍ vợ xong,
Nguyệt Tịnh liền đi t́m thương tộc.
Người vợ của Nguyệt Tịnh liền đem
năm trăm kim tiền trao cho anh để cầu thỉnh
pháp thuật. Nguyệt Quang nhận phẩm vật rồi
liền nói chú thuật:
Người
nửa thành đều biết
Thân
tộc cũng đều hay
“Chậu
giặt” nên im lặng
Nói minh chú rồi,
Nguyệt Quang bảo vợ của Nguyệt Tịnh
rằng:
- Nghĩa của minh
chú này rất sâu xa, thím nên tụng thuộc ḷng. Khi chồng
của thím muốn lấy roi đánh, thím liền nói:
“Đừng đánh, đợi em đọc minh chú đă.
Nếu có gọi minh chú nghĩa là ǵ th́ nói: Đừng giận,
em sẽ tŕnh bày nghĩa của minh chú”.
Người
chồng t́m được thương tộc, đúng phép
tặng vật phẩm gửi gấm và đưa tiễn,
Nguyệt Quang trở về quê cũ sau đó Nguyệt
Tịnh về lại nhà. Vợ của Nguyệt Tịnh
khởi ư nghĩ: “Tuy là ta đă được minh chú,
nhưng chưa biết có hiệu nghiệm hay chăng! Nay,
ta cần tạo môi trường để thử
nghiệm: dụng cụ tắm rửa cho chồng
đều không chuẩn bị trước, thức ăn
cần thiết cũng không sửa soạn chi cả”.
Nguyệt Tịnh đ̣i hỏi nước. Người
vợ trả lời là không có nước. Nguyệt Tịnh
nói:
- Tôi đói quá,
cần thức ăn uống.
Người vợ
trả lời:
- Thức ăn
cũng chưa nấu.
Người
chồng liền nổi giận, phẩn nộ, mắng
vợ:
- Thời gian vừa
qua, anh của tao có mặt tao không trị mày.
Nói xong liền
đưa tay lên muốn đánh vợ. Theo sự
hướng dẫn của Nguyệt Quang, vợ Nguyệt
Tịnh nói:
- Phu quân khoan đánh,
nghe em đọc minh chú đă.
Nguyệt Tịnh
bảo:
- Đọc đi,
xem sao ?
Vợ của
Nguyệt Tịnh liền đọc:
Người
nửa thành đều biết
Thân
tộc cũng đều hay
Sa-ha
lại đừng nói!
Người
chồng nghe xong lại liền hỏi:
- Minh chú nghĩa
thế nào ?
Vợ trả
lời:
- Đừng
giận, em sẽ nói nghĩa của minh chú.
Người
chồng nhớ lại liền nói:
- Không nói nghĩa, anh
cũng không đánh!
Từ đó,
Chậu giặt im hơi lặng tiếng, không hề la
rầy ǵ vợ cả.
Này các Bí-sô! Nguyệt
Tử Bà-la-môn trước kia là tiền thân của Ta,
Chậu giặt tức là Xiển-đà ngày nay. Xưa kia
ỷ vào ḍng tộc của Ta khinh cuống đối
với người. Nay, trở lại ỷ nơi tông
phong của Ta khinh các vị đồng phạm hạnh.
Do đó, các Bí-sô không
nên ỷ thế lực khi miệt đối với
người. Các Bí-sô cần nhiếp tâm khiêm tốn trong
nếp sống.
Các Đại
đức! Tôi đă nói mười ba pháp
Tăng-già-phạt-thi-sa. Chín giới đầu là phạm,
bốn giới sau ba lần can gián mới phạm. Nếu
Bí-sô nào phạm một trong mười ba pháp mà che giấu,
tùy theo thời gian che giấu cưỡng bức trao cho
pháp Ba-lợi-bà-sa. Hành Ba-lợi-bà-sa rồi, Chúng nên trao cho
sáu đêm Ma-na-đỏa. hành Ma-na-đỏa rồi, c̣n
phải xuất tội. Giữa Tăng hai mươi
vị, xuất tội của Bí-sô kia. Nếu thiếu
một người, không đủ chúng hai mươi
vị th́ tội của Bí-sô kia không được
trừ. Các Bí-sô đều phạm tội. Đây là pháp
xuất tội.
Nay hỏi các
Đại đức trong đây có thanh tịnh không?
Lần thứ hai, lần thứ ba cũng như vậy.
Các Đại đức! Tôi biết Chúng thanh tịnh, do
sự im lặng. Nay, tôi ghi nhận như vậy.
HAI PHÁP
BẤT ĐỊNH.
Nhiếp tụng:
Nếu
ở nơi vắng kín
Chỗ
có thể hành dâm
Không có
người thứ ba.
Lúc bấy giờ, đức
Thế Tôn ở thành Thất-la-phạt, rừng
Thệ-đa, vườn Cấp-cô-độc. Khi ấy,
Cụ thọ Ô-đà-di, phần đầu của ngày
mặc y, bưng bát, vào thành khất thực rồi
đến nhà cửa “cố nhị” Cấp-đa. Lúc
đó, Cấp-đa thấy Ô-đà-di đến liền
trưng bày ṭa ngồi bằng đồ diệu hảo,
niềm nở nghinh đón, chào:
- Thiện lai
Đại đức! Đây là ṭa ngồi đặt
biệt, mời Ngài an tọa.
Ô-đà-di liền
bước đến ṭa ngồi. Sau khi Cấp-đa kính
lễ xong, bèn ngồi trên đầu gối của
Ô-đà-di để nghe pháp. Ô-đà-di dùng lời văn vẻ
dịu dàng thuyết pháp. Khi ấy, Lộc tử mẫu
Tỳ-xá-khư nghe tiếng nói pháp, liền có ư nghĩ:
“Đây là giọng của Đại đức Ô-đà-di
v́ Cấp-đa dùng lời lẽ dịu ngọt để
nói pháp yếu. Lời lẽ ngọt như
đường mới nấu thế này ta nên đến
để nghe pháp”. Tỳ-xá-khư liền đến
chỗ của Cấp-đa, mục kích nàng ta ngồi trên
đầu gối của Ô-đà-di để nghe pháp, bèn
nghĩ: “Đây không phải là cử chỉ mà người
xuất gia nên làm. Nếu kẻ chưa có ḷng tin thấy
điều này, chắc chắn họ gọi Bí-sô với
người nữ ở chỗ riêng vắng cùng làm
điều phi pháp, rồi đem đi rêu rao cơ
hiềm. Nay, ta nên đem nhơn duyên này bạch với
đức Thế Tôn để Ngài được
biết”. Thế rồi, Tỳ-xá-khư đến ngay
chỗ Phật, lễ chân Phật rồi ngồi qua
một bên đem sự việc trên tŕnh bày đầy
đủ với đức Phật:
- Cúi xin Thế Tôn
từ nay về sau, v́ các Thánh chúng chế Học xứ này,
để luôn ghi nhớ, không nên chỗ vắng kín, cùng
ngồi với một người nữ, từ mẫn
cố!
Đức Thế
Tôn nhận lời thỉnh cầu của Tỳ-xá-khư
bằng sự im lặng đă trở thành nếp trong
đời sống. Tỳ-xá-khư biết đức Thế
Tôn nhận lời bằng sự im lặng rồi lễ
Phật cáo lui.
Đức Thế
Tôn dùng nhơn duyên này tập hợp các Bí-sô v́ hai lư do:
Một là khiến các Thanh-văn đệ tử của Ta
biết việc này là điều không nên làm. Hai là chế
Học xứ.
Lúc bấy giờ,
đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi… (như
trước) cho đến câu: Ta quán mười
điều lợi, v́ các đệ tử, chế Học xứ
này như sau:
“Nếu lại có
Bí-sô một ḿnh cùng với một người nữ
ngồi ở chỗ vắng kín, có thể hành dâm. Có chánh
tín Ô-ba-tư-ca, đối với trong ba pháp, tùy nói một
pháp, hoặc Ba-la-thị-ca, hoặc
Tăng-già-phạt-thi-sa, hoặc Ba-dật-để-ca.
Bí-sô ngồi kia tự nói việc này, đối với
trong ba pháp tùy theo mỗi một pháp mà trị, hoặc
Ba-la-thị-ca, hoặc Tăng-già-phạt-thi-sa, hoặc
Ba-dật-để-ca. Hoặc y theo lời nói cũ
Ô-ba-tư-ca mà trị Bí-sô kia. Như vậy gọi là pháp
bất định”.
+ Nếu lại có
Bí-sô là chỉ cho Ô-đà-di và đồng bọn. Một
ḿnh tức là chỉ có một Bí-sô. Một người
nữ tức là không có bạn gái hay bạn nam hoặc
Huỳnh môn. Nữ nhơn là gái có chồng hay chưa có
chồng mà có thể làm hạnh bất tịnh.
- Có năm thứ
gọi là vắng kín: Một là tường, hai là rào, ba là
vải che, bốn là rừng rậm, năm là đêm
tối.
- Chỗ ngồi
gồm có ghế, giường cho đến bề cao trong
ṿng một tầm.
- Chỗ có thể
hành dâm, nghĩa là địa điểm có thể làm
hạnh bất tịnh.
- Có chánh tín
Ô-ba-tư-ca, tức là người đối với
Phật, Pháp, Tăng có ḷng tin sâu đậm, đắc
bất hoại tín, đối với bốn chơn
đế không có nghi hoặc, đắc kiến đế
quả, dầu gặp phải nhân duyên mất mạng
vẫn không nói dối.
- Nói ba pháp là nêu lên
số mục vậy. Tùy nói một pháp, tức là bốn
Tha thắng, mười ba Tăng tàn, chín mươi
Tội đọa, phạm một pháp trong những pháp này.
- Chánh tín Ô-ba-tư-ca
này đối với tội trạng không biết, cũng
lại không biết nhơn khởi lên việc phạm
tội, chỉ thấy Bí-sô kia tự xưng đắc
pháp thượng nhơn, cùng thân người nữ xúc
chạm nhau, hoặc thời uống rượu, đào
đất, phá hoại sanh chủng, hoặc ăn phi
thời. Đây là việc bất định, không có
chuẩn đích nhất định vậy. Nên như pháp
trị Bí-sô kia, khiến cho vị ấy nói lên sự ăn
năn của ḿnh.
Trong vấn
đề này phạm tướng như thế nào ?
- Nếu chánh tín
Ô-ba-tư-ca nói: Tôi thấy Bí-sô cùng với người
nữ đi một ḿnh, không thấy đứng, ngồi,
nằm.
- Hoặc nói: Tôi
thấy đi, đứng, chứ chẳng phải
ngồi, nằm.
- Hoặc nói: Tôi
thấy đi, đứng, ngồi, chứ chẳng
phải nằm.
- Hoặc nói: tôi
thấy đi, đứng, ngồi, nằm.
Những
trường hợp này đều y theo lời tŕnh bày
của Ô-ba-tư-ca mà xử trị.
- Nếu chánh tín
Ô-ba-tư-ca thấy Bí-sô kia cùng với người nữ
đi, đứng v.v… Khi đối vấn, Bí-sô kia không
chống đối việc này nên trao cho Yết-ma mích tội
tướng. Thực hành: Trải ṭa, đánh kiền chùy,
trước hết bạch chúng. Chúng tập hợp
rồi khiến một Bí-sô tác pháp Yết-ma trên.
Đức Phật
bảo các Bí-sô:
- Bí-sô
được trao cho Yết-ma mích tội tự
tướng phải phụng hành như pháp Ta nói sau đây:
“Bí-sô phạm pháp này rồi, không nên cho
người xuất gia, thọ Viên cụ, và làm y chỉ.
Không được nuôi cầu tịch, trước đó
đă nuôi th́ không nên cho thọ Viên cụ. Nếu thấy
Bí-sô khác phá giới, phá kiến, phá oai nghi, phá tịnh
mạng, không được cật vấn khiển trách,
trao pháp ức niệm; không nên giáo thọ Bí-sô, Bí-sô-ni dù
trước đă được sai th́ cũng phải
chấm dứt. Không cùng Bố-tát, Tự tứ, không làm
đơn bạch, bạch nhị, bạch tứ. Nếu
có người khác hiểu Tỳ-nại-da th́ không
được đối với trong chúng thuyết Tỳ-nại-da.
Bí-sô nào đắc pháp này mà không phụng hành những pháp
trên th́ phạm tội Việt pháp”.
Nếu Bí-sô này sanh
tâm cung kính tùy thuận không chống trái, trong phạm vi
của giới, cần cầu chúng Tăng giải. Chúng
Tăng biết vị ấy thật sự ăn năn
không hề chống trái th́ nên tác pháp giải cho vị
ấy. Tập Tăng xong, Bí-sô đương sự, oai
nghi chí kính, đến trước Thượng tọa,
ngồi chồm hổm, chấp tay, bạch:
“Đại
đức Tăng-già lắng nghe! Tôi tên là… Tăng-già trao
cho pháp mích tội tự tướng. Tâm tôi cung kính, tùy
thuận không chống trái, nay ở trong giới, theo chúng
xin giải. Chúng tăng v́ tôi tác pháp Yết-ma giải
việc kia. Tôi đều không dám trái nghịch. Cúi xin
Tăng-già v́ tôi giải Yết-ma mích tội tự
tướng. Từ mẫn cố! Bạch như vậy ba
lần”. Kế tiếp chúng sai một Bí-sô tác pháp
Yết-ma.
* Hai pháp bất
định này, pháp thứ nhất cùng pháp thứ hai
phần nhiều giống nhau.
- Trong đây vấn
đề khác là pháp ban đầu ở nơi thành
Thất-la-phạt, Bí-sô Ô-đà-di cùng với
Cố-nhị-cấp-đa là người làm duyên khởi
phạm giới, Lộc tử mẫu Tỳ-xá-khư, Ô-ba-tư-ca
phát hiện việc này.
- Pháp thứ hai
ở nơi thành
Vương-xá, Bí-sô Thất-lợi-ca cùng với vợ
Trưởng giả Thiện Sanh, Ô-bao-sái-đà,
Ô-ba-tư-ca. Trước căn cứ vào ba việc,
chỗ vắng kín có thể hành dâm, sau th́ hai việc
chỗ không thể hành dâm.
Đó là tướng
khác, giới tướng như sau:
“Nếu lại có
Bí-sô cùng với một người nữ ngồi ở
chỗ không vắng kín, không thể hành dâm, có chánh tín Ô-ba-tư-ca,
tùy nói một trong hai pháp, hoặc Tăng-già-phạt-thi-sa,
hoặc Ba-dật-để-ca. Bí-sô ngồi kia tự nói
việc này, nếu trong hai pháp nên tùy theo trong mỗi một
pháp mà trị. Bí-sô kia phạm Tăng-già-phạt-thi-sa
hoặc phạm Ba-dật-để-ca hoặc dựa theo
sự việc mà Ô-ba-tư-ca nói để trị Bí-sô
ấy. Như vậy gọi là Pháp bất định.” Hai
pháp bất định đă xong.
Nhiếp
tụng ban đầu:
Giữ, ĺa, chứa, giặt y
Lấy y xin quá thọ
Đồng giá và khác
chủ
Sai sứ đem y tài.
·
Học xứ thứ nhất:
Chứa y không phân biệt.
Đức Phật
ở thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa,
vườn Cấp-cô-độc, khi ấy các Bí-sô chứa
nhiều ba y, mỗi lần đánh răng súc miệng, khi rửa
chân tay, lễ bái hai thầy, lễ Thế Tôn, lau quét chùa,
trét phân ḅ, vào thôn khất thực, khi thọ thực, khi
thọ giáo, thính pháp, mỗi trường hợp
đều mặt một loại y khác. Vấn đề
thay y, xếp y, hong phơi… bận rộn nhiều
việc, mất nhiều th́ giờ, phế bỏ
đọc tụng tư duy thiện phẩm. Các Bí-sô
thiểu dục thấy vậy cùng nhau cơ hiềm:
- Tại sao Bí-sô
chứa cất lắm y, phế tu chánh nghiệp.
Các Bí-sô đem
nhơn duyên này tŕnh bày đầy đủ với
đức Thế Tôn. Đức Phật tập hợp các
Bí-sô… (như trước) hỏi, biết đúng sự
thật, dùng bằng mọi cách quở trách:
- Vấn đề
nhiều ham muốn, không biết đủ, khó nuôi, khó
thỏa măn, khen ngợi: Hạng người ít ham muốn,
biết đủ, dễ nuôi, dễ thỏa măn, biết
lượng định để thọ, tu hạnh
Đỗ-đa. Đức Phật bảo các Bí-sô… cho
đến câu: Ta quán mười điều lợi, v́ các
đệ tử này chế Học xứ này như sau:
“Nếu lại có
Bí-sô y đă may xong, y Yết-sỉ-na đă xuất,
nhận được y dư, phân biệt nên chứa.
Nếu không phân biệt mà chứa, Ny-tát-kỳ
Ba-dật-để-ca”.
Thế Tôn v́ các
đệ tử Thanh-văn chế Học xứ như
vậy rồi, khi đức Phật ở thành
Vương-xá, ở nơi rừng Trúc. Lúc bấy giờ,
Cụ thọ Đại Ca-diếp-ba, trụ nơi pḥng
nhỏ, nơi trống vắng, bên cạnh thành này. Có
một Cư sĩ cứ hằng đêm thâu suy nghĩ:
“Lành thay! Không biết khi nào ta gặp được Ngài
Đại Ca-diếp-ba. Ngài là bậc nhơn thiên cúng dường.
Ta sẽ cúng thức ăn và dùng một chiếc y
thượng hạng chính tay làm nên để dâng Ngài xong
lời nguyện này chưa hoàn măn”. Một bữa nọ,
Cư sĩ lại đem thượng y đó đến
chỗ của Cụ thọ A-nan-đà thưa:
- Đại
đức A-nan-đà! Đại đức có biết Thánh
giả Đại Ca-diếp-ba hiện nay ở đâu không
?
Tôn giả A-nan-đà
trả lời:
- Hiền thủ! Tôi
nghe Thánh giả hiện ở nơi pḥng nhỏ, tại
A-lan-nhă.
Cư sĩ thưa:
- Khi nào Thánh giả
đến đây, thưa Đại đức ?
- Không lâu Ngài sẽ
đến đây, chậm lắm là đến ngày thứ
mười lăm Bố-tát, Ngài sẽ đến đây.
Cư sĩ thưa:
- Đại
đức nhớ cho! Suốt đêm con nghĩ: “May mắn
thay! Không biết ngày nào ta mới gặp Đại
Ca-diếp-ba. Ngài là bậc nhơn thiên cúng dường. Ta
sẽ dâng thức ăn và chiếc y thượng hạng
chính tay làm nên để cúng Ngài. Lời mong muốn đây của
ta chưa thỏa nguyện”. Thưa Đại đức!
Hiện nay con có mang chiếc y ấy theo đây. Chúng con c̣n
là Cư sĩ, bận rộn nhiều việc. May mắn
thay! Khi Ngài Đại Ca-diếp-ba về, nếu
được Ngài thay con dâng chiếc y này lên Đại
Ca-diếp-ba, cầu Ngài rủ ḷng thương thọ
nhận và đắp mặc để con hưởng công
đức.
Tôn giả A-nan-đà
nghe xong, liền suy nghĩ: “Ta thọ y này th́ trái với lời
đức Thế Tôn dạy. Ta không nhận th́ trở
ngại việc tu phước của thí chủ, mà
Đại Ca-diếp-ba lại thiếu lợi về y. Nay
ta đem y này đến hỏi đức Thế Tôn.
Đức Phật lấy việc này làm nhơn duyên sẽ
có sự hứa khả khai cho”. Có được suy
nghĩ này rồi, Tôn giả A-nan-đà v́ Cư sĩ và
Đại Ca-diếp-ba nhận y. Sau khi, Cư sĩ bái
từ ra về, A-nan-đà liền mang y này đến
chỗ đức Thế Tôn, lễ sát chân Phật rồi,
tŕnh bày đầy đủ sự việc. Đức
Phật bảo A-nan-đà:
- Lành thay! Lành thay!
A-nan-đà, ta chưa cho phép mà người đă dự
biết. Nếu có Bà-la-môn, Cư sĩ cúng y cho Bí-sô, các Bí-sô
kia phải nên v́ họ mà thọ nhận, nên xả y cũ,
thọ y mới.
Bấy giờ, các
Bí-sô nghe lời nói này rồi mà chưa hề hiểu rơ, làm
thế nào để xả y cũ!
Đức Phật
dạy:
- Y cũ và y dư
mang đến chỗ của thân giáo sư hay Ủy
phạm sư, khởi ư nghĩ trao gởi rồi giữ
để thọ dụng. Các Bí-sô không làm việc phân
biệt chứa để thời gian lâu. Đức
Thế Tôn biết rồi, bảo các Bi-sô: Ta quán
mười điều lợi, lại v́ các người,
chế Học này như sau:
“Nếu lại có Bí-sô y đă may
xong, y Yết-sỉ-na đă xuất, nhận
được y dư trong hạn mười ngày, không làm
phép phân biệt nên chứa. Nếu chứa quá, Ny-tát-kỳ
Ba-dật-để-ca”.
+ Nếu lại có
Bí-sô may y đă xong, y Yết-sỉ-na đă xuất, có may y
rồi chứ chẳng phải xuất y Yết-sỉ-na.
Có xuất y Yết-sỉ-na, chẳng phải may y rồi.
Có xuất y Yết-sỉ-na, may y cũng rồi. Chẳng
phải có may y rồi, chẳng phải xuất y
Yết-sỉ-na. Đó là câu ban đầu.
- Nếu Bí-sô
giặt nhuộm may thành y rồi xong Tăng chưa
xuất y Yết-sỉ-na. Đó là câu thứ hai.
- Nếu Bí-sô may y
chưa rồi, Tăng đă xuất y Yết-sỉ-na.
Đó là câu thứ ba.
- Nếu Bí-sô may y
xong, Tăng lại xuất y Yết-sỉ-na. Đó là câu
thứ tư.
- Nếu Bí-sô may y
chưa xong, y Yết-sỉ-na chưa xuất, nói nhận
được y dư trong hạn mười ngày tức
là mười đêm. Y dư là ngoài chiếc y thọ tŕ c̣n
có y riêng khác, làm phép phân biệt nên chứa. Nếu chứa
quá, Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca. Vật này nên xả,
tội kia nên sám.
+ Trong vấn
đề này, tướng phạm của nó như thế
nào ?
- Nếu Bí-sô ngày
đầu trong tháng nhận được y, Bí-sô
đối với trong mười ngày nên tŕ, nên xả, nên
tác pháp, nên cho người. Nếu không tŕ, không xả, không
tác pháp, không cho người, đến ngày thứ
mười một tướng mặt trời xuất
hiện, Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca.
- Nếu Bí-sô ngày
thứ nhất, được y ngày thứ hai không
được y, ngày thứ ba được y cho
đến ngày thứ mười được y, không v́
tŕ chung cho đến tướng mặt trời xuất
hiện ngày thứ mười một. Trong chín ngày
được y đều Ny-tát-kỳ
Ba-dật-để-ca.
Như vậy, cho
đến tám ngày v.v… được y, số ngày nhiều
ít được y trong mỗi câu chuẩn theo đây nên
biết.
- Nếu Bí-sô ngày
thứ nhất được y, ngày thứ hai
được y, Bí-sô kia đối với trong
mười ngày, thời gian trước nên tŕ, thời gian
sau được y nên xả… có thể dựa theo đây.
- Nếu không tác pháp,
cho đến ngày thứ mười một, tướng
mặt trời xuất hiện, trong hai ngày được
y đều Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca.
Như vậy cho
đến ba ngày v.v… được y, chuẩn theo đây
nên biết.
- Nếu Bí-sô một
ngày được hai y, cho đến hai ngày…
được y, nên đồng như trước mà tác
pháp. Nếu không tác pháp cho đến ngày thứ
mười một, tướng mặt trời xuất
hiện đều Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca.
- Nếu Bí-sô một
ngày nhận được nhiều loại y, hoặc cái
trước hoặc cái sau nên tŕ một y, ngoài ra
đều tác pháp, nếu không tác pháp đến ngày thứ
mười một, tướng mặt trời xuất
hiện, đều Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca.
- Nếu Bí-sô một
ngày nhận được nhiều loại y, ngày thứ
hai về sau cũng nhận được nhiều
loại y, tác pháp đồng như trước.
- Nếu không tác pháp
đến ngày thứ mười một, tướng
mặt trời xuất hiện, phạm tội
đồng như trước.
Nhưng
trường hợp này đều do cái trước
nhiễm cái sau nối tiếp nhau phát sanh tội lỗi.
- Nếu Bí-sô có cái y
phạm Ny-tát-kỳ, y này không xả, không trải qua
đêm, tội kia không thuyết hối. Nếu nhận
được các y khác đều phạm Xả
đọa.
- Nếu cái y
phạm Ny-tát-kỳ của Bí-sô này tuy xả, mà không
trải qua đêm tội không thuyết hối,
được các y khác đều phạm Xả
đọa.
- Nếu y xả
trải qua đêm mà tội không thuyết hối,
được các y khác đều phạm Xả
đọa, do cái trước nhiễm vậy.
- Nếu Bí-sô
chứa y dư, đă phạm Xả đọa, không làm ba
việc th́ được y, bát, đăy đựng bát,
đăy lọc nước, dây lưng, cho đến
nhận được bất cứ tư cụ ǵ
của Sa-môn, các duyên nuôi mạng sống đều
phạm Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca, do cái
trước nhiễm vậy.
- Nếu y xả,
cách đêm, tội kia thuyết hối, th́ được
các thứ y khác đều không phạm.
Trường hợp
không phạm: Người phạm lần đầu
hoặc si cuồng tâm loạn thống năo bức bách
(những giới sau đây, vấn đề phạm
tướng tương đồng sẽ không nêu ra.
Trường hợp bất đồng sẽ tùy theo đó
mà biệt xuất).