CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA

QUYỂN 16

TAM TẠNG PHÁP SƯ NGHĨA TỊNH PHỤNG CHẾ DỊCH

 

·        Học xứ thứ 13: Ác tánh chống trái lời khuyên can

 

       Lúc bấy giờ, Bạc-già-phạm ở tại nước Kiều-thiểm-tỳ trong vườn Cù-sư-la. Khi ấy, Cụ thọ Xiển-đà đă phạm tội mà không như pháp bày tỏ sám hối. Các Bí-sô thân hữu thấy sự việc như vậy, v́ muốn cho bạn ḿnh được lợi ích an lạc, nên nói với Cụ thọ Xiển-đà:

- Ngài phạm tội như pháp sám hối.

Xiển-đà lại trả lời:

- Ai phạm tội th́ người đó phải tự ḿnh như pháp sám hối.

Bạn thân của Xiển-đà nói:

- Chính bản thân Ngài phạm tội lại muốn khiến ai sám hối ?!

Xiển-đà lại nói:

- Người có truy hối họ sẽ sám hối.

Bạn của Xiển-đà nói:

-Ngài đă phạm tội nên sanh truy hối !

Xiển-đà lại trả lời:

- Các Cụ thọ chớ nên đến tôi nói điều ǵ hoặc tốt hoặc xấu. Tôi cũng không đến các Cụ thọ nói điều ǵ hoặc tốt hoặc xấu. Cụ thọ hăy thôi khuyên tôi, chớ luận bàn với tôi. Các Cụ thọ ! Các ngài gồm nhiều ḍng họ, gồm nhiều chủng loại đến đây xuất gia, cũng như lá cây gió thổi gom lại một chỗ. Các Cụ thọ cũng lại như vậy. Nhân v́ đức Thế Tôn của tôi chứng vô thượng giác nên các Ngài gồm nhiều ḍng họ tộc tánh đến cần cầu xuất gia.

Các Bí-sô nghe Xiển-đà nói như vậy liền sanh cơ hiềm, nói như vầy:

- Tại sao Bí-sô cùng với các Bí-sô đồng một Phật pháp, đồng một Học xứ, khi các Bí-sô khác như pháp, như luật chỗ riêng tư can gián thuyết hối, tự thân lại không nhận lời can gián ?!

Do thế, các Bí-sô đem nhơn duyên này tŕnh bày đầy đủ với đức Phật. Đức Thế Tôn bảo:

- Các Bí-sô nên can gián riêng Xiển-đà. Nếu có vị nào như vậy cũng can gián như vậy. Xiển-đà! Ngài cùng các Bí-sô đồng một Phật pháp, đồng một Học xứ, như pháp, như luật, mà khi can gián cải hối, chớ tự thân không nhận lời can gián. Cụ thọ! Tự thân nên nhận lời can gián. Các Bí-sô như pháp, như luật can gián Ngài; Ngài cũng như pháp, như luật can gián các Bí-sô. Lần lượt can gián với nhau, lần lược giáo dục cho nhau, lần lược thuyết hối lẫn nhau. Như vậy chúng Tăng Bí-sô của đức Như Lai ứng chánh đẳng giác mới được tăng trưởng. Cụ thọ! Ngài chớ nên chống trái với lời can gián.

Các Bí-sô nghe Phật dạy rồi, bạch Phật rằng:

- Như Thế Tôn dạy, chúng con đă can gián Xiển-đà… cho đến câu: Ngài chớ nên chống trái với lời can gián.

Khi các Bí-sô can gián riêng Xiển-đà. Cụ thọ Xiển-đà vẫn giữ nguyên ư kiến, trong nếp sống cố chấp, lại c̣n nói: “Đây là sự thật ngoài ra đều hư vọng”. Thế rồi, các Bí-sô đem nhơn duyên này tŕnh bày đầy đủ lên đức Thế Tôn:

- Bạch Đại đức Thế Tôn! Chúng con y theo lời Phật dạy đă làm pháp can gián riêng Xiển-đà mà Xiển-đà vẫn giữ nguyên ư kiến, khư khư bảo thủ chấp chặt rằng: “Điều tôi nói ra là sự thật ngoài ra đều hư vọng”.

Đức Thế Tôn bảo:

- Các ông nên bạch tứ Yết-ma để can gián Xiển-đà. Nếu có vị nào như thế cũng nên can gián như vậy. Phương thức: Trải tọa cụ, đánh kiền chùy, tập Tăng như thường lệ. Tăng tập hợp rồi, bảo một Bí-sô tác pháp:

“Đại đức Tăng-già lắng nghe ! Cụ thọ Xiển-đà này, các Bí-sô đúng như lời Phật dạy Học xứ trong kinh, như pháp, như luật, khi chánh thức can gián, tự thân không nhận lời can gián lại nói: Này các Cụ thọ ! Chớ đến tôi nói lời ǵ hoặc tốt, hoặc xấu; tôi cũng không đến các Cụ thọ nói bất cứ điều ǵ hoặc tốt, hoặc xấu. Các cụ thôi đi, chớ can gián tôi ! Các Cụ thọ bèn can gián riêng. Khi can gián riêng, Xiển-đà lại chấp chặt sự việc và nói: “Điều tôi nói là sự thật, ngoài ra đều hư vọng”. Nếu thời gian thích hợp với đối Tăng, Tăng chấp thuận, nay Tăng-già bạch tứ Yết-ma can gián Xiển-đà: Này Cụ thọ Xiển-đà ! Các Bí-sô đối với lời Phật dạy trong Học xứ, trong kinh, như pháp, như luật, khi chánh thức can gián, chớ tự thân không nhận lời can gián, lại nói: Các Cụ thọ ! Chớ đến tôi nói điều ǵ hoặc tốt, hoặc xấu; tôi cũng không đến các cụ nói bất cứ điều ǵ hoặc tốt, hoặc xấu. Cụ thọ Xiển-đà ! Nay, Ngài nên tự nhận lời can gián”.

- Bạch như vậy rồi, kế tiếp tác pháp Yết-ma:

“Đại đức Tăng-già lắng nghe ! Cụ thọ Xiển-đà này, các Bí-sô đối với lời Phật dạy Học xứ trong kinh, như pháp, như luật, khi chánh thức can gián, tự thân không nhận lời can gián, lại nói: Này các Cụ thọ ! Chớ đến tôi nói điều ǵ hoặc tốt, hoặc xấu, tôi cũng không đến các Cụ thọ nói bất cứ điều ǵ hoặc tốt, hoặc xấu. Các Cụ thọ thôi đừng can gián tôi. Các Bí-sô bèn can gián riêng. Khi can gián riêng Xiển-đà liền chấp chặt sự việc không bỏ, lại nói: “Điều tôi nói là sự thật, ngoài ra đều hư vọng”. Nay, Tăng-già bạch tứ Yết-ma để can gián Xiển-đà: Các Bí-sô đối với Phật dạy Học xứ trong kinh như pháp, như luật, khi chánh thức can gián, đừng tự thân không nhận lời can gián, lại nói: Các Cụ thọ chớ đến tôi nói điều ǵ hoặc tốt hoặc xấu, tôi cũng không đến các Đại đức nói bất cứ điều ǵ hoặc tốt, hoặc xấu. Này Cụ thọ Xiển-đà ! Nay, Ngài nên bỏ tự thân không nhận  lời can gián. Các Cụ thọ nào chấp thuận, Tăng trao cho Cụ thọ Xiển-đà pháp bạch tứ Yết-ma để hiểu dụ việc ấy. Này, Cụ thọ Xiển-đà ! Các Bí-sô đối với lời Phật dạy Học xứ trong kinh, như pháp, như luật, khi chánh thức can gián, chớ tự thân không nhận lời can gián. Cụ thọ! Tự thân nên nhận  lời can gián. Các Bí-sô như pháp, như luật, can gián Cụ thọ; Cụ thọ cũng như pháp, như luật can gián các Bí-sô. Như vậy chúng tăng của Bí-sô đệ tử đức Như Lai ứng chánh đẳng giác mới được tăng trưởng. Nghĩa là do lần lượt can gián nhau, lần lượt dạy bảo nhau, lần lượt nhắc nhở nhau. Này, Cụ thọ Xiển-đà ! Nên bỏ tự thân không nhận lời can gián, chống trái việc can gián của Tăng. Vị nào đồng ư th́ im lặng, nếu không đồng ư xin nói ra. Đây là Yết-ma lần đầu. Lần thứ hai lần thứ ba cũng như vậy”. Văn kết thúc chuẩn theo đây nên biết.

Các Bí-sô vâng lời Phật dạy, y pháp can gián. Khi can gián Bí-sô Xiển-đà vẫn giữ nguyên ư kiến, lại nói: “Điều tôi nói là sự thật, ngoài ra đều hư vọng”. Các Bí-sô đem nhơn duyên này bạch đầy đủ với đức Phật:

- Bạch đức Thế Tôn ! Chúng con vâng lời dạy, bạch tứ Yết-ma, can gián Xiển-đà, xong ông ta không nhận lời can gián, lại nói: “Điều tôi nói là sự thật, ngoài ra đều hư vọng”.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng nhơn duyên này tập hợp chúng Bí-sô. Ngài biết mà vẫn hỏi… (như trước).

- Này, Xiển-đà ! Tại sao ông chấp chặt không bỏ ?! Bằng mọi cách quở trách rồi, cho đến câu: Ta quán mười điều lợi, v́ các đệ tử chế Học xứ này như sau:

“Nếu lại có Bí-sô ác tánh không nhận lời can gián. Các Bí-sô đối với giới Phật dạy trong kinh, như pháp, như luật, khi khuyên can, không nhận lời khuyên can lại nói: Các Đại đức chớ đến tôi nói điều ǵ hoặc tốt, hoặc xấu; tôi cũng không đến các Đại đức nói bất cứ điều ǵ hoặc tốt, hoặc xấu. Các Đại đức thôi, đừng khuyên tôi, đừng luận nói với tôi. Các Bí-sô nói với Bí-sô ấy rằng: Cụ thọ! Ngài không nên không nhận lời can gián. Các Đại đức đối với trong kinh, như pháp, như luật, khi khuyên can, nên nhận lời khuyên can. Cụ thọ như pháp can gián các Bí-sô, Các Bí-sô cũng như pháp can gián cụ thọ. Như vậy, chúng Thanh-văn của đức Như Lai ứng chánh đẳng giác bèn được Tăng trưởng, cùng nhau can gián, nhắc nhở cho nhau. Cụ thọ! Ngài nên bỏ việc ấy. Các Bí-sô khi can gián như vậy, bỏ th́ tốt, không bỏ nên ba lần ân cần chánh thức can gián. Tùy theo sự hướng dẫn nên gạn hỏi, khiến cho bỏ việc ấy, bỏ th́ tốt, không bỏ, Tăng-già-phạt-thi-sa …”

          + Nếu có Bí-sô chỉ cho Xiển-đà và đồng bọn. Ác tánh không nhận lời can gián tức là bậc thiện Bí-sô dùng lời nói tùy thuận, không trái với chánh lư, chánh thức khuyên can mà giữ nguyên ư kiến của ḿnh, không tiếp thu lời khuyên can. Các Bí-sô là chỉ cho các Bí-sô trong pháp này. Đối với trong giới kinh mà đức Phật đă nói.

- Phật là chỉ cho vị Đại sư. Đối với trong Giới kinh tức là bốn Ba-la-thị-ca, mười ba Tăng-già-phạt-thi-sa, hai Bất định, ba mươi Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca, chín mươi Ba-dật-để-ca, bốn Ba-la-để-đề-xá-ni, chúng đa học pháp, bảy pháp Diệt tránh.

- Kinh là chỉ cho cái nghĩa thứ lớp lược bày giải thích rơ ràng. Khi y theo pháp luật… Như vậy khuyên can hối cải mà không nghe theo lời của người, tự thủ ác tánh của ḿnh, trong nếp sống cố chấp. Các Đại đức đừng đến tôi nói điều ǵ hoặc tốt hoặc xấu, tức là lời  phải cũng không nghe, việc ác cũng không chận. Đây đều là lời can gián riêng. Đại đức thôi đi tức là lời từ chối sự can gián một cách quả quyết. Cho đến ba lần can gián, nói đầy đủ như trước.

          Trong vấn đề này tướng phạm thế nào ?

          Khi biết các Bí-sô can gián như pháp mà từ chối th́ phạm tội nặng nhẹ như giới trước đă nói.

          Khi các Bí-sô đều có nghi vấn nên bạch Phật rằng:

- Kính bạch đức Thế Tôn! Bí-sô Xiển-đà này có nhơn duyên ǵ mà ỷ thế đức Như Lai, dựa vào thế lực của ḍng họ, đối với các Bí-sô thiện hảo trước đây, tự ỷ kiêu ngạo nói lời khinh thị ?

          Đức Phật bảo các Bí-sô: 

- Bí-sô Xiển-đà chẳng phải mới ngày nay mới ỷ thế lực của ta, kiêu ngạo khinh thường các Bí-sô mà trong đời quá khứ cũng  đă ỷ nơi Ta đối với các Bà-la-môn, Cư sĩ thiện hảo tự khoe ḿnh để rồi kiêu mạn. Sự việc như sau, quư vị lắng nghe:

Thuở xa xưa trong thành Thạch Thiết có Bà-la-môn tên là Nguyệt Tử, lấy một người con gái cùng họ làm vợ. Thời gian không lâu sanh được một đứa con, được đặt tên là Nguyệt Quang, tuổi vừa lớn khôn đă biết trông coi gia nghiệp. Thời gian sau đó, Bà-la-môn kia lâm bệnh, bị vợ con bỏ rơi không hề chăm sóc. Trong nhà đứa tớ gái tự nghĩ: “Người Bà-la-môn này, ngày này qua ngày khác có đến cả trăm việc liền tay mưu cầu lấy áo cơm để giúp đỡ cho chúng ta, nay gặp phải bệnh khổ, vợ con không ngó đến. Ông là chủ của ta, ta không chăm sóc là điều không hay”. Đứa tớ gái nghĩ như vậy rồi liền đến chỗ thầy thuốc thưa:

- Thưa Hiền thủ! Ngài biết Bà-la-môn Nguyệt Tử chăng ?

Vị thầy thuốc nói:

- Trước đây tôi từng biết ông ấy, không biết hiện nay ông ấy thế nào?

Đứa tớ gái trả lời:

          - Hiện nay ông ấy bị bệnh mà vợ con bỏ rơi. Ngài có thể ra phương thang để trị bệnh ông ấy theo lời yêu cầu của tôi không ?

          Ông thầy thuốc hỏi:

          -Vợ con ông ấy đă  không chăm sóc, vậy ai là người nuôi sống ông ta ?!

          Đứa tớ gái thưa:

- Chỉ có một ḿnh tôi chăm sóc mà thôi.

          Vị thầy thuốc liền ra phương thang để chữa. Đứa tớ gái chăm lo mọi việc, bệnh t́nh được thuyên giảm.

          Khi ấy, người Bà-la-môn liền sanh ư niệm: “Ta lâm phải bệnh hoạn, vợ con ta không ngó ngàng đến. Nay ta được sống, đều nhờ ơn của người sứ nữ, đă có công lao khó khổ, làm sao ta không trả ơn!” Do vậy, liền nói với người sứ nữ:

          - Hiền thủ! Tôi vừa gặp phải bệnh hoạn, vợ con của tôi không ngó ngàng đến. Nay tôi được sống, là nhờ ơn của Hiền thủ. Hiền thủ muốn ǵ, tôi đều thỏa măn.

Người sứ nữ thưa:

- Nếu Đại gia đối với tôi có chút tư ái như vậy, may mắn thay được cùng tôi giao hoan.

Người Bà-la-môn nói:

-Nay, người làm sao thực hiện được giao hoan ấy? Ta sẽ cho người năm trăm kim tiền, giải phóng kiếp sống nô lệ của người. Người được sống tự do, thoát khỏi đời bần tiện.

Sứ nữ trả lời:

- Thưa Đại gia! Tuy tôi mong được giải phóng khỏi cái ách nô lệ nhưng có được cái tâm mẫn niệm giao hoan của ông vẫn hơn thôi!

Người Bà-la-môn nói:

- Tùy theo nguyện vọng của người. Sau khi nguyệt kỳ măn, thời điểm có thể thọ thai, đến báo với tôi.

Sau thời điểm ấy, thời điểm thân sạch đúng kỳ, sứ nữ đến báo với Đại gia. Đại gia cùng với sứ nữ giao mật. Sứ nữ mang thai.

Khi người vợ của Bà-la-môn t́m hiểu, biết chồng với đứa tớ gái lén làm việc giao thông. Kể từ đó, bà ta hành hạ sứ nữ, đánh đập khổ sở, cơm không đủ no áo không đủ ấm. Sứ nữ tự nghĩ: “Thật là loài “hữu t́nh” bạc phước, ngay từ ngày đầu nương vào thai của ta th́ vợ của người Bà-la-môn đối xử với ta bằng cây, bằng gậy đă thí cho ta áo rách cơm khô, khổ sao là khổ!” Thế rồi, cái ngày măn nguyệt khai hoa lại đến. Sứ nữ sanh con, đứa con trai. Sứ nữ lại có suy nghĩ: “Đây là loài “hữu t́nh” bạc phước, ngay từ ngày đầu nương vào thai của ta th́ vợ của người Bà-la-môn cấm đoán hành hạ đánh đập ta... nếu loài “hữu t́nh” này càng lớn th́ sự đói khổ của ta càng thêm”. Nghĩ như vậy rồi liền đem hài nhi bỏ vào trong cái chậu giặt, toan đem vất ra ngoài. Khi ấy, người Bà-la-môn thấy, hỏi:

-Hiền thủ! Cái ǵ đựng bên trong chậu giặt vậy ?

Sứ nữ lúng túng trả lời:

- Không có cái ǵ hết.

Người Bà-la-môn khả nghi nói:

-Đem cái chậu giặt đến cho tôi xem.

Chậu mang đến, người Bà-la-môn thấy trong chậu giặt có một hài nhi mới sanh, liền hỏi:

-Ngươi muốn vất… chăng ?!

Sứ nữ buồn khóc, nghẹn ngào thốt lên lời:

-“Vật” bạc phước này, ngay khi ở trong thai, Đại gia liền gia tăng sự hành hạ nghiêm trọng cực kỳ đối với tôi, áo rách không đủ che thân, cơm thừa không đủ no bụng. Nếu “vật” bạc phước này càng lớn th́ đói khổ càng thêm nhiều. Do nhơn duyên ấy, nay tôi muốn vất bỏ nó đi!

Người Bà-la-môn bùi ngùi thốt từng lời một:

-“Vật” này có tội ǵ ?! Tôi mới là kẻ có tội!

Người Bà-la-môn khéo lời an ủi khuyến dụ khiến cho sứ nữ đem về nuôi nấng, đồng thời báo với người vợ rằng:

-Ngươi đâu không nhớ trước đây ta lâm bệnh mạng sống mong manh, người và con của người đều không ngó ngàng đến. Ngày nay, ta c̣n sống đây hoàn toàn nhờ ơn nuôi nấng, chăm sóc tận t́nh của sứ nữ. Nếu người chia bùi sẽ ngọt với người này th́ tốt, bằng không ta sẽ lập người này lên làm gia trưởng, ngươi trở thành kẻ hầu hạ, sự cung cấp cho người sẽ ngược lại.

Khi người vợ của Bà-la-môn nghe chồng nói như vậy th́ hết sức kinh hăi, liền sanh ỹ nghĩ riêng: “Bà-la-môn nầy bẩm tánh bạo ác, ta không y theo lời của ông ta, ta sẽ bị nhục h́nh”. Bà ta nghĩ như vậy xong, liền báo cáo với chồng rằng:

- Em thật không biết, anh đă cùng sứ nữ nầy có tư ái. Từ nay về sau cho đến một lời nói vui, em cũng không dám vô ư để lỡ lời!

Hài nhi kia do đă bỏ trong chậu giặt định để vất ra ngoài mà được cứu sống nên người trong nhà đặt tên là “Chậu giặt” (Hoán bồn). Từ đó, khôn lớn “Chậu giặt” được cùng ăn với cha, với miếng ăn ngon. Người cha được mời, “Chậu giặt” đều được cha dẫn theo. Thời gian sau, Bà-la-môn kia lâm phải trọng bệnh, kêu Trưởng tử Nguyệt Quang nói:

-Sau khi cha qua đời, con khỏi phải lo sự thiếu thốn, xongđồng tử “Chậu giặt” tuổi c̣n thơ ấu, con cần phải ưu niệm nó, khổ vui có nhau!

Trước cha, Nguyệt Quang cung kính lắng nghe lời giáo huấn của cha. Người Bà-la-môn tuy được chăm sóc thuốc thang đầy đủ, xong bệnh t́nh không thuyên giảm, không bao lâu người Bà-la-môn qua đời, có bài tụng như sau:

Tích tụ đều tiêu tán

Sùng cao ắt đọa lạc

Hiệp hội rồi biệt ly

Có thân ắt phải chết.

Người Bà-la-môn qua đời, vợ con họ hàng buồn rầu than khóc, dùng lụa tạp sắc quư giá tẩn liệm. Chiếc xe tang trang nghiêm đưa đến rừng thây, lễ hỏa táng đúng nghi pháp. Quay trở về nhà cũ cả gia đ́nh sống với ưu sầu c̣n lại.

Nguyệt Quang bảo với Hoán Bồn rằng:

-Từ nay, em đến cùng chung sống với anh, ăn với anh một mâm.

Mẹ của Nguyệt Quang thấy vậy lại nói:

-Con không nên cùng sống, cùng ăn  với con của đứa tớ gái.

Nguyệt Quang thưa với mẹ:

-Từ lâu mẹ thường nói nó là em của con, tại sao ngày nay mẹ lại nói nó là con của đứa tớ gái?!

Mẹ của Nguyệt Quang liền báo với con  ḿnh là:

-Khi cha của con c̣n sanh tiền bẩm tánh bạo ác, đâu ai dám gọi nó là con của đứa tớ gái.

Lúc ấy Hoán Bồn nghe nói như vậy rồi, liền đến mẹ ḿnh thưa rằng:

-Con là con của đứa tớ gái sanh ra phải không ?

Mẹ của Hoán Bồn trả lời:

-Đều do nghiệp về trước. Sao lại là kẻ nô nhi! Ở đời mạnh hiếp yếu là chuyện thường t́nh. Vợ của người Bà-la-môn này cực kỳ ác hạnh, nay con nên t́m sự sống nơi tha phương!?

Bấy giờ Hoán Bồn từ tạ mẹ ḿnh để đi lang thang t́m sự sống nơi thành ấp và tự cải đổi tên ḿnh thành Nguyệt Tịnh. Nguyệt Tịnh tuần tự du hành, đến thành Thất-la-phạt. Lúc ấy, trong thành này có một vị Đại thần Bà-la-môn, chỉ sanh một đứa con gái, nghi dung đoan chánh, người đời ai cũng muốn ngắm cái dung nhan ấy. Ái nữ vừa trưởng thành có thể làm hôn lễ. Đại thần Bà-la-môn bèn có ư nghĩ: “Thiếu nữ của ta, không cần t́m quư tộc, không cần t́m tiền tài, không cần t́m dung sắc… để hôn sánh, mà chỉ cần nam tử nào đối với ta có thể học bốn minh luận, khéo hay thông đạt, ta sẽ thuận gả”.

Nguyệt Tịnh với tháng ngày làm kẻ du phương cầu thực xong luôn lưu tâm đến vấn đề học nghiệp. Nguyệt Tịnh đến chỗ của người Đại thần Bà-la-môn xin được cầu học bốn minh luận. Vị Đại sư Bà-la-môn hỏi:

-Ông từ đâu đến ?

Nguyệt Tịnh đáp:

-Đến từ thành Thạch Thiết.

Đại sư hỏi:

-Ông biết các nhân vật ở thành đó chăng ?

Nguyệt Tịnh đáp:

-Tôi biết.

Đại sư hỏi:

-Ông biết đại Bà-la-môn Nguyệt Tử chăng ?

Nguyệt Tịnh vừa nghe xong bỗng nhiên khóc. Đại sư bèn hỏi:

-Tại sao ông khóc ?

Nguyệt Tịnh thưa:

-Người ấy đă qua đời rồi, Ngài là Tôn thân của tôi!

Vị Đại sư Bà-la-môn tự giới thiệu:

-Tôi là bạn của người ấy, từ lâu đă xa cách biền biệt, nay được tin th́ người bạn của tôi đă qua đời, thật là điều đáng thương tiếc!

Do vậy, vị Đại sư liền chấp thuận sự cầu học của Nguyệt Tịnh. Nguyệt Tịnh vui sống thích thú ham học Tứ minh, bẩm tánh thông mẫn, thời gian chưa bao lâu th́ đă thông hiểu tập luận. Thế rồi, vị Bà-la-môn lại có suy nghĩ: “Trước đây, ta có lời nguyện là thiếu nữ của ta không cần t́m quư tộc, không cần t́m tiền tài, không cần t́m dung sắc… Mà nam tử nào đối với ta có thể học bốn minh luận, khéo hay thông đạt, ta sẽ thuận gả”. Do vậy, liền dùng các anh lạc trang sức cho thiếu nữ, mời tôn thân môn tộc đến thiết lễ tế thần lửa. Tay bên tả dẫn thiếu nữ, tay bên hữu tŕ b́nh, dùng nước kiết tường rưới trên tay của Nguyệt Tịnh, tuyên bố:

- Ma-nạp-bà! Nay tôi đem thiếu nữ này trao cho người làm vợ.

Nguyệt Tịnh thuận nhận, đi quanh đống lửa ba ṿng. Bao nhiêu người Bà-la-môn khác đồng thanh chú nguyện:

- Nguyện trường thọ, nguyện không bệnh hoạn, tông môn tốt đẹp!

Sau đó, bày bố tất cả nghi lễ cùng vui tác thành hôn lễ. Được vị Đại thần ái niệm, giao cho việc trông coi gia thất, của cải đều giao hết cho Nguyệt Tịnh. Gia tài rất giàu, có nhiều trân bảo. Khách buôn xa gần không ai không đến hợp đồng để làm ăn. Khi ấy có khách buôn ở nơi thành Thạch Thiết đem các hàng hóa đến thành Thất-la-phạt, gặp được “Chậu giặt”, cùng nhau nói bàn:

- “Chậu giặt” này, nay là chồng của thiếu nữ con của Đại thần Bà-la-môn. Người là một nghệ nhân chuyên nghiệp, gia đ́nh cự phú, rất nhiều của cải. Giàu nghèo mấy hồi, do số mệnh, ai đâu biết trước được.

Số người buôn này, sau khi trao đổi hàng hóa xong, chở các phẩm vật trở về thành Thạch Thiết báo cho Nguyệt Quang biết rằng:

- Tôi gặp “Chậu giặt”, em của ông ở thành Thất-la-phạt, thông suốt tứ minh luận, lấy con gái của vị Đại thần, gia đ́nh cự phú, rất nhiều của cải tài sản châu báu.

Nguyệt Quang nghe xong, liền báo cáo với mẹ rằng:

- Con được tin “Chậu giặt” hiện ở tại thành Thất-la-phạt thế lực hào phú, khác với người tầm thường.

Người mẹ của Nguyệt Quang nghe xong, tỏ vẻ không hài ḷng. Sau đó thời gian, gia nghiệp của Nguyệt Quang ngày càng thua sút, đưa đến sự nghèo nàn thiếu thốn. Mẹ của Nguyệt Quang nói với con của ḿnh rằng:

- Như trước đây con nghe, Chậu giặt là em của con, nay nó thành kẻ cự phú, con nên đến thăm, của cải sẵn có, nó cứu giúp cho con chăng!

Nguyệt Quang thưa lại mẹ:

- Trước kia mẹ nói nó là con của đứa tớ gái nay trở thành em của con à ?!

Tuy vậy, không dám trái với lời mẹ dạy, Nguyệt Quang bèn đến nơi thành Thất-la-phạt. Vào ngày nọ Chậu giặt nghe nói có đại huynh tên là Nguyệt Quang cùng đi với đoàn con buôn đến thành này, tức tốc đên chỗ đoàn buôn, nghinh đón người anh một cách trọng hậu, quỳ lạy hoan hỷ, kính thưa với người anh:

- Em tự đặt tên là Nguyệt Tịnh, chứ không c̣n gọi là Chậu giặt (Hoán Bồn) nữa.

Người anh liền ghi nhận sự đổi tên của em ḿnh. Nguyệt Tịnh rước người anh về nhà, bảo vợ của ḿnh rằng:

- Đây là đại huynh của anh. Em đặc biệt lưu tâm cung phụng hầu hạ với những nhu cầu tốt đẹp.

Vợ của Nguyệt Tịnh nghe xong, y giáo cấp dưỡng.

Tánh t́nh của Nguyệt Quang ôn ḥa độ lượng, dễ dàng để ở chung; trái lại bẩm tánh của Hoán Bồn (Châu giặt) thô ác bạo ngược rất khó để ở cho được vừa ư. Với người vợ trong nhà thường hành sử cấm đoán cay độc. Khi ấy, vợ mới cưới của Nguyệt Tịnh thưa với anh chồng là Nguyệt Quang rằng:

- Anh đối với nhà em như một nguồn sữa để sống, bởi lẽ tánh của anh khoan dung độ lượng nhơn từ, c̣n em của anh tính cứng cỏi thô ác.

Nguyệt Quang bèn nói:

- Bẩm tánh của nhà em như vậy mà em chưa được học tập chú thuật quản gia. Do đó, việc phiền bực càng thêm.

Vợ của Nguyệt Tịnh liền thưa với người anh:

- May mắn thay! Anh rủ ḷng thương ban cho em chú thuật quản gia.

Lúc ấy, Nguyệt Quang nói bài kệ:

                             Minh chú không cho người

                             Có cầu khẩn mới cho

                   Hoặc thời được thừa sự

                   Hoặc lại đặng của tiền

                   Nếu không là như vậy

                   Dầu chết không truyền trao.

Vợ của Nguyệt Tịnh nghe xong liền nói:

- Anh cả cần nhận bao nhiêu phẩm vật để tương xứng với vấn đề ?

Nguyệt Quang trả lời:

- Phẩm vật trị giá năm trăm kim tiền th́ tương xứng với việc trao cho thần chú.

Vợ của Nguyệt Tịnh liền dùng năm trăm kim tiền để hiến dâng và kính lễ cầu thỉnh:

- May mắn thay, kính xin anh rủ ḷng thương ban cho em chú thuật quản gia.

Nguyệt Quang trả lời:

- Đợi ngày anh về sẽ trao cho.

Vợ Nguyệt Tịnh tha thiết mong được nhận minh chú nên khéo lời nói với chồng rằng:

- Đại huynh đến chơi đă lâu, tại sao anh chưa tạo điều kiện để Đại huynh trở về!

Nguyệt Tịnh liền nói:

- Hiền thủ! Em chuẩn bị lương thực và thức ăn uống đi đường.

Dặn ḍ vợ xong, Nguyệt Tịnh liền đi t́m thương tộc. Người vợ của Nguyệt Tịnh liền đem năm trăm kim tiền trao cho anh để cầu thỉnh pháp thuật. Nguyệt Quang nhận phẩm vật rồi liền nói chú thuật:

                  Người nửa thành đều biết

                  Thân tộc cũng đều hay

                  “Chậu giặt” nên im lặng

                  Sa-ha lại đừng nói!

Nói minh chú rồi, Nguyệt Quang bảo vợ của Nguyệt Tịnh rằng:

- Nghĩa của minh chú này rất sâu xa, thím nên tụng thuộc ḷng. Khi chồng của thím muốn lấy roi đánh, thím liền nói: “Đừng đánh, đợi em đọc minh chú đă. Nếu có gọi minh chú nghĩa là ǵ th́ nói: Đừng giận, em sẽ tŕnh bày nghĩa của minh chú”.

Người chồng t́m được thương tộc, đúng phép tặng vật phẩm gửi gấm và đưa tiễn, Nguyệt Quang trở về quê cũ sau đó Nguyệt Tịnh về lại nhà. Vợ của Nguyệt Tịnh khởi ư nghĩ: “Tuy là ta đă được minh chú, nhưng chưa biết có hiệu nghiệm hay chăng! Nay, ta cần tạo môi trường để thử nghiệm: dụng cụ tắm rửa cho chồng đều không chuẩn bị trước, thức ăn cần thiết cũng không sửa soạn chi cả”. Nguyệt Tịnh đ̣i hỏi nước. Người vợ trả lời là không có nước. Nguyệt Tịnh nói:

- Tôi đói quá, cần thức ăn uống.

Người vợ trả lời:

- Thức ăn cũng chưa nấu.

Người chồng liền nổi giận, phẩn nộ, mắng vợ:

- Thời gian vừa qua, anh của tao có mặt tao không trị mày.

Nói xong liền đưa tay lên muốn đánh vợ. Theo sự hướng dẫn của Nguyệt Quang, vợ Nguyệt Tịnh nói:

- Phu quân khoan đánh, nghe em đọc minh chú đă.

Nguyệt Tịnh bảo:

- Đọc đi, xem sao ?

Vợ của Nguyệt Tịnh liền đọc:

                   Người nửa thành đều biết

                   Thân tộc cũng đều hay

                   “Chậu giặt” nên im lặng

                   Sa-ha lại đừng nói!

Người chồng nghe xong lại liền hỏi:

- Minh chú nghĩa thế nào ?

Vợ trả lời:

- Đừng giận, em sẽ nói nghĩa của minh chú.

Người chồng nhớ lại liền nói:

- Không nói nghĩa, anh cũng không đánh!

Từ đó, Chậu giặt im hơi lặng tiếng, không hề la rầy ǵ vợ cả.

Này các Bí-sô! Nguyệt Tử Bà-la-môn trước kia là tiền thân của Ta, Chậu giặt tức là Xiển-đà ngày nay. Xưa kia ỷ vào ḍng tộc của Ta khinh cuống đối với người. Nay, trở lại ỷ nơi tông phong của Ta khinh các vị đồng phạm hạnh.

Do đó, các Bí-sô không nên ỷ thế lực khi miệt đối với người. Các Bí-sô cần nhiếp tâm khiêm tốn trong nếp sống.

Các Đại đức! Tôi đă nói mười ba pháp Tăng-già-phạt-thi-sa. Chín giới đầu là phạm, bốn giới sau ba lần can gián mới phạm. Nếu Bí-sô nào phạm một trong mười ba pháp mà che giấu, tùy theo thời gian che giấu cưỡng bức trao cho pháp Ba-lợi-bà-sa. Hành Ba-lợi-bà-sa rồi, Chúng nên trao cho sáu đêm Ma-na-đỏa. hành Ma-na-đỏa rồi, c̣n phải xuất tội. Giữa Tăng hai mươi vị, xuất tội của Bí-sô kia. Nếu thiếu một người, không đủ chúng hai mươi vị th́ tội của Bí-sô kia không được trừ. Các Bí-sô đều phạm tội. Đây là pháp xuất tội.

Nay hỏi các Đại đức trong đây có thanh tịnh không? Lần thứ hai, lần thứ ba cũng như vậy. Các Đại đức! Tôi biết Chúng thanh tịnh, do sự im lặng. Nay, tôi ghi nhận như vậy.

 

                   HAI PHÁP BẤT ĐỊNH.

Nhiếp tụng:

                   Nếu ở nơi vắng kín

                   Chỗ có thể hành dâm

                   Hay chỗ vắng không kín

                   Không có người thứ ba.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ở thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn Cấp-cô-độc. Khi ấy, Cụ thọ Ô-đà-di, phần đầu của ngày mặc y, bưng bát, vào thành khất thực rồi đến nhà cửa “cố nhị” Cấp-đa. Lúc đó, Cấp-đa thấy Ô-đà-di đến liền trưng bày ṭa ngồi bằng đồ diệu hảo, niềm nở nghinh đón, chào:

- Thiện lai Đại đức! Đây là ṭa ngồi đặt biệt, mời Ngài an tọa.

Ô-đà-di liền bước đến ṭa ngồi. Sau khi Cấp-đa kính lễ xong, bèn ngồi trên đầu gối của Ô-đà-di để nghe pháp. Ô-đà-di dùng lời văn vẻ dịu dàng thuyết pháp. Khi ấy, Lộc tử mẫu Tỳ-xá-khư nghe tiếng nói pháp, liền có ư nghĩ: “Đây là giọng của Đại đức Ô-đà-di v́ Cấp-đa dùng lời lẽ dịu ngọt để nói pháp yếu. Lời lẽ ngọt như đường mới nấu thế này ta nên đến để nghe pháp”. Tỳ-xá-khư liền đến chỗ của Cấp-đa, mục kích nàng ta ngồi trên đầu gối của Ô-đà-di để nghe pháp, bèn nghĩ: “Đây không phải là cử chỉ mà người xuất gia nên làm. Nếu kẻ chưa có ḷng tin thấy điều này, chắc chắn họ gọi Bí-sô với người nữ ở chỗ riêng vắng cùng làm điều phi pháp, rồi đem đi rêu rao cơ hiềm. Nay, ta nên đem nhơn duyên này bạch với đức Thế Tôn để Ngài được biết”. Thế rồi, Tỳ-xá-khư đến ngay chỗ Phật, lễ chân Phật rồi ngồi qua một bên đem sự việc trên tŕnh bày đầy đủ với đức Phật:

- Cúi xin Thế Tôn từ nay về sau, v́ các Thánh chúng chế Học xứ này, để luôn ghi nhớ, không nên chỗ vắng kín, cùng ngồi với một người nữ, từ mẫn cố!

Đức Thế Tôn nhận lời thỉnh cầu của Tỳ-xá-khư bằng sự im lặng đă trở thành nếp trong đời sống. Tỳ-xá-khư biết đức Thế Tôn nhận lời bằng sự im lặng rồi lễ Phật cáo lui.

Đức Thế Tôn dùng nhơn duyên này tập hợp các Bí-sô v́ hai lư do: Một là khiến các Thanh-văn đệ tử của Ta biết việc này là điều không nên làm. Hai là chế Học xứ.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn biết mà vẫn hỏi… (như trước) cho đến câu: Ta quán mười điều lợi, v́ các đệ tử, chế Học xứ này như sau:

“Nếu lại có Bí-sô một ḿnh cùng với một người nữ ngồi ở chỗ vắng kín, có thể hành dâm. Có chánh tín Ô-ba-tư-ca, đối với trong ba pháp, tùy nói một pháp, hoặc Ba-la-thị-ca, hoặc Tăng-già-phạt-thi-sa, hoặc Ba-dật-để-ca. Bí-sô ngồi kia tự nói việc này, đối với trong ba pháp tùy theo mỗi một pháp mà trị, hoặc Ba-la-thị-ca, hoặc Tăng-già-phạt-thi-sa, hoặc Ba-dật-để-ca. Hoặc y theo lời nói cũ Ô-ba-tư-ca mà trị Bí-sô kia. Như vậy gọi là pháp bất định”.

+ Nếu lại có Bí-sô là chỉ cho Ô-đà-di và đồng bọn. Một ḿnh tức là chỉ có một Bí-sô. Một người nữ tức là không có bạn gái hay bạn nam hoặc Huỳnh môn. Nữ nhơn là gái có chồng hay chưa có chồng mà có thể làm hạnh bất tịnh.

- Có năm thứ gọi là vắng kín: Một là tường, hai là rào, ba là vải che, bốn là rừng rậm, năm là đêm tối.

- Chỗ ngồi gồm có ghế, giường cho đến bề cao trong ṿng một tầm.

- Chỗ có thể hành dâm, nghĩa là địa điểm có thể làm hạnh bất tịnh.

- Có chánh tín Ô-ba-tư-ca, tức là người đối với Phật, Pháp, Tăng có ḷng tin sâu đậm, đắc bất hoại tín, đối với bốn chơn đế không có nghi hoặc, đắc kiến đế quả, dầu gặp phải nhân duyên mất mạng vẫn không nói dối.

- Nói ba pháp là nêu lên số mục vậy. Tùy nói một pháp, tức là bốn Tha thắng, mười ba Tăng tàn, chín mươi Tội đọa, phạm một pháp trong những pháp này.

- Chánh tín Ô-ba-tư-ca này đối với tội trạng không biết, cũng lại không biết nhơn khởi lên việc phạm tội, chỉ thấy Bí-sô kia tự xưng đắc pháp thượng nhơn, cùng thân người nữ xúc chạm nhau, hoặc thời uống rượu, đào đất, phá hoại sanh chủng, hoặc ăn phi thời. Đây là việc bất định, không có chuẩn đích nhất định vậy. Nên như pháp trị Bí-sô kia, khiến cho vị ấy nói lên sự ăn năn của ḿnh.

Trong vấn đề này phạm tướng như thế nào ?

- Nếu chánh tín Ô-ba-tư-ca nói: Tôi thấy Bí-sô cùng với người nữ đi một ḿnh, không thấy đứng, ngồi, nằm.

- Hoặc nói: Tôi thấy đi, đứng, chứ chẳng phải ngồi, nằm.

- Hoặc nói: Tôi thấy đi, đứng, ngồi, chứ chẳng phải nằm.

- Hoặc nói: tôi thấy đi, đứng, ngồi, nằm.

Những trường hợp này đều y theo lời tŕnh bày của Ô-ba-tư-ca mà xử trị.

- Nếu chánh tín Ô-ba-tư-ca thấy Bí-sô kia cùng với người nữ đi, đứng v.v… Khi đối vấn, Bí-sô kia không chống đối việc này nên trao cho Yết-ma mích tội tướng. Thực hành: Trải ṭa, đánh kiền chùy, trước hết bạch chúng. Chúng tập hợp rồi khiến một Bí-sô tác pháp Yết-ma trên.

Đức Phật bảo các Bí-sô:

- Bí-sô được trao cho Yết-ma mích tội tự tướng phải phụng hành như pháp Ta nói sau đây:

“Bí-sô phạm pháp này rồi, không nên cho người xuất gia, thọ Viên cụ, và làm y chỉ. Không được nuôi cầu tịch, trước đó đă nuôi th́ không nên cho thọ Viên cụ. Nếu thấy Bí-sô khác phá giới, phá kiến, phá oai nghi, phá tịnh mạng, không được cật vấn khiển trách, trao pháp ức niệm; không nên giáo thọ Bí-sô, Bí-sô-ni dù trước đă được sai th́ cũng phải chấm dứt. Không cùng Bố-tát, Tự tứ, không làm đơn bạch, bạch nhị, bạch tứ. Nếu có người khác hiểu Tỳ-nại-da th́ không được đối với trong chúng thuyết Tỳ-nại-da. Bí-sô nào đắc pháp này mà không phụng hành những pháp trên th́ phạm tội Việt pháp”.

Nếu Bí-sô này sanh tâm cung kính tùy thuận không chống trái, trong phạm vi của giới, cần cầu chúng Tăng giải. Chúng Tăng biết vị ấy thật sự ăn năn không hề chống trái th́ nên tác pháp giải cho vị ấy. Tập Tăng xong, Bí-sô đương sự, oai nghi chí kính, đến trước Thượng tọa, ngồi chồm hổm, chấp tay, bạch:

“Đại đức Tăng-già lắng nghe! Tôi tên là… Tăng-già trao cho pháp mích tội tự tướng. Tâm tôi cung kính, tùy thuận không chống trái, nay ở trong giới, theo chúng xin giải. Chúng tăng v́ tôi tác pháp Yết-ma giải việc kia. Tôi đều không dám trái nghịch. Cúi xin Tăng-già v́ tôi giải Yết-ma mích tội tự tướng. Từ mẫn cố! Bạch như vậy ba lần”. Kế tiếp chúng sai một Bí-sô tác pháp Yết-ma.

* Hai pháp bất định này, pháp thứ nhất cùng pháp thứ hai phần nhiều giống nhau.

- Trong đây vấn đề khác là pháp ban đầu ở nơi thành Thất-la-phạt, Bí-sô Ô-đà-di cùng với Cố-nhị-cấp-đa là người làm duyên khởi phạm giới, Lộc tử mẫu Tỳ-xá-khư, Ô-ba-tư-ca phát hiện việc này.

- Pháp thứ hai ở  nơi thành Vương-xá, Bí-sô Thất-lợi-ca cùng với vợ Trưởng giả Thiện Sanh, Ô-bao-sái-đà, Ô-ba-tư-ca. Trước căn cứ vào ba việc, chỗ vắng kín có thể hành dâm, sau th́ hai việc chỗ không thể hành dâm.

Đó là tướng khác, giới tướng như sau:

“Nếu lại có Bí-sô cùng với một người nữ ngồi ở chỗ không vắng kín, không thể hành dâm, có chánh tín Ô-ba-tư-ca, tùy nói một trong hai pháp, hoặc Tăng-già-phạt-thi-sa, hoặc Ba-dật-để-ca. Bí-sô ngồi kia tự nói việc này, nếu trong hai pháp nên tùy theo trong mỗi một pháp mà trị. Bí-sô kia phạm Tăng-già-phạt-thi-sa hoặc phạm Ba-dật-để-ca hoặc dựa theo sự việc mà Ô-ba-tư-ca nói để trị Bí-sô ấy. Như vậy gọi là Pháp bất định.” Hai pháp bất định đă xong.

 

BA MƯƠI PHÁP NY-TÁT-KỲ BA-DẬT-ĐỂ-CA

                    Nhiếp tụng ban đầu:

Giữ, ĺa, chứa, giặt y

Lấy y xin quá thọ

Đồng giá và khác chủ

Sai sứ đem y tài.

 

·        Học xứ thứ nhất: Chứa y không phân biệt.

 

Đức Phật ở thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn Cấp-cô-độc, khi ấy các Bí-sô chứa nhiều ba y, mỗi lần đánh răng súc miệng, khi rửa chân tay, lễ bái hai thầy, lễ Thế Tôn, lau quét chùa, trét phân ḅ, vào thôn khất thực, khi thọ thực, khi thọ giáo, thính pháp, mỗi trường hợp đều mặt một loại y khác. Vấn đề thay y, xếp y, hong phơi… bận rộn nhiều việc, mất nhiều th́ giờ, phế bỏ đọc tụng tư duy thiện phẩm. Các Bí-sô thiểu dục thấy vậy cùng nhau cơ hiềm:

- Tại sao Bí-sô chứa cất lắm y, phế tu chánh nghiệp.

Các Bí-sô đem nhơn duyên này tŕnh bày đầy đủ với đức Thế Tôn. Đức Phật tập hợp các Bí-sô… (như trước) hỏi, biết đúng sự thật, dùng bằng mọi cách quở trách:

- Vấn đề nhiều ham muốn, không biết đủ, khó nuôi, khó thỏa măn, khen ngợi: Hạng người ít ham muốn, biết đủ, dễ nuôi, dễ thỏa măn, biết lượng định để thọ, tu hạnh Đỗ-đa. Đức Phật bảo các Bí-sô… cho đến câu: Ta quán mười điều lợi, v́ các đệ tử này chế Học xứ này như sau:

“Nếu lại có Bí-sô y đă may xong, y Yết-sỉ-na đă xuất, nhận được y dư, phân biệt nên chứa. Nếu không phân biệt mà chứa, Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.

Thế Tôn v́ các đệ tử Thanh-văn chế Học xứ như vậy rồi, khi đức Phật ở thành Vương-xá, ở nơi rừng Trúc. Lúc bấy giờ, Cụ thọ Đại Ca-diếp-ba, trụ nơi pḥng nhỏ, nơi trống vắng, bên cạnh thành này. Có một Cư sĩ cứ hằng đêm thâu suy nghĩ: “Lành thay! Không biết khi nào ta gặp được Ngài Đại Ca-diếp-ba. Ngài là bậc nhơn thiên cúng dường. Ta sẽ cúng thức ăn và dùng một chiếc y thượng hạng chính tay làm nên để dâng Ngài xong lời nguyện này chưa hoàn măn”. Một bữa nọ, Cư sĩ lại đem thượng y đó đến chỗ của Cụ thọ A-nan-đà thưa:

- Đại đức A-nan-đà! Đại đức có biết Thánh giả Đại Ca-diếp-ba hiện nay ở đâu không ?

Tôn giả A-nan-đà trả lời:

- Hiền thủ! Tôi nghe Thánh giả hiện ở nơi pḥng nhỏ, tại A-lan-nhă.

Cư sĩ thưa:

- Khi nào Thánh giả đến đây, thưa Đại đức ?

- Không lâu Ngài sẽ đến đây, chậm lắm là đến ngày thứ mười lăm Bố-tát, Ngài sẽ đến đây.

Cư sĩ thưa:

- Đại đức nhớ cho! Suốt đêm con nghĩ: “May mắn thay! Không biết ngày nào ta mới gặp Đại Ca-diếp-ba. Ngài là bậc nhơn thiên cúng dường. Ta sẽ dâng thức ăn và chiếc y thượng hạng chính tay làm nên để cúng Ngài. Lời mong muốn đây của ta chưa thỏa nguyện”. Thưa Đại đức! Hiện nay con có mang chiếc y ấy theo đây. Chúng con c̣n là Cư sĩ, bận rộn nhiều việc. May mắn thay! Khi Ngài Đại Ca-diếp-ba về, nếu được Ngài thay con dâng chiếc y này lên Đại Ca-diếp-ba, cầu Ngài rủ ḷng thương thọ nhận và đắp mặc để con hưởng công đức.

Tôn giả A-nan-đà nghe xong, liền suy nghĩ: “Ta thọ y này th́ trái với lời đức Thế Tôn dạy. Ta không nhận th́ trở ngại việc tu phước của thí chủ, mà Đại Ca-diếp-ba lại thiếu lợi về y. Nay ta đem y này đến hỏi đức Thế Tôn. Đức Phật lấy việc này làm nhơn duyên sẽ có sự hứa khả khai cho”. Có được suy nghĩ này rồi, Tôn giả A-nan-đà v́ Cư sĩ và Đại Ca-diếp-ba nhận y. Sau khi, Cư sĩ bái từ ra về, A-nan-đà liền mang y này đến chỗ đức Thế Tôn, lễ sát chân Phật rồi, tŕnh bày đầy đủ sự việc. Đức Phật bảo A-nan-đà:

- Lành thay! Lành thay! A-nan-đà, ta chưa cho phép mà người đă dự biết. Nếu có Bà-la-môn, Cư sĩ cúng y cho Bí-sô, các Bí-sô kia phải nên v́ họ mà thọ nhận, nên xả y cũ, thọ y mới.

Bấy giờ, các Bí-sô nghe lời nói này rồi mà chưa hề hiểu rơ, làm thế nào để xả y cũ!

Đức Phật dạy:

- Y cũ và y dư mang đến chỗ của thân giáo sư hay Ủy phạm sư, khởi ư nghĩ trao gởi rồi giữ để thọ dụng. Các Bí-sô không làm việc phân biệt chứa để thời gian lâu. Đức Thế Tôn biết rồi, bảo các Bi-sô: Ta quán mười điều lợi, lại v́ các người, chế Học này như sau:

 “Nếu lại có Bí-sô y đă may xong, y Yết-sỉ-na đă xuất, nhận được y dư trong hạn mười ngày, không làm phép phân biệt nên chứa. Nếu chứa quá, Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca”.

+ Nếu lại có Bí-sô may y đă xong, y Yết-sỉ-na đă xuất, có may y rồi chứ chẳng phải xuất y Yết-sỉ-na. Có xuất y Yết-sỉ-na, chẳng phải may y rồi. Có xuất y Yết-sỉ-na, may y cũng rồi. Chẳng phải có may y rồi, chẳng phải xuất y Yết-sỉ-na. Đó là câu ban đầu.

- Nếu Bí-sô giặt nhuộm may thành y rồi xong Tăng chưa xuất y Yết-sỉ-na. Đó là câu thứ hai.

- Nếu Bí-sô may y chưa rồi, Tăng đă xuất y Yết-sỉ-na. Đó là câu thứ ba.

- Nếu Bí-sô may y xong, Tăng lại xuất y Yết-sỉ-na. Đó là câu thứ tư.

- Nếu Bí-sô may y chưa xong, y Yết-sỉ-na chưa xuất, nói nhận được y dư trong hạn mười ngày tức là mười đêm. Y dư là ngoài chiếc y thọ tŕ c̣n có y riêng khác, làm phép phân biệt nên chứa. Nếu chứa quá, Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca. Vật này nên xả, tội kia nên sám.

+ Trong vấn đề này, tướng phạm của nó như thế nào ?

- Nếu Bí-sô ngày đầu trong tháng nhận được y, Bí-sô đối với trong mười ngày nên tŕ, nên xả, nên tác pháp, nên cho người. Nếu không tŕ, không xả, không tác pháp, không cho người, đến ngày thứ mười một tướng mặt trời xuất hiện, Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca.

- Nếu Bí-sô ngày thứ nhất, được y ngày thứ hai không được y, ngày thứ ba được y cho đến ngày thứ mười được y, không v́ tŕ chung cho đến tướng mặt trời xuất hiện ngày thứ mười một. Trong chín ngày được y đều Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca.

Như vậy, cho đến tám ngày v.v… được y, số ngày nhiều ít được y trong mỗi câu chuẩn theo đây nên biết.

- Nếu Bí-sô ngày thứ nhất được y, ngày thứ hai được y, Bí-sô kia đối với trong mười ngày, thời gian trước nên tŕ, thời gian sau được y nên xả… có thể dựa theo đây.

- Nếu không tác pháp, cho đến ngày thứ mười một, tướng mặt trời xuất hiện, trong hai ngày được y đều Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca.

Như vậy cho đến ba ngày v.v… được y, chuẩn theo đây nên biết.

- Nếu Bí-sô một ngày được hai y, cho đến hai ngày… được y, nên đồng như trước mà tác pháp. Nếu không tác pháp cho đến ngày thứ mười một, tướng mặt trời xuất hiện đều Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca.

- Nếu Bí-sô một ngày nhận được nhiều loại y, hoặc cái trước hoặc cái sau nên tŕ một y, ngoài ra đều tác pháp, nếu không tác pháp đến ngày thứ mười một, tướng mặt trời xuất hiện, đều Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca.

- Nếu Bí-sô một ngày nhận được nhiều loại y, ngày thứ hai về sau cũng nhận được nhiều loại y, tác pháp đồng như trước.

- Nếu không tác pháp đến ngày thứ mười một, tướng mặt trời xuất hiện, phạm tội đồng như trước.

Nhưng trường hợp này đều do cái trước nhiễm cái sau nối tiếp nhau phát sanh tội lỗi.

- Nếu Bí-sô có cái y phạm Ny-tát-kỳ, y này không xả, không trải qua đêm, tội kia không thuyết hối. Nếu nhận được các y khác đều phạm Xả đọa.

- Nếu cái y phạm Ny-tát-kỳ của Bí-sô này tuy xả, mà không trải qua đêm tội không thuyết hối, được các y khác đều phạm Xả đọa.

- Nếu y xả trải qua đêm mà tội không thuyết hối, được các y khác đều phạm Xả đọa, do cái trước nhiễm vậy.

- Nếu Bí-sô chứa y dư, đă phạm Xả đọa, không làm ba việc th́ được y, bát, đăy đựng bát, đăy lọc nước, dây lưng, cho đến nhận được bất cứ tư cụ ǵ của Sa-môn, các duyên nuôi mạng sống đều phạm Ny-tát-kỳ Ba-dật-để-ca, do cái trước nhiễm vậy.

- Nếu y xả, cách đêm, tội kia thuyết hối, th́ được các thứ y khác đều không phạm.

Trường hợp không phạm: Người phạm lần đầu hoặc si cuồng tâm loạn thống năo bức bách (những giới sau đây, vấn đề phạm tướng tương đồng sẽ không nêu ra. Trường hợp bất đồng sẽ tùy theo đó mà biệt xuất).

 

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA
QUYỂN 16- (hết).