CĂN
BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ
TỲ-NẠI- DA
QUYỂN
14
TAM
TẠNG PHÁP SƯ NGHĨA TỊNH PHỤNG CHẾ DỊCH.
·
Học xứ thứ tám, phần thứ hai: Vô
căn hủy báng.
Lúc bấy giờ Bạc-già-phạm
truyền mệnh Thật Lực Tử rằng:
- Ông nghe những lời nói
đó chăng ?
-
Kính bạch Bạc-già-phạm! Con có nghe. Kính bạch
Tô-yết-đa! Con có nghe.
Đức Phật hỏi:
- Sự việc như
vậy, thật hư thế nào,Thật Lực Tử ?
Thật lực thưa:
- Kính bạch Thế Tôn,
thật hư đối với con trong vấn đề
này, chỉ có đức Phật biết cho con !
Đức Phật đáp:
- Này Thật Lực Tử!
Trong vấn đề này, với hiện giờ, ông
chớ nói như vậy. Phải nói rơ ràng : “Nếu
thật th́ nói là thật, không thật th́ nói là không
thật”.
Thật Lực Tử thưa:
- Kính bạch
Bạc-già-phạm! Con không hề nhớ nổi việc này.
Kính bạch Tô-yết-đa! Không, con không nhớ nổi
Lúc ấy, cụ thọ La-hỗ-la
đứng sau đức Phật: Cầm quạt, quạt
Phật. La-hỗ-la bạch Phật:
- Kính bạch Thế Tôn !
Phiền ǵ phải hỏi Thật Lực Tử
đ́ều này! Bí-sô-ni Hữu Nữ có mặt ở đây
đích thân trước Phật hỏi rằng : Thật
Lực Tử cùng cô làm ác hạnh, phạm Ba-la-thị-ca.
Hai người huynh đệ hiện diện làm chứng
đó là sự thật kia mà!
Đức Phật bảo La-hỗ-la:
- Nay tôi hỏi ông, ông cứ
trả lời theo ư ông. Này La-hỗ-la! Nếu có Bí-sô-ni
đến nơi tôi, nói rằng: “Đại đức
Thánh giả La-hỗ-la làm việc trái phép, cùng con hành
bất tịnh hạnh, phạm Ba-la-thị-ca và ngay lúc
ấy hai Bí-sô Hữu và Địa liền làm chứng, nói
rằng: đó là sự thật, Bạc-già-phạm : đó
là sự thật Tô-yết-đa! Như cô Ni đă nói,
việc đó chúng tôi có biết trước”. Này
La-hỗ-la! Tôi nghe nói như vậy, liền hỏi ông
rằng : Việc ấy thật hư thế nào, ông
trả lời làm sao ?
Ông La-hỗ-la liền bạch Phật:
- Bạch Đại
đức Thế Tôn! Nếu nhớ con nói là nhớ,
nếu không nhớ con nói là không nhớ
Đức Thế Tôn bảo:
- Ông là người si nên có
thể nói rằng: “không nhớ”. Đâu có lạ ǵ Thật
Lực Tử là một Bí-sô thanh tịnh, thật không có
tội lỗi mà nói là “không nhớ” hay chăng ?
Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn
bảo các Bí-sô:
- Thật Lực Tử,
thật không có tội lỗi. Các ông nên biết: Bí-sô-ni
Hữu Nữ tự nói phạm tội, cần phải
diệt tẫn. Hai Bí-sô Hữu và Địa, nên cứu xét,
hỏi họ: Họ thấy thế nào ? Họ thấy
chỗ nào ? Do nhơn duyên ǵ họ đến để
thấy việc đó ?
Đức Thế Tôn nói như vậy
rồi, liền nhập thất, sống trong nếp
sống tịch định. Khi các Bí-sô thấy đức
Phật sống trong tịch định cùng nhau ghi nhớ
lời Phật dạy: “Thật Lực Tử là
người thanh tịnh. Bí-sô-ni Hữu Nữ do tự nói
lên sự đồng lơa nên bị đuổi. Hai Bí-sô
Hữu và Địa nên cứu xét, hỏi họ: Họ
thấy thế nào ? Họ thấy chỗ nào ? Do nhơn
duyên ǵ họ đến để thấy việc đó ?”
Bấy giờ, các Bí-sô cứu xét gạn
hỏi đầy đủ vấn đề. Hai Bí-sô kia
tự nói:
- Này các Cụ thọ! Tôi không
thấy Thật Lực Tử phạm pháp bất tịnh
hạnh, Ba-la-thị-ca, xong do Cụ thọ Thật Lực
Tử liên tiếp ba ngày cho tôi ăn thức ăn thô
thực, làm cho khí lực tôi yếu ṃn, năo người
bực bội, tôi sân si muốn khủng bố nên nói
như vậy. Sự thật, Cụ thọ Thật
Lực Tử là người thanh tịnh, không hề có
tội lỗi, không làm hạnh bất tịnh, không
phạm Ba-la-thị-ca.
Ngày ấy, đức Thế Tôn sau buổi
xế chiều từ nơi chỗ vắng lặng
đứng dậy, đến chỗ ngồi trong chúng
Bí-sô. Các Bí-sô bạch:
- Kính bạch đức
Thế Tôn! Bí-sô chúng con thấy Thế Tôn vào thất
để tịch định, chúng con bèn cùng nhau ghi nhớ
lời Phật dạy: Thật Lực Tử là
người thanh tịnh, Bí-sô-ni Hữu Nữ do tự nói
lên tội đồng lơa nên khiến bị diệt
tẫn, c̣n Bí-sô Hữu và Địa nên xét hỏi rơ vấn
đề này rằng: Họ thấy thế nào ? Họ
thấy chỗ nào ? Do nhân duyên ǵ họ đến
để thấy việc đó ? Các Bí-sô gạn hỏi,
cứu xét kỹ vấn đề thật chu đáo. Khi
vấn đề này được thực hiện th́ hai
Bí-sô Hữu và Địa tỏ bày như vậy: Thưa
các Cụ thọ! Đối với Thật Lực Tử,
tôi không thấy Cụ thọ này phạm pháp bất
tịnh hạnh, phạm Ba-la-thị-ca. Nguyên v́ Cụ
thọ Thật Lực Tử liên tiếp ba ngày cho tôi ăn
thức ăn thô thực. Chính thức ăn xấu này
khiến cho khí lực tôi yếu đuối quá sức
dẫn đến năo người, căng thẳng. Tôi
đă đem cái sân si muốn khủng bố Thật
Lực Tử mà cố ư nói sai sự thật. Kỳ
thật, Cụ thọ Thật Lực Tử là
người thanh tịnh không hề mắc lỗi lầm,
không làm hạnh bất tịnh, không phạm Ba-la-thị-ca.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nghe
các Bí-sô báo cáo xong, liền nói:
- Hai người là kẻ ngu
si, tại sao chỉ v́ nhân duyên nhỏ mọn trong miếng
ăn hằng ngày mà cố ư nói dối hủy báng vị
Bí-sô thanh tịnh! Đức Thế Tôn im lặng một
lúc rồi nói kệ:
Nếu người
cố nói dối
Bất chấp
đến sự thật
Không sợ khổ
đời sau
Không ác nào không làm
Thà nuốt ḥn sắt
đỏ
Lửa dữ
đốt khắp thân
Không dùng miệng phá
giới
Ăn cơm của
Đàn-na
Ngay thời điểm ấy, trong hư
không có các loài trời cũng nói kệ:
Thật lực
vượt ba cơi
C̣n bị sự
hủy báng
Cho nên kẻ có trí
Sao đành vui sanh
tử
Chân thật chán đoàn
thực
Khổ ăn, khổ
hơn hết.
Giống như ăn
thịt con
Phiền năo càng thêm
lớn.
Tại sao ngươi biết Bí-sô thanh
tịnh thật không phạm tội lại dùng pháp vô
căn Ba-la-thị-ca mà hủy báng ?!
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn
lấy việc này làm nhơn duyên (rộng nói như
trước cho đến câu): Bảo hai Bí-sô Hữu và
Địa rằng:
- Hai ông là kẻ ngu si, biết
Bí-sô thanh tịnh, thật không phạm tội, dùng pháp vô
căn Ba-la-thị-ca, để thực hiện việc
hủy báng ?!
Hai Bí-sô kia bạch Phật:
- Bạch đức Thế
Tôn thật như vậy!
Đức Thế Tôn dùng mọi cách quở
trách:
- Việc làm của các ông sai
quấy, không phải hạnh thanh tịnh, không phải
hạnh tùy thuận, làm việc không nên làm. Đức
Phật bảo các Bí-sô: Nên biết có ba hạng
người chắc chắn phải đọa vào
địa ngục Nê-lê:
* Ba hạng người
ấy là:
- Một là hạng
người tự phá giới, khuyên người phá
giới. Đây là hạng người thứ nhất
chắc chắn sẽ đọa vào địa ngục
Nê-lê.
- Hai là hạng người
tự làm hạnh bất tịnh, Đối với Bí-sô
thanh tịnh, dùng pháp vô căn Ba-la-thị-ca để
hủy báng. Đây là hạng người thứ hai
chắc chắn sẽ bị đọa vào ngục Nê-lê.
- Ba là hạng người
khởi lên kiến giải như thế này, khởi lên
lời nói thế này: Dục là tịnh, dục là diệu,
dục có thể thọ dụng, dục không có tội
lỗi, đối với cảnh ác dục cực kỳ
ái trước. Đây là hạng người thứ ba
nhất định sẽ đọa và địa ngục
Nê-lê.
Thế
Tôn nói kệ:
Người nào sanh
trong đời
Miệng nói lời
đao kiếm
Do lời nói ác này
Thường chém
ngược lại thân
Với kẻ ác,
ngợi khen
Hủy báng bậc
Hiền thiện.
Do miệng sanh tội
lỗi
Chắc chắn không an
vui
Cũng như
người đánh bạc
Mất của là
tội nhỏ
Với bậc thanh
tịnh ấy
Hủy báng thành tội
lớn
Trải qua trăm ngàn
năm
Đọa địa
ngục Bào nhục
Lại ở trong
ngục này
Chịu khổ bốn
vạn năm
Nếu dùng ác tâm nói
Hủy báng hạng
người lành
Do nghiệp duyên ác này
Sẽ đọa
nơi địa ngục
Đức Thế Tôn quở trách xong,
bảo các Bí-sô: Ta quán mười điều lợi... cho
đến câu: Đối với Tỳ-nại-da, v́ các
Thanh-văn chế Học xứ này như sau:
“Nếu lại có Bí-sô ôm ḷng giận không
xả, cố ư đối với Bí-sô thanh tịnh, dùng pháp
vô căn Ba-la-thị-ca hủy báng, muốn phá hoại
tịnh hạnh của vị kia, sau thời gian khác,
hoặc bị hỏi hay không bị hỏi, biết
việc ấy là vô căn hủy báng. Bí-sô kia do ḷng sân
nhuế cho nên nói lời như vậy, Tăng-già-phạt-thi-sa”.
+ Nếu lại có Bí-sô, là
chỉ cho Bí-sô Hữu và Địa. Ngoài ra, chỉ chung cho
các Bí-sô cùng loại. Ôm ḷng giận, tức là t́nh sanh
phẩn nộ. Không xả, tức là ḷng c̣n phấn
nhuế.
+ Bí-sô thanh tịnh, là Thật
Lực Tử. Không phạm, tức là không phạm việc
này.
+ Vô căn, là không có ba căn:
kiến, văn, nghi.
+ Phạm Ba-la-thị-ca,
tức là phạm một pháp trong bốn pháp (nói đấy
đủ như trước).
+ Báng, là nói điều không
thật. Muốn phá hoại hạnh của người
kia, tức là muốn làm tổn thương đến
hạnh thanh tịnh của vị ấy.
- Sau thời gian khác, tức là
không phải ngay lúc ấy. Hoặc bị hỏi hay không
hỏi, tức là sau khi nói lời hủy báng rồi ḷng
sanh hối hận, không đợi người khác hỏi,
biết là ḿnh đă hủy báng không căn cứ tự nói
lên, hay có người gạn hỏi.
- Báng có nghĩa là tranh căi. Tranh
căi có bốn loại:
- Đấu tránh, phi ngôn tránh,
phạm tránh và sự tránh.
Do giận cho nên nói lời như vậy,
một cách rơ ràng. Tăng-già-phạt-thi-sa, như đă
giải giới trước.
*
Trong vấn đề này, tướng phạm của nó
như thế nào ?
- Hủy báng Bí-sô thanh tịnh,
mười việc thành phạm, năm việc không
phạm.
* Mười việc thành
phạm là ǵ ?
- Không thấy việc ấy,
không nghe, không nghi, bèn khởi lên cái tưởng hư
cuống, thật không thấy... mà vọng ta có thấy,
nghe, nghi th́ khi nói lời ấy, phạm
Tăng-già-phạt-thi-sa.
Hoặc nghe mà quên, hoặc nghi mà quên,
khởi lên sự hiểu biết như vậy, ư
tưởng như vậy, nói rằng: Tôi nghe, nghi không quên.
Khi nói lên lời nói như vậy, phạm
Tăng-già-phạt-thi-sa.
Hoặc nghe mà tin, hay nghe không tin mà nói tôi
thấy. Hoặc nghe mà nghi, hay nghe không nghi, hoặc chỉ
tự ḿnh nghi mà nói rằng tôi thấy. Khi nói như
vậy, phạm Tăng-già-phạt-thi-sa. Như vậy
gọi là mười việc thành phạm.
* Năm việc không thành
phạm là ǵ ?
- Người kia không thấy,
không nghe, không nghi, có thấy .. hiểu rơ, có thấy... có ư
tưởng thấy... nói thế này: Tôi thấy, nghe, nghi
th́ không phạm.
Hoặc nghe mà quên, hay nghi mà quên, có nghe, nghi,
tưởng mà nói nghe... cũng không có phạm.
- Như khi hủy báng
người thanh tịnh mười việc thành phạm,
năm việc không thành phạm.
Nếu hủy báng người thanh tịnh
mà in tuồng không thanh tịnh, cũng lại như
vậy.
Nếu hủy báng người không thanh
tịnh, mười một việc thành phạm, sáu
việc không phạm.
* Những ǵ là mười
một ?
- Không thấy, không nghe, không
nghi, khởi lên hiểu biết như vậy, ư
tưởng như vầy: Thật không thấy... vọng
nói có thấy, nghe, nghi. Khi khởi lên lời nói như
vậy, phạm Tăng-già-phạt-thi-sa.
Hoặc thấy mà quên, hay nghe mà quên,
hoặc nghi mà quên, khởi lên sự hiểu biết như
vầy, có ư tưởng như vầy: Kiến, văn, nghi
không quên. Khi nói như vậy phạm
Tăng-già-phạt-thi-sa.
Hoặc nghe mà tin, hoặc nghe không tin, mà nói
tôi thấy. Hoặc nghe mà nghi, hay nghe mà không nghi, hoặc
chỉ tự ḿnh nghi mà nói rằng tôi thấy. Khi nói như
vậy phạm Tăng-già-phạt-thi-sa. Như vậy
gọi là mười một việc thành phạm.
* Thế nào gọi là sáu
việc không phạm ?
- Người kia không thấy,
không nghe, không nghi, có thấy... hiểu rơ, có thấy nghe...,
tưởng tượng khởi lên lời nói như
vầy: Tôi thấy, nghe, nghi không phạm.
Hoặc thấy mà quên hay nghe mà quên, hoặc
nghi mà quên, có thấy... hiểu rơ, có thấy tưởng
tượng... mà nói thấy nghe... cũng đều không
phạm. Như vậy gọi là sáu việc không phạm.
Nếu hủy báng người in tuồng
thanh tịnh, mười một việc thành phạm, sáu
việc không phạm, cũng lại như vậy.
Khi ấy,các Bí-sô thảy đều có ghi,
v́ để trừ nghi hoặc bạch Phật rằng:
- Kính bạch đức
Thế Tôn! Cụ thọ Thật Lực Tử từng làm
nghiệp ǵ, do nghiệp ấy, chiêu lấy quả dị
thục, sanh nơi nhà phú quư, nhiều của tiền,
thọ dụng đầy đủ, bỏ thế
tục, quay về nương nơi đức Phật,
làm người xuất gia, đoạn các phiền năo,
chứng A-la-hán và trong vấn đề phân phối pḥng xá,
Như Lai nói Thật Lực Tử là thứ nhất, tuy
đặng thắng quả mà lại bị hủy báng
thậm tệ như vậy ?!
Đức Phật bảo
các Bí-sô :
- Các ông nên khéo lắng nghe Ta
sẽ v́ các ông rơ nhân duyên đó. Này các Bí-sô: “Nếu tự
ḿnh tác nghiệp th́ chắc chắn là không phải ng̣ai
phạm vi bốn đại: địa, thủy, hỏa,
phong mà thành thục quả báo, ngay trong uẩn, xứ,
giới của chính ḿnh mà nghiệp quả báo thiện ác
được thành thục”.
Như lai liền nói tụng:
Giả sử trăm
ngàn kiếp,
Nghiệp ḿnh tạo
không mất.
Khi nhân duyên hội
ngộ
Lại tự nhận
quả báo.
Này các Bí-sô! Vào đời quá khứ, trong
một tụ lạc, có một thương chủ, tên là
Ngư Nhơn. Thời đó, thương chủ ấy
chuyên chở hàng hóa, cùng các thương nhơn dẫn
dắt nhau đến trong đại hải muốn
cầu trân bảo. Lúc bấy giờ, trong thế gian không
có Phật ra đời, chỉ có Thánh giả Độc
Giác hiện vào đời thường để cứu
giúp người nghèo khổ. Thường thọ nhận
thức ăn và ngọa cụ hết sức đạm
bạc thô sơ. Đương thời, đây là Thắng
phước điền duy nhất. Vị Độc Giác
nhập đoàn với số con buôn để du hành nơi
nhơn gian.
Một đêm nọ, ngài nhập
định hỏa quang. Người tỉnh ngủ trong
đêm thấy ánh sáng rồi, báo cáo với thương
chủ:
- Thương chủ biết
chăng: Vị Bí-sô này, thành tựu Thánh hạnh, trong
đêm tôi thấy như lửa tụ lại rồi
từ Thánh giả phóng ra ánh sáng tỏa khắp.
Nghe như thế, thương chủ
rất sanh ḷng kính tín, đến đánh lễ dưới
hai chân ngài và thưa:
- Thánh giả t́m cầu
thức ăn, con t́m cầu phước đức. Hân
hạnh cho tập đoàn buôn chúng con, xin được
Ngài thọ nhận sự cúng dường nhỏ mọn
này, Ngài dùng xong theo chúng con cùng đi.
Vị Độc Giác im lặng thọ
nhận thức ăn theo sự thỉnh mời. Thánh
giả theo đoàn dần dà đến bên biển lớn,
Thương chủ hỏi:
- Thánh giả! Nay thương
tộc chúng con muốn vào trong biển, Ngài có cùng đi hay
không ?
Vị Độc Giác trả lời:
- Các hiền thủ v́ vợ
con... muốn vào trong biển cả để t́m cầu các
vật quư báu, tôi đâu có lư do ǵ để cùng đi.
Bấy giờ, thương chủ dọn
một bữa ăn cúng dường cho vị Độc
Giác xong, lấy một xấp diệu điệp mới
dâng cúng Ngài. khi ấy Đại đức Độc Giác
chỉ hiện thần thông mà không nói pháp v́ muốn lân
mẫn đối với thương chủ mà thôi.
Giống như con Nga vương bay liệng trên hư
không, thân tuôn ra nước lửa, hiện đại
thần thông. Hạng phàm phu một khi thấy thần
biến, liền hồi tâm ngay như cây đại thọ
bị ngă nhào, từ xa kính lễ, phát lên lời nguyện:
“Con đối với vị chơn thật phước
điền như vậy, thiết lễ cúng
dường và hành động
này chiêu lấy quả di thục. Con sẽ được
sanh trong nhà phú quư, sẽ được oai đức thù
thắng như vậy, sẽ được phụng
sự Đại sư thù thắng này”. Các Bí-sô nên biết:
- Ngư Nhơn thời ấy
tức là Thật Lực Tử. Do xưa kia cúng
dường vị Độc Giác Thánh nhơn, phát
đại thệ nguyện, nay được sanh trong gia
đ́nh phú quư hơn hết, thọ dụng đầy
đủ. Đối với trong giáo pháp của Ta, ĺa
tục xuất gia, đoạn các phiền năo, chứng
A-la-hán. Ta là Đại sư hơn trăm ngàn Câu-đê kia.
Độc Giác thừa sự Ta, không sanh nhàm chán.
Lại nữa, này các Bí-sô:
- Tại sao, Thật Lực
Tử này, tuy chứng A-la-hán quả, xong c̣n bị lời
nói ác hủy báng ?
Nay ta sẽ nói, các ông khéo nghe:
-
Này các Bí-sô! Trong đời quá khứ, trong một thôn
nọ có ông đại Trưởng giả, cưới
một người con gái cùng họ làm vợ, tâm
đầu ư hợp sống đời sống khoái
lạc. Tuy sống vơi nhau đă nhiều năm mà
vẫn không có con. Sự ưu tư lo lắng đă
đến với tâm hồn, cuộc sống của
họ. Họ chống tay nơi má mà suy nghĩ: “Nay trong nhà
của ta, nhiều tài vật quư báu, mà không có con để
kế thừa, khi ta trăm tuổi chắc chắn bị
quan thu giữ”.
Người vợ thấy vậy, hỏi:
- Thánh tử! Tại sao
chống tay nơi má suy nghĩ suốt như vậy,
tợ hồ như chàng mang cả mối ưu sầu lên
khắp người ?!
Ông chồng, chán nản trả lời:
- Hiền thủ! Nhà ta
hiện có nhiều của cải mà không có con, một mai ta
qua đời, gia sản bị sung vào nhà quan. Hiện t́nh
như vậy làm sao không ưu sầu?!
Người vợ nhỏ nhẹ nói:
- Nếu do lỗi tại em
nên không có con, anh nên cưới vợ nhỏ để có
con ngơ hầu kế thừa gia nghiệp.
Người chồng tế nhị trả
lời:
- Này người vợ
hiền! Trong nhà có hai người vợ, cho đến
một chút nước bún cũng không yên ổn để
uống! Trong nhà thường gây tụng đấu tranh
luôn.
Người vợ bảo rằng:
- Anh cứ t́m về đi,
nếu người ấy trong lứa đáng em th́ em coi
như em gái của em vậy, nếu họ ngang hàng em coi
như bạn gái với nhau.
Thời điểm ấy, ở thôn khác có
một Trưởng giả, cưới vợ chưa bao
lâu sanh được hai đứa con trai và một
đứa con gái. Sau đó, vợ chồng ông Trưởng
giả đều qua đời. Ông đại
Trưởng giả kia, t́m người cưới làm
vợ đến nơi hai người anh trai để
xin cưới người em gái của họ làm vợ.
Hai người anh trai, nhân đó đồng ư gả em
lấy chồng.
Thường t́nh của đời là
“mới chuộng cũ vong”. Khi ấy, tâm ông Trưởng
giả gần gũi với người vợ mới
cưới. Người vợ trước thấy
vậy âm thầm tâm sanh đố kỵ. Tháng ngày chưa
bao lâu, bất ngờ người vợ cũ lại mang
thai và bảo với chồng rằng:
- Xem người vợ
mới cưới của anh nay có t́nh ư khác.
Người chồng nghe liền nói:
- Hiền thủ! Ḿnh nói ác ư!
Người vợ lớn làm thinh... thời
gian qua mau, ngày nọ, người vợ lớn sanh
được một đứa con trai. Hài nhi
được năm tuổi trí huệ phân minh, nói ra
việc ǵ cũng đều đúng sự thật. Lúc
bấy giờ, mọi người thấy vậy gọi
đồng tử là “Thật Ngữ”. Người mẹ
của đồng tử có ư nghĩ: Ta tuy sanh con mà chồng ta vẫn ái
trọng người vợ sau, nay ta phải làm thế nào
để cho nó xa ĺa. Nghĩ rồi liền nói với người
chồng:
- Anh đối với
người hầu tuy rất ái niệm nhưng cô ta không
giữ ḷng trinh tố với anh.
Người chồng thản nhiên trả
lời:
- Hiền thủ! Em lại
sanh ác ư trong lời nói!
Như lần trước, người
vợ vẫn làm thinh, nhưng rồi lập kế khác, bèn
nói với người con trai của ḿnh là:
- Này đứa con thân yêu quư
mến của mẹ! Con đâu có biết nỗi khổ
tâm của mẹ!
Người con thưa với người
mẹ rằng:
- Con làm sao biết
được, thưa mẹ !
Người mẹ nói với con trong
giọng buồn khổ:
- Khổ tâm nhất của
người đàn bà là tật đố (ghen ghét).
Người con lại thưa với
mẹ:
- Thưa mẹ! Đó là
việc không tốt!
Người mẹ h́nh như không muốn
nghe lời của con, nên nói tiếp:
- Mẹ muốn con làm
chứng để phơi bày tội ác của d́ con .
Người con ôn tồn hỏi:
-
Việc đó là thật hay không thật ?
Bà mẹ trả lời gọn:
- Không thật.
Người con tỏ dấu không
đồng t́nh nói:
- Người đời
đều biết con là người nói thật nên gọi
tên con là “Thật Ngữ”, làm sao con có thể theo ư mẹ mà
tuôn ra lời nói hư vọng ?!
Người mẹ hằn học nói:
- Mẹ mang con trong bụng
chín tháng... đối với một việc nhỏ mà con
không theo ư mẹ! Mẹ sẽ lập kế, con làm
chứng mà khỏi phiền đến cái miệng con. Khi
cha của con hỏi, con có thể chỉ im lặng gật
đầu.
Người con v́ ḷng hiếu thuận nên
không muốn làm trái ư mẹ, bèn đồng ư.
Thế rồi, một ngày nọ, mẹ
của Thật Ngữ bảo với chồng rằng:
- Hiền thủ! Anh vẫn
mến yêu người vợ mà nó đă làm việc tà ác
với người nam tử khác.
Cha của Thật Ngữ nói:
- Hiền thủ! Em lại sanh
ác ư!
Người vợ nói:
- Em không có ác ư đâu, anh không
tin th́ cứ hỏi Thật Ngữ th́ biết.
Người cha liền nghĩ: “Con của
ta, người đời đều gọi là Thật
Ngữ, đâu có thể đối với ta mà lại nói
dối. Điều này chắc không có”. Khi ấy, nhi
đồng Thật ngữ đang vui đùa cách
người cha không xa, người cha gọi đến,
bồng để trên đầu gối hỏi:
- Con có biết d́ của con
cùng với nam tử khác làm việc ác hạnh chăng?
Chỉ có tánh tà ngụy của người đàn bà không
học mà vẫn biết.
Bà mẹ liền lấy tay bụm miệng
người con và nói:
- Đó là má của con, con không
nên nói. Nếu là sự thật th́ con chỉ im lặng
gật đầu.
Đồng tử bèn gật đầu.
Chính lúc ấy, từ miệng của đồng tử bây
ra mùi hôi thối. Từ đó tiếng xấu bay khắp
bốn phương xa gần. Người ta nói:
- Đồng tử ấy
không phải là tên “Thật Ngữ” mà là “Vọng Ngữ”, v́
đă làm chứng không đúng sự thật cho bà mẹ
khác của ḿnh. Cái tên Thật Ngữ liền bị mai một,
người đời liền gọi là “ Vọng Ngữ
”.
Sau khi chứng kiến cái gật đầu
của con, người chồng bảo với
người vợ sau rằng:
- Nàng làm hạnh ác không nên
sống ở đây nữa!
Bị đuổi nên phải về lại
chỗ hai người anh.
Người anh hỏi:
- Tại sao em trở về ?
Người em bảo với anh
rằng:
- Em bị đuổi ra
khỏi nhà, nào em có tội ǵ mà gán cho em là làm việc tư
thông.
Người anh nghe xong liền nói:
- Nếu em có tà hạnh
như vậy th́ cũng không nên sống nơi đây.
Người em gái than văn. Thật sự em
không có tà hạnh mà chỉ do Thật Ngữ làm chứng.
Đồng tử ấy là Vọng Ngữ chứ chẳng
phải Thật Ngữ.
Người anh liền hỏi:
- Làm sao biết
được là Vọng Ngữ ?!
Người em gái liền mạnh mẽ
thanh minh:
- Anh không tin cứ hỏi,
mấy người ở gần th́ biết.
Khi ấy, hai người anh t́m hiểu bà
con và được mọi người cho biết: “Cô ta
không ác hạnh. Khi anh em biết được sự
việc rơ ràng, ḷng đầy hận năo!”.
Về sau, vào thời gian khác, bỗng có
một vị Độc Giác Thánh giả nhơn đi
khất thực, đến nơi nhà của ba anh em con ông
Trưởg giả, họ liền mời vào để
cúng dường. Thọ thực xong, người em gái
bỗng nhớ đến chuyện hủy báng, liền
đối trước vị Độc giác, phát lời
nguyện tà ác: “Giống như ngày nay tôi bị ông vu
khống hủy báng, đời sau giả sử như ông
(Thật Ngữ) chứng được quả A-la-hán, tôi
cũng vu khống hủy báng ông, chứ không bỏ qua”.
Khi ấy hai người anh thấy vậy
hỏi:
- Em phát nguyện thế nào ?
Người em gái tŕnh bày rơ lời
nguyện của ḿnh như trên cho hai anh nghe. Hai
người anh nghe xong liền nói:
- Đến khi nào em thực
hiện lời nguyền này hai anh sẽ v́ em làm chứng
cho việc đó.
Đức Phật bảo các Bí-sô :
-
Các ông nghĩ sao, không ai khác đâu, Thật Ngữ lúc
ấy tức là Thật Lực Tử bây giờ, dị
mẫu, tức là Bí-sô-ni Hữu Nữ, hai người anh
tức là hai Bí-sô Hữu và Địa. Thật Lực
Tử, do ngày xưa vu khống hủy báng mẹ (dị
mẫu) nên trải qua nhiều ngàn năm thọ sanh trong
Nại-lạc-ca thọ khổ nấu đốt, ác báo c̣n
thừa, trong năm trăm đời, thường bị
lời ác hủy báng. Ngày nay, tuy đặng quả A-la-hán
vẫn bị vu khống hủy báng.
Các ông Bí-sô! Như vậy nên biết:
Nghiệp hoàn toàn đen, đặng quả báo hoàn toàn
đen; nghiệp ḥan toàn trắng, đặng quả báo
hoàn toàn trắng; nghiệp đen trắng xen lẫn,
đặng quả báo đen trắng xen lẫn. Các
thầy cần phải xa ĺa nghiệp hoàn toàn đen và
đen trắng xen lẫn, siêng tu cái nghiệp hoàn toàn
trắng. Này các Bí-sô! Nên học tập điều này.
Này các Bí-sô! Thật Lực Tử
trước kia tạo nghiệp ǵ, đối với trong
các vị có phận sự phân y, người là hạng
nhất ? Các Bí-sô, nghe đây:
- Đời quá khứ, trong Hiền kiếp này, lúc người sống hai vạn tuổi, đức Phật Ca-diếp-ba xuất hiện ở đời, mười hiệu đầy đủ. Khi ấy, Thật Lực Tử được đức Phật giáo hóa, bỏ thế tục, xuất gia, trọn đời siêng tu phạm hạnh, mà đối với thắng quả th́ chưa thu hoạch được, đến lúc mạng chung liền bèn phát nguyện: “Tôi ở trong giáo pháp tối thượng phước điền của đức Phật Ca-diếp-ba bỏ thế tục, xuất gia, đối với quả thù thắng chưa chứng được. Như lời phật thọ kư đời vị lai, khi người thọ trăm tuổi, có Ma-nộp-bạt-ca sẽ thành phật, tôi ở trong giáo pháp của người, sẽ làm người xuất gia đoạn các phiền năo, chứng quả A-la-hán. Như ngày nay, Ô-ba-đà-da đối với trong hàng đệ tử của Phật Ca-diếp-ba, phân ngọa cụ cho Tăng đứng vào hàng thứ nhất. Tôi đối với hàng đệ tử của Phật Thích-ca Mâu-ni Vô thượng chánh giác là người v́ Tăng chia ngọa cụ, cũng ở vào hàng thứ nhất”. Do nguyện lực như thế, đối với trong giáo pháp của Ta, Thật Lực làm người phân Tăng ngọa cụ cũng vào hàng thứ nhất. Các ông Bí-sô, nên lấy đó mà tu học.
·
Học xứ thứ chín: Giả căn hủy
báng.
Lúc bấy giờ, đức Phật ở
thành Vương-xá, ao Yết-lan-đạc-ca, an trụ
nơi rừng Trúc. Thời ấy, Cụ thọ Thật
Lực Tử ở tại núi Thứu Phong, cách đó không
xa có cái ao Thạch Thiết. Ở bên bờ ao này, Thật
Lực Tử thường ban ngày du hành các nơi. Khi
ấy Bí-sô-ni Liên Hoa Sắc, nhơn Cụ thọ
Đại Mục-liên làm bậc Thiện tri thức,
xuất gia trong pháp luật khéo nói, đoạn các phiền
năo, thành A-la-hán, Bí-sô-ni này, thường thường
đến chỗ đức Thế Tôn cung kính, cúng
dường và các Kỳ túc tôn đức Bí-sô. Đối
với Cụ thọ Thật Lực Tử đặc
biệt tôn kính, v́ Thật Lực Tử không ngại lao
khổ, từ bỏ chốn tịch định
đẳng tŕ diệu lạc, như pháp v́ Tăng làm
người Thọ sự (Tri sự) phân phối pḥng xá
ngọa cụ cho Tăng.
Một ngày sau đó, Bí-sô-ni Liên Hoa Sắc
kính lễ Thế Tôn rồi lại tham kiến các
Đại đức tăng, nhân đó đến chỗ
ở của Thật Lực Tử cúc cung lễ bái,
rồi ngồi qua một bên nghe pháp. Bấy giờ hai Bí-sô
hữu và Địa cùng với Thật Lực Tử
đời trước có kết oán với nhau, hai vị
này được nhiều y phấn tảo, có ư nghĩ:
“Nơi nào đây để giặt y này ?” Hai vị bèn
đem đến ao Thạch Thiết để giặt.
Khi đến nơi ao, thấy hai con nai uống
nước rồi lại làm hạnh bất tịnh, hành
pháp dâm dục. Nhân khi thấy việc này, người anh
nói với người em:
- Đó là Thật Lực
Tử cùng với Liên Hóa Sắc Bí-sô-ni hành bất tịnh
hạnh, hành pháp dâm dục, chúng ta nên đến báo cáo
với các Bí-sô.
Người em nói với người anh
rằng:
- Cô Ni Hữu Nữ, em của
chúng ta trước đây v́ ta mà bị chúng Tăng
đuổi, nay ta há đâu muốn nhận lấy tội
bị đuổi này ư ?!
Người anh nói với
người em:
- Trước đây là dối
nói, nay là tŕnh bày sự thật. Em không thấy Thật
Lực Tử cùng với Ni Liên Hoa Sắc làm hạnh
bất tịnh, hành pháp dâm dục hay chăng ?
Người em bèn nín thinh. Anh em cùng
đến báo cáo với các Bí-sô:
- Người trong thế gian
này, c̣n ai có thể tin được nữa, nay anh em tôi
đă thấy Thật Lực Tử cùng với cô Ni Liên Hoa
Sắc làm việc dâm dục.
Lúc đó, các Bí-sô nghe thế bảo với
Hữu, Địa:
- Cụ thọ! Nay Ngài một
bề muốn bỏ con đường đến nhơn
thiên, chuyên tâm thẳng đến ba đường ác hay
sao ? Thật Lực Tử chứng A-la-hán an trụ trong tám
giải thoát, đặng pháp thượng nhơn, hiện
đại thần thông. Tại sao nay các ông đem phần
việc khác nhau của pháp Ba-la-thị-ca để vu
khống hủy báng Thật Lực Tử ?
Hai Bí-sô quanh co trả lời:
- Thật chẳng phải cái
lỗi của chúng tôi mà là do cái lỗi của con mắt
tôi, nên múc hai con mắt này ra.
Các Bí-sô nhẹ nhàng nói:
- Như đức Thế Tôn
dạy: Cần phải khéo léo t́m hiểu rơ ràng sự
việc: Tại sao thấy, thấy chỗ nào, thấy
thế nào... Hai vị nhơn việc ǵ đến
để thấy việc đó.
Khi các Bí-sô tra hỏi vấn đề
rồi, hai Bí-sô kia bèn tŕnh bày sự thật xảy ra bên ao
Thạch Thiết với các Bí-sô. Đối với các
vị thiểu dục Bí-sô nghe việc này, bèn cơ
hiềm quở trách việc ấy:
- Tại sao các người
biết Bí-sô thanh tịnh thật không phạm tội,
lại sử dụng phần việc khác nhau của pháp
Ba-la-thị-ca để hủy báng ?!
Các Bí-sô đem nhơn duyên này tŕnh bày
đầy đủ với Đức Phật,
đức Thế Tôn dùng nhơn duyên này tập hợp các
Bí-sô (nói rộng như trước) cho đến câu: V́ các
Bí-sô chế Học xứ này như sau:
“Nếu lại có Bí-sô ôm
ḷng giận không xả bỏ, v́ thế đối với
vị Bí-sô thanh tịnh, sử dụng trái khác với
phần việc của pháp Ba-la-thị-ca hủy báng.
Muốn phá hoại tịnh hạnh của vị kia,
về sau trong thời gian nào đó, hoặc có người
hỏi, hoặc không có người hỏi, biết
việc ấy là trái khác với phần việc đem
một phần nhỏ pháp tương tự mà hủy báng.
Bí-sô kia do sân nhuế nói lời như vậy, Tăng-già
Phạt-thi-sa”.
+ Nếu lại có Bí-sô, là
chỉ cho hai Bí-sô Hữu và Địa, hoặc Bí-sô nào
đó cùng loại với Hữu, Địa. Ôm ḷng
giận, tức là trước có sự phẫn hận mà
không xă bỏ, ḷng giận không thôi. Với Bí-sô thanh tịnh
không phạm là Bí-sô không hề phạm tội Tha thắng.
- Trái với phận sự
khác: Chữ “khác” nghĩa của “dị” tức Niết-bàn
trái ngược với sanh tử. Gọi “chẳng
phải bốn pháp Ba-la-thị-ca”, đây chính là phần
việc kia vậy.
- Ba-la-thị-ca với trong
bốn pháp này tùy tiện lấy một việc mà hủy
báng đối với người kia.
- Báng là nói vu khống sự
việc ấy. Phá hoại tịnh hạnh người kia:
Ư muốn làm cho vị kia sứt mẻ tịnh hạnh. Cho
đến Phạm Tăng-ǵa-phạt-thi-sa xem lại
phần trước đă nói rơ .
+
Trong vấn đề này, tướng phạm của nó
như thế nào ?
Nếu Bí-sô thấy sự việc mà Bí-sô
kia phạm bốn Ba-la-thị-ca khởi lên ư tưởng
không phạm, khởi lên hiểu biết không phạm,
khởi lên nhẫn khả không phạm rồi bèn nói:
Thấy Bí-sô kia phạm Ba-la-thị-ca, khi nói như vậy
Phạm Tăng-già-phạt-thi-sa.
Nếu khi Bí-sô thấy Bí-sô kia phạm
Ba-la-thị-ca lại tác khởi ư tưởng
Tăng-già-phạt-thi-sa, tác khởi hiểu rỏ như
vậy, nhẫn như thế rồi bèn nói lên: Thấy
Bí-sô kia phạm Ba-la-thị-ca, khi nói như vậy phạm
Tăng-già-phạt-thi-sa.
Nếu Bí-sô thấy Bí-sô kia phạm
Ba-la-thị-ca mà tác ư tưởng là Ba-dật-để-ca,
tác khởi hiểu biết như thế, nhẫn như
vậy rồi bèn nói lên: Thấy Bí-sô kia phạm
Ba-la-thị-ca, khi nói lên như thế phạm
Tăng-già-phạt thi sa.
Nếu Bí-sô thấy Bí-sô kia phạm Ba-la-thị-ca
lại tác khởi ư tưởng
Ba-la-để-đề-xá-ny, tác khởi hiểu như
thế, nhẫn khả như vậy rồi bèn nói lên:
Thấy Bí-sô kia phạm Ba-la-thị-ca, khi nói lên điều
này phạm Tăng-già-phạt-thi- sa.
Nếu Bí-sô thấy Bí-sô kia phạm
Ba-la-thị-ca lại tác khởi ư tưởng Đột-
sắc-ngật-lư-đa, tác khởi hiểu như vậy,
nhẫn khả như thế rồi bèn nói lên: Thấy Bí-sô
kia phạm Ba-la-thị-ca, khi nói lên điều này phạm
Tăng-già- phạt-thi-sa.
Nếu Bí-sô thấy Bí-sô kia phạm
Tăng-già-phạt-thi-sa lại tác khởi ư tưởng
không phạm, tác khởi hiểu biết không phạm, tác
khởi nhẫn không phạm rồi bèn nói lên: Thấy Bí-sô
kia phạm Ba-la-thị-ca, khi nói lên điều này phạm
Tăng-già-phạt-thi-sa.
Như vậy cho đến thấy
phạm Đột-sắc-ngật-lư-đa, mỗi lần
nói như vậy có năm phen phạm nên theo trên đă nói rơ
để biết.
Trường hợp không phạm: Nói đúng sự thật, người phạm ban đầu, si cuồng, tâm loạn thống năo bức bách.
·
Học xứ thứ 10: Phá Tăng đi
ngược lại sự can gián.
Lúc bấy giờ, Thế
Tôn trú trong rừng Trúc cạnh ao Yết-lan-đạc-ca
thuộc thành Vương-xá. Năm ấy gặp ngặt
nghèo khất thực khó được. Đối với
Bí-sô đắc thần thông th́ đến rừng
Thiệm-bộ, do vậy rừng này đặt tên là
Thiện-bộ Châu. Các Bí-sô ấy đến rừng này
để lấy sắc, hương, vị của
quả Thiệm-bộ đựng đầy b́nh bát
rồi đem trở về trú xứ. Các Bí-sô tự có
được sự sung túc. Phần quả đôi ra trao
đều cho các Bí-sô khác.
Cách rừng này không xa, có trái Tần-la, trái
Lâm-kiếp-tất-tha, trái Yểm-ma-lạc-ca. Các Bí-sô
đến hái đem về cùng chia nhau ăn hoặc có các
Bí-sô đến phía Đông, Tỳ-đê-ha, hoặc phía Tây,
Cù-đà-ni, hoặc phía Bắc, Câu-lô Châu, lấy lúa Tự
nhiên hương mang về cùng chia nhau ăn. Hoặc
đến Tứ đại vương chúng thiên, Tam
thập tam thiên, lấy Thiên diệu thực... mang về
cùng phân phối để ăn. Hoặc đến các
phương khác những nơi sung túc thực phẩm
lấy thứ ăn tốt để phân phối cho nhau.
Khi ấy Đề-bà-đạt-đa nghĩ: “Hiện nay
gặp lúc mất mùa, khất thực khó được,
các Bí-sô có thần thông đều đến rừng
Thiệm-bộ... Ta nếu có được sức
thần thông cũng có thể đến...
Đề-bà-đạt-đa suy nghĩ: “Ai có thể
dạy ta thần thông. Ta nay nên đến đức
Thế Tôn xin hỏi điều này, Ngài dạy sao ta làm
như vậy”. Sau buổi xế chiều,
Đề-bà-đạt-đa từ nơi tịnh xứ
đứng dậy đến chỗ đức Thế
Tôn, lễ chân Phật rồi, đứng qua một bên,
bạch Phật:
- Duy nguyện Thế Tôn! V́ con xin nói
việc thần thông.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn
biết Đề-bà-đạt-đa sanh niệm tà ác, nên
Ngài nói:
- Trước hết, ông có thể tịnh
Thi-la siêng tu định tuệ. Sau mới tu tập
thần thông.
Nghe dạy thế,
Đề-bà-đạt-đa nghĩ là Thế Tôn không
đồng ư nói chuyện thần thông cho ḿnh, cho nên cáo
từ đức Phật đi đến
A-nhă-kiều-trần-như. Sau khi thủ tục hỏi
chào xong liền thưa:
- Duy nguyện Thượng tọa v́ tôi
giải nói việc thần thông.
Khi ấy, Cụ thọ
A-nhă-kiều-trần-như liền quán Phật tâm thấy
Phật biết Đề-bà-đạt-đa muốn sanh
ác niệm, bèn nói với Đề-bà-đạt-đa
rằng:
- Ông có thể đối với sắc,
như pháp quán sát mới đặng thần thông và các
thắng đức: thọ, tưởng, hành, thức
cũng như vậy.
Đề-bà-đạt-đa nghe xong
liền nghĩ là Thượng tọa
A-nhă-kiều-trần-như cũng không v́ ta nói chuyện
thần thông, nên bỏ mà đi. Đề-bà-đạt-đa
đến các Thượng tọa Mă Thắng,
Bạt-đà-la-bà-sáp-ba, Đại Danh Xưng, Viên Măn, Vô
Cấu, Ngưu Vương Diệu Tư... Có đến
năm trăm Thượng tọa,
Đề-bà-đạt-đa đến xin học pháp
thần thông. Tất cả các Bí-sô Thượng tọa
đều quán Phật tâm, thấy đức Phật
biết Đề-bà-đạt-đa muốn sanh ác
niệm, cũng dùng quán trên, tâm của các Bí-sô Thượng
tọa đều biết Đề-bà-đạt-đa
muốn sanh ác niệm, cho nên nói với Đề-bà-đạt-đa
rằng:
- Ông có thể đối với sắc,
như lư quán sát mới đặng thần thông và các
thắng đức. Thọ, tưởng, hành, thức
cũng lại như vậy.
Đề-bà-đạt-đa nghĩ:
“Năm trăm Bí-sô Thượng tọa này đều không
muốn dạy pháp thần thông cho ta nên mới trả
lời như nhau, vậy không lẽ không có ai dạy cho ta
pháp thần thông sao ?” Khi ấy Cụ thọ
Thập-lực-ca-diếp-ba, ở thành Vương-xá,
trụ trong Ưng-quật, Đề-bà-đạt-đa
bèn có ư nghĩ thế này: “Thập-lực-ca-diếp-ba tánh
không xiểm cuống, nói lời chơn thật là em họ
của A-nan-đà, Ô-ba-đà-da của ta, Ngài có thể v́ ta
nói pháp thần thông”. Nghĩ như vậy rồi, liền
đến chỗ Ngài, đảnh lễ xong, đứng
qua một bên, thưa:
- Kính Thượng tọa, nguyện v́ tôi
nói pháp đạo thần thông.
Khi ấy Cụ Thọ
Thập-lực-ca-diếp-ba không quán Phật tâm như các
Thượng tọa nên không biết
Đề-bà-đạt-đa muốn khởi niệm ác nên
v́ Đề-bà nói pháp thần thông.
Đề-bà-đạt-đa nghe xong,
đầu đêm, sau đêm cảnh giác tu tập. Phần
sau của đêm, nương theo đạo của thế
tục chứng đặng sơ tịnh lự, liền
phát ra thần thông, chuyển một thành nhiều,
chuyển nhiều thành một, hoặc hiện, hoặc
ẩn, có thể đi xuyên qua núi, đá, vách, như đi
trong hư không, không có ǵ trở ngại, vào trong đất
như đi trong nước, bước trên nước
như đi trên đất, ngồi kiết-già trong hư
không, cũng như con chim bay, hoặc dùng bàn tay rờ
mặt trời, mặt trăng.
Khi có đầy đủ thần thông
rồi, Đề-bà-đạt-đa bèn suy nghĩ: “Nay các
Bí-sô khất thực khó được, ta v́ họ
đến trong rừng Thiệm-bộ lấy quả
hương mĩ ăn và phân chia cho các vị khác. Ta v́
họ Đông, Tây, Bắc châu, Tứ đại
vương chúng, Tam thập tam thiên và các nơi khác
để lấy thừc ăn cho ḿnh và chia cho các vị
khác”.
Trước hết, Đề-bà nghĩ giáo
hóa chủ nước Ma-yết-đà. Người này
nhận sự giáo hóa rồi, th́ không mấy khó khăn
để nhiếp phục nhiều người.
Đề-bà lại nghĩ: “Thái tử Vị Sanh Oán này, sau
khi vua qua đời, sẽ làm quốc vương, có
quyền hạn to lớn trong tại vị của ḿnh, nay
ta nên giáo hóa người này trước và từ đó
nhiều người theo ta không phải là điều khó
khăn”. Thế là, Đề-bà-đạt-đa liền
hóa làm thân voi thượng diệu, từ cửa sau của
thái tử oai vệ ung dung đi vào, từ cửa lớn
trước đi ra, từ cửa lớn trước
đi vào, từ cửa sau đi ra. Hoặc hóa đang cỡi
ngựa, từ các cửa như trên ra vào. Hoặc làm Bí-sô,
cạo bỏ râu tóc, mặc y Tăng-già-chi, bưng bát
nơi tay, từ các cửa như trước ra vào.
Khi ấy, thái tử Vị Sanh Oán nghĩ
như thế này: “Mọi việc kia đều do
Đề-bà-đạt-đa hiện thần thông biến
hóa”. Ngay lúc ấy, Đề-bà-đạt-đa liền
biến thân làm một nhi đồng, trang sức bằng
chuỗi anh lạc rực rỡ bước đến ôm
lấy thái tử một cách uyển chuyển nũng
nịu, thái tử ̣a lên ôm choàng giữ lấy đồng
tử hôn to, nhân đó nước miếng thái tử
chảy vào trong miệng đồng tử. Do Đề-bà-đạt-đa
tham cầu lợi dưỡng, tâm bị chẹn dính vào
đó nên nuốt ngay nước miếng của thái
tử. C̣n thái tử nhân đó phát khởi tâm ác tà, nghĩ
như vầy: “Kỳ lạ thay
Đề-bà-đạt-đa! So với đức Phật
Đại sư, đức của Đề-bà thù
thắng hơn”, nên chuyển tâm kính tín Đề-bà sâu rộng.
Thái tử mong muốn đích thân cúng dường
Đề-bà.
Từ đó, hằng ngày
sớm chiều hai lần, mỗi lần dùng năm
trăm xe báu đến Đề-bà kính lễ. Mỗi
bữa ăn, dâng cúng năm trăm chỗ thức ăn
thượng diệu. Lúc ấy,
Đề-bà-đạt-đa là thượng thủ và
năm trăm Bí-sô thọ món cúng dường này. Bấy
giờ, có nhiều chúng Bí-sô buổi sáng vào thành
Vương-xá tuần tự đi khất thực, nghe
Đề-bà tự thọ thắng diệu cúng
dường của thái tử Vị Sanh Oán, mỗi ngày hai
lần mai và chiều dùng năm trăm xe báu đến
chỗ Đề-bà-đạt-đa kính lễ, mỗi
bữa ăn dùng năm trăm chỗ thức ăn
thượng diệu cúng dường. Đề-bà là
thượng thủ và năm trăm Bí-sô thọ món cúng
dường này. Nghe sự việc như vậy rồi,
các chúng Bí-sô trở về bổn xứ, ăn cơm xong
rửa bát rửa tay chân, đến chỗ Đức
Thế Tôn kính lễ chân Phật, ngồi qua một bên
bạch Phật:
- Kính bạch Đức Thế Tôn, sáng nay
chúng con vào thành khất thực nghe Đề-bà và năm
trăm Bí-sô thọ thức ăn như vậy...
Đức Thế Tôn nghe xong bảo các
Bí-sô:
- Các ông không nên ưa thích việc
Đề-bà-đạt-đa thọ thức ăn
thượng diệu như vậy, tại sao ?
Đề-bà-đạt-đa chính v́ món cúng dường
như vậy, nó sẽ giết chết ông ta, như cây
chuối có buồng, như cây trúc vĩ có trái, như con loa
mang thai đều bị tự thân nó hại lấy nó.
Đề-bà-đạt-đa cũng lại như vậy,
nhận sự cúng dường của người ắt
tự hại ḿnh.
- Này các Bí-sô! Nếu khi
Đề-bà-đạt-đa được sự lợi
dưỡng th́ đây là người ngu bị rơi vào
tối tăm triền miên nhận điều không lợi
ích dẫn đến khổ năo mà thôi. V́ thế, các Bí-sô
chớ nên mong cầu sự vang danh và lợi dưỡng
như vậy. Giả sử có nhận được, tâm
đừng sanh tham trước.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nói
kệ:
Cây
chuối nếu kết buồng
Trúc
vĩ lại sanh trái
Khi
con loa ôm thai
Là
lúc chúng tự hại
Lợi
dưỡng và vang danh
Người
ngu mới ưa thích
V́
nó phá pháp lành
Như
kiếm chặt đầu người
Khi
ấy, các Bí-sô nghe đức Phật dạy xong, phụng
tŕ cáo lui.
Lúc bấy giờ,
Đề-bà-đạt-đa được sự cung kính
cúng dường như vậy liền phát khởi niệm
tà ác: “Đức Thế Tôn nay đă già nua lụm cụm mà
v́ bốn chúng Bí-sô, Bí-sô-ni, Ô-ba-sách-ca, Ô-ba-tư-ca giáo
thọ nhọc nhằn mỏi mệt, nay có thể giao phó
Đại chúng cho ta, ta sẽ giáo thọ, ta sẽ chịu
trách nhiệm. Đức Thế Tôn nên nghĩ ngơi tư
duy tịnh lự, vui nhận lấy hiện pháp sống
trong sự tịch tịnh”. Đề-bà-đạt-đa
vừa sanh ác niệm như vậy th́ thần thông liền
mất. Thần túc tuy mất xong không tự biết.
Lúc bấy giờ, có một Bí-sô đệ
tử của đức Phật tên là Ca-câu-đà, từng
ở bên Phật khéo tu tịnh hạnh, học bốn
phạm trụ, đối dục trừ dục, tụ
tập tiếp nối tụ tập. Sau khi mạng chung
sanh nơi Phạm cung. Bấy giờ, Cụ thọ
Đại Mục-liên ở tại núi Giang Đồn, trú
trong rừng Khủng-úy. Ca-câu-đà dùng thiên nhăn quán thấy
Đề-bà-đạt-đa bị mất dần thần
thông, bằng phương tiện nhanh nhất như
sự co duỗi của cánh tay tráng sĩ, từ Phạm
cung đến rừng Khủng Úy, đến chỗ
Cụ thọ Đại Mục-liên, lễ sát chân rồi,
thưa:
- Đại đức biết chăng:
Đề-bà-đạt-đa do tham lợi dưỡng ràng
buộc nơi tâm, khởi niệm tà ác như thế.
Đề-bà đă đến bạch với Phật
rằng: “Thế Tôn nay tuổi đă cao, lăo suy mà c̣n v́ các
đệ tử bốn chúng: Bí-sô, Bí-sô-ni, Ô- ba-sách-ca,
Ô-ba-tư-ca để lao nhọc giáo thọ họ, nay
Thế Tôn có thể giao Đại chúng cho ta, ta sẽ giáo
thọ, ta sẽ nắm lấy trách nhiệm. Thế Tôn
càng ít đi sự ứng phó để nghỉ ngơi
tư duy tịnh lự mà vui với hiện pháp mà sống
trong tịch tịnh”.
Khi vừa sanh ư nghĩ tà ác này th́ thần
thông của Đề-bà liền mất. Lành thay!
Đại đức Mục-liên, nên đến chỗ
Phật mà tŕnh bày sự việc này.
- Đại Mục-liên im lặng: Hứa
khả lời đề nghị!
Khi ấy Ca-câu-đà Phạm Thiên biết
đề nghị của ḿnh được Đại
Mục-liên hứa khả rồi, liền ẩn đi không
hiện ra nữa. Sau đó, Đại Mục-liên nhập
thắng định, chỉ trong chớp nhoáng từ
rừng Khủng-úy đến nơi Trúc Lâm, chỗ Thế
Tôn đang trú lễ chân Phật rồi ngồi qua một
bên, tŕnh bày đầy đủ như lời Phạm Thiên
đă đề nghị. Đức Thế Tôn bảo Ngài
Mục-liên:
- Trước khi Phạm Thiên đến
nói, ông không biết Đề-bà-đạt-đa có sanh tâm
tà ác hay sao?
Mục-liên thưa:
- Bạch Phật! con đă biết
trước khi Phạm Thiên đến nói. Thời gian sau
đó, đức Thế Tôn và Đại Mục-liên nói qua
các vấn đề khác.
Khi ấy, Đề-bà-đạt-đa cùng
với bốn người bạn: một là Cô-ca-lư-ca, hai
là Kiên-đề-đạt-phiếu, ba là
Yết-tra-mô-lạc-ca-để-sái, bốn là
Tam-một-đạt-la-đạt-đa cùng đến
chỗ đức Phật. Khi đến, c̣n từ xa
đức Thế Tôn thấy
Đề-bà-đạt-đa, bảo với Đại
Mục-liên rằng:
- Ông nên khéo hộ lời nói, Thiên Thọ
đưa người đến. Đó là người thân
thuộc ngu si, đến trước Ta để khoe cái
vĩ đại của họ.
Khi ấy, Đại Mục-liên lễ
đức Phật rồi vào định. Nhanh như
sự co duỗi của cánh tay tráng sĩ, Mục-liên
về đến rừng Khủng-úy. Khi vào đến,
Thiên Thọ Đề-bà đến lễ chân Phật
rồi đứng qua một bên, Thiên Thọ thưa:
- Thế Tôn nay đă già yếu mà c̣n v́
bốn chúng: Bí-sô, Bí-sô-ni, Ô-ba-sách-ca, Ô-ba-tư-ca lao khổ
hướng dẫn truyền thụ cho họ. Công việc
này, nay Thế Tôn có thể giao phó Đại chúng cho con, con
xin nhận trách nhiệm này để con giáo thụ họ.
Thế Tôn nên dành nhiều thời giờ nghỉ ngơi
để tư duy, tịnh lự sống an lạc trong
hiện pháp trụ trong tịch tịnh.
Thế Tôn bảo rằng:
- Ông là người ngu, như
Xá-lợi-tử, Đại Mục-kiền-liên ta c̣n không
phó chúc Bí-sô, Tăng-già cho họ huống nữa ông là
kẻ ngu si ăn nuốt đàm dăi mà ta đem chúng Tăng
giao phó cho ông.
Thiên Thọ nghe xong, liền khởi ư
nghĩ: “Thế Tôn khen ngợi Xá-lợi-tử, Đại
Mục-liên, gọi ta là kẻ si cuồng, cái thây chết,
kẻ ngu ăn đồ nhơ...” Đây là lần ban
đầu Thiên Thọ đối với đức
Phật khởi tâm sát hại, khởi ư bất nhẫn. Ta
đây là Đề-bà-đạt-đa, chào Phật bằng
ba cái gật đầu kiêu ngạo rồi bỏ đi. Lúc
ấy, Cụ thọ A-nan-đà đứng sau đức
Phật, cầm quạt quạt hầu Phật.
Bấy giờ, đức Thế Tôn
biết Thiên Thọ đi rồi bảo A-nan-đà
rằng:
- Nay ông đến ao
Yết-lan-đạc-ca, gần rừng Trúc, nơi nào có
Bí-sô đều bảo tập hợp tại nhà quá
đường.
Cụ thọ A-nan-đà vâng lời Phật
dạy đi ngay đến trong rừng Trúc, từ xa
đến gần, chỗ nào có Bí-sô đều bảo
họ tập hợp tại nhà quá đường. Sau
đó, đến chỗ Thế Tôn bạch Phật
rằng:
- Kính bạch đức Thế Tôn, xung quanh
rừng Trúc nơi nào có Bí-sô, con đă thông báo đầy
đủ lời của Thế Tôn dạy, cúi xin Ngài tri
thời.
CĂN
BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ
TỲ-NẠI-DA
QUYỂN 14 -
(hết).