CĂN
BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ
TỲ-NẠI-DA
QUYỂN
13
TAM
TẠNG PHÁP SƯ NGHĨA TỊNH PHỤNG CHẾ DỊCH
Học xứ thứ
tám: Hủy báng không có căn cứ.
Lúc bấy giờ, Bạc-già-phạm ở
thành Vương-xá, ao Yết-lan-đạc-ca, trong
vườn Trúc Lâm. Lúc ấy, trong nước Ba-ba có
một tráng sĩ Đại thần tên là Thắng Quân,
rất giàu, nhiều của, thọ dụng phong phú. Tài
sản có được nhiều như Tỳ-sa-môn
vương. Tuy chẳng phải là ḍng vua, xong lúc bấy
giờ, các tráng sĩ làm pháp Quán đảnh, suy tôn lên ngôi
vua. Con gái ḍng Thắng tộc được chọn làm
vợ, cuộc sống đầy hoan lạc. Họ
sống khắn khít như vậy khá lâu nhưng vẫn
không có con dù nam hay nữ. V́ mục đích cầu con nên cúng
cấp cầu xin thần kỳ và đi khắp thiên
miếu, chỗ thờ trời, khấn vái, hy vọng
sẽ có người kế tự nhưng không toại
nguyện. V́ thế, người đời cho rằng do
việc cầu con theo kiểu cách như vậy không
được là phải bởi điều này đă
trở thành hư vọng. Nếu đây là điều có
thật th́ mỗi người trên thế gian này
đều có ngàn người con như Chuyển luân
vương. Sự thật do ba việc, mới có sanh con:
Một là do cha mẹ giao hội. Hai là thân mẹ đúng chu
kỳ giao hiệp mới có thể thọ thai. Ba là sự
hiện diện của thức ấm.
Với nhà vua kia, khi các
nghiệp duyên trên hội đủ để hiệp th́ có
một thần thức của cơi trời thắng diệu
thác vào thai uẩn vợ vua. Đây là sự tái sanh sau cùng
của vị trời để vui tu thắng hạnh, có
tánh giải thoát, nhằm đến Niết-bàn, nhàm chán sanh
tử đối với trong các hữu đều không cho
đó là vui thích.
Nếu là người nữ th́ thông minh
mẫn tuệ có năm biệt trí (rộng nói như
trước) cho đến câu: Thai nằm phía bên hông
hữu. Người vợ vui mừng tâu với vua:
- Đại vương biết chăng:
Thiếp đă mang thai, điều này chắc làm quan
hiển tôn tộc. Thai hiện nằm bên hông mặt,
đây là con trai không c̣n nghi ngờ.
Khi nghe vợ báo như thế, nhà vua
rất đổi vui mừng hân hoan nói như thế này:
- Từ lâu, tôi luôn nghĩ đến
vấn đề thừa kế, nối hồng phúc
của tổ tiên tôi, suốt đời tôi canh cánh trong ḷng
sự báo đền tổ phụ, rộng ḷng làm việc
huệ thí những mong phước lợi cho tôn thân. Mai kia
tôi không c̣n nhưng hậu thế vẫn nhắc nhở
đến tên tôi với sự khâm phục tán dương
và cũng v́ tôi mà chú nguyện, nguyện cầu cho cha
mẹ tôi sanh vào cơi nào cũng được trang nghiêm
phước đức.
Bấy giờ, nhà vua bố trí cho vợ
ở nơi cao lầu, sống thoải mái theo ư muốn.
Theo thời tiết, tùy sở thích mà cung cấp nhu cầu
vật chất cũng như tinh thần, có nữ bác
sĩ theo dơi thuốc men cũng như thức ăn
uống, nóng, lạnh được điều ḥa, đủ
các mùi thơm tỏa nhẹ, trang sức bằng những
châu anh kỳ diệu, giống như một thiên thể
nữ đi dạo trong vườn hoan hỷ. Hết
nằm lại ngồi trên giường đẹp ghế
sang chân không hề chạm đất, mắt không xem màu
sắc xấu, tai không nghe tiếng bất hảo.
Thời gian trôi qua, đến ngày măn
nguyệt khai hoa, hoàng hậu sanh một hài nhi, dung nhan
tuyệt vời, đặc sắc, không một ai là không
cảm t́nh yêu mến. Trán rộng, mi dài, mũi cao, sóng
thẳng đảnh tṛn như cái bảo cái, sắc thân
đẹp như vàng, tay dài quá gối, mọi người
đều vui mừng khen ngợi. Đủ ba tuần
mở đại hội tôn thân. Người cha bồng hài
nhi ra mắt với thân tộc rồi hỏi:
- Hài nhi này nên đặt tên là ǵ ?
Từ lúc sinh ra cháu đă tự nhiên
tịnh khiết, chưa bồng cháu ra khỏi
giường nệm là không chịu tiện lợi.
Thân tộc bàn thảo rằng:
- Theo phép trong nước, nếu bẩm
tánh tự nhiên sạch sẽ trong trắng như vậy
th́ gọi đó là thật. Đồng tử này bẩm
tánh thanh tịnh, chưa bồng khỏi giường
nệm không làm việc tiện lợi, tịnh sạch
hơn người bèn thành thật vật, lại là con
của Trang lực đại Vương, vậy nên
đặt là “Thật Lực Tử”
Ngày, Thật Lực Tử sanh đồng
thời có năm trăm tráng sĩ, mỗi người
đều sanh con trai và theo gia tộc mà đặt tên. Khi
ấy, vua Thắng Quân trao thái tử cho tám bà mẹ
để nuôi nấng. Hai bà lo vấn đề bú sữa,
hai bà lo chuyên tả ấm, hai bà lo chuyện tắm rửa,
hai bà lo chuyện vui chơi. Nuôi dưỡng bằng
sữa tươi, sữa chín, đề hồ, thạch
mật. Do vậy, hài nhi chóng lớn như hoa sen lên
khỏi nước. Có một thầy coi tướng, khi
thấy hài nhi được bồng trong ḷng mẹ, dung
mạo dị thường, ông ta liền có được
ư nghĩ: “Hài nhi này đủ hai phước điền,
ai cũng sẵn ḷng cúng dường cho đứa trẻ
này và người cúng dường sẽ thu hoạch
được công đức thù thắng lợi lạc”.
Nghĩ như vậy rồi, liền nói với nhũ
mẫu:
- Hân hạnh thay, ḷng từ bi! Xin cho tôi
được bồng. Với tất cả tấm ḷng,
tôi muốn được cung phụng hài nhi, trong một
thời gian ngắn.
Nhũ mẫu trả lời:
- Đối với hài nhi, quả thật tôi
không được phép như vậy. Nếu muốn
được như vậy th́ ông có thể tâu cho vua
biết.
Ngay lúc ấy, thầy xem tướng
đến nhà vua, tâu:
- Thánh tử của vua phước
điền lớn lắm không ai b́ kịp. Ai thấy
cũng đều sẵn ḷng cúng dường và
người cúng dường sẽ thu hoạch được
công đức thù thắng lợi lạc. Hân hạnh thay!
Xin được bồng hài nhi để tôi cúng
dường muôn một.
Nhà vua phán rằng:
- Được tôi chấp nhận theo ư
ông.
Thầy tướng bèn
bồng hài nhi về nhà, trước hết tắm
rửa, sau đó thoa hương thơm, dùng y thượng
hạng bọc lấy tấm thân, dùng cháo bằng sữa
mật đựng trong đồ quư báu, đem dâng cho hài
nhi. Cúng dường xong, bèn bồng lại cho nhà vua.
Lúc bấy giờ, đồng tử
dần dần khôn lớn, được giáo dục
đầy đủ thư, toán, thủ ấn, kỹ
nghệ... Hài nhi đồng tử đều thông suốt
tiếp thu. Tất cả pháp của ḍng họ
Sát-đế-lợi vương cũng đều
được học tập, như cách cỡi ngựa,
voi, xe, binh khí, can qua... Nghi thức bắn cung tay chân
đạt đến kỹ xảo, không một thứ ǵ
không thông giải. C̣n đối với năm trăm
đồng tử cùng sanh một ngày, cũng
được dạy kỹ nghệ như vậy,
tất cả đều thông đạt.
Lúc bấy giờ, cha của Thật
Lực Tử xây cất ba cung điện, thiết lập
ba huê viên, để Thật Lực Tử vui sống ba mùa
xuân, hạ, đông. Có ba loại thể nữ,
thượng, trung, hạ giúp vui. Sau mỗi lần học
tập, Thật Lực Tử được lên một
chỗ trên cao lầu, các kỹ nữ được
đưa đến làm vui thư giăn cho thái tử ngày ba
lần, năm trăm đồng tử thường
đến tụ họp vui chơi. Một hôm nọ,
năm trăm đồng tử rủ nhau dă ngoại,
săn bắn, suốt ngày không thu hoạch được
chi, ở luôn trong rừng, sáng ngày đi tiếp. Hôm nay, thu
hoạch được nhiều, nên đến chiều
tối mới trở về. Các đồng tử bảo
với nhau rằng:
- Ngày đă hết không thể đến
tụ hội được. Hẹn sáng sớm mai chúng ta
cùng đến gặp thái tử.
Sau ba ngày mới gặp gỡ lại thái
tử bảo ngay với năm trăm bạn đồng
sanh rằng:
- Các bạn cùng tôi, đồng sanh một
ngày, thường cùng vui chơi, tại sao hôm nay ngày
thứ ba mới đến ?
- Chúng tôi bận đi săn bắn, năm
trăm đồng tử trả lời.
Thái tử ngạc nhiên
hỏi:
-
Săn bắn là thế nào ?
Năm trăm đồng tử giải
thích:
- Săn bắn là dùng dụng cụ...
giết nhiều con nai...
Thái tử hỏi:
- Những con ấy ăn thứ ǵ,
uống thứ ǵ ?
Các đồng tử đáp:
- Chúng nó ăn cỏ, uống nước.
Thái tử hỏi lại:
- Ăn cỏ, uống nước, như
vậy nó đâu có làm tổn hại ǵ đến
người mà ta giết nó ?
Các đồng tử đáp:
- Khi chúng ta giết được nó, tâm
chúng ta vui thú.
Thái tử bảo:
- Các bạn không nên vui thú trên nỗi đau
khổ của kẻ khác !
Năm trăm bạn đồng sanh
nghị bàn:
- Do thái tử không đi săn bắn nên
mới cơ hiềm với việc làm của chúng ta. Chúng
ta nên tạo điều kiện cho thái tử đi săn
bắn với chúng ta.
Sau đó, các đồng tử cùng
đến Đại vương, tâu:
- Thái tử của Đại vương
sanh trong cung cấm, lớn lên trong cung cấm, nếu kẻ địch
của nước, một khi họ đến, ắt thái
tử dễ bị khủng bố, lo sợ. Tại sao
Đại vương không cho thái tử đi săn
bắn, thường đi săn bắn tâm trở nên
dũng kiện. Do vậy, khi phải cùng với kẻ
địch của nước chiến đấu th́ không
hề khiếp sợ.
Vua Thắng Quân nghe lời nghị bàn xong,
bảo Thật Lực Tử:
- Con nay thử học cách đi săn
bắn.
Thái tử thưa:
- Tâu phụ vương ! Con không thích thú môn
học như thế.
Vua cha bảo:
- Con là ḍng Sát-đế-lợi cần
phải học cách sử dụng binh khí.
Bấy giờ, thái tử không dám trái
lệnh phụ vương thuận ư cùng đi săn
bắn với mọi người bạn, năm trăm
bạn đồng sanh cùng nhau bàn, nói:
- Sau khi phụ vương băng hà, thái
tử sẽ làm vua, nay chúng ta tận t́nh giúp đỡ, có
thể sau này thái tử sẽ ban bổng lộc ngôi vị
cho chúng ta. Sau đó họ nói với thái tử:
- Thái tử đứng chỗ này, chúng tôi
sẽ đuổi bầy nai đến đây...
Thế rồi, họ lập tức khoanh
vùng, hợp đồng bao vây chỗ có nai. Khi họ
đuổi dồn bầy nai, thái tử từ xa, thấy
bầy nai chạy hốt hoảng, bị tên bắn trúng,
há miệng vừa chạy vừa thở, bèn khởi ư
nghĩ: “Giả sử có người tâm không từ
mẫn, không sợ đời sau, c̣n không thể khởi
tâm độc ác như thế này, huống chi phải gây
thêm sự phanh thây xác hại!”
Cách khu vực này không xa có người
giữ vườn. Thái tử v́ muốn bảo hộ
hữu t́nh kia liền từ xa bắn ba mũi tên vào
bầy nai, tên bây vào giữa kẽ hở hai bắp vế
hoặc xuyên sát sừng nai rồi cắm phập xuống
đất không gây tổn thương con nào. Các loài
hươu nai chạy dồn đến khu vườn có
người trông nom kia. Tất cả đều
được giải phóng mặc cho chúng chạy đi
đâu th́ chạy.
Khi ấy, đám đông quy tụ lại
cùng có ư nghĩ: “Thái tử lâu nay tập bắn cung rất
giỏi, hôm nay nhất định phải giết
nhiều hươu nai và c̣n nh́n thấy rơ như thế,
ấy vậy mà chẳng giết được con mén nào
cả”. Họ lại suy nghĩ: “Nên gặp thái tử rồi
bảo thái tử lên xe chở thái tử về
trước”. Khi đến gặp các người bạn
hỏi thái tử:
- Giết được hươu, nai
giờ thái tử để ở đâu rồi ?
Thái tử bảo rằng:
- Mănh thú kinh hăi chạy bán mạng bèn
giẫm đạp muốn giết tôi!
Người giữ vườn kia bảo
với tập đoàn săn thú rằng:
- Các anh v́ lư do ǵ để sót mà không sát
hại lại khiến người ta phải bắt
giữ nó ? Đương nhiên, muốn sát hại hết
lũ thú này không thể sót con nào th́ người trực
tiếp để làm được như vậy,
phải c̣n từ xa khi thấy mănh thú bị bức hại
có nhiệm vụ để cho chúng nó chạy thoát hết.
Tập đoàn kia nghe thế, tất cả
đều cơ hiềm:
- Ta nai lưng cực khổ, thân thể
bị thương tổn để đuổi dồn
bầy nai lại, cớ sao lại phân tán giải thoát chúng
? Ta nên sát hại quách xong họ lại bàn thảo: “Nếu
hại thái tử th́ vua nước Ba-ba chắc chắn
sẽ giết chúng ta chi bằng bỏ mặc thái tử
lại đây, ta đi về”.
Lúc bấy giờ, thái tử liền
nghĩ: “Những người này tung đất bụi
để cùng vui.V́ ta không giết được nai mà
bỏ ta nơi rừng hoang. Sau này nếu ta làm vua,
đối với những người này họ hành động
rất bất lợi”. Thái tử nghĩ như vậy
rồi, từ từ trở về thành. Về đến
cung điện của vua cha rồi, thái tử chống tay
nơi má buồn bả, cuộc sống đầy suy
tư.
Lúc ấy, người trong cung đến
với thái tử, thái tử ngơ đi không buồn ngó.
Nh́n thấy cảnh này, người trong nội đến
tâu với vua:
- Đại vương nên biết: Thái
tử thấy chúng tôi, mắt ngoảnh nh́n đi nơi
khác. Chống tay nơi má buồn bả, sống với
sự suy tư.
Nhà vua nghe thế, liền đích thân
đến hỏi:
- Hôm nay, tại sao con có vẻ ưu sầu
không vui sống ?
- Tâu phụ vương: Phụ vương
khiến con làm việc săn bắn, điều này đă
làm con không được vui là vậy!
Nhà vua bảo:
- Tại sao việc săn bắn, con
lại không ưa thích?
Thái tử thưa:
- Thật sự việc làm ấy con không
ưa thích chút nào.
Vua cha đáp:
- Như vậy, từ nay con đừng
đi săn bắn nữa.
Khi ấy, Thật Lực Tử bèn khởi
ư nghĩ: “Ở thế tục nhiều hoạn nạn,
lắm việc khổ bức bách, thường bị
phiền năo gông cùm kéo dắt, xuất gia nhàn tịch,
suốt đời không thể có những việc tội
lỗi rắc rối như thế, viên măn phạm
hạnh. Ta nay nên đem ḷng chánh tín, xa ĺa trần tục,
từ bỏ nhà cửa, đến nơi chẳng phải
nhà”.
Lúc bấy giờ, nước Ba-ba có
ngoại đạo Lục sư ở cách Vương thành
không xa, đó là: Bô-thích-noa-ca-nhiếp-ba-tử.
Mạc-tắc-yết-lợi-cù-xá-lê-tử,
San-thệ-di-tỳ-thích-tri-tử,
A-thị-đa-kê-xá-cam-bạt-la-tử,
Khước-câu-đà-ca-đa-diễn-na-tử,
Ni-kiện-đà-thận-nhă-đê-tử. v.v... Họ
chẳng phải nhất thiết trí, kiêu mạn cho là
nhất thiết trí khiến cho mọi người khát
ngưỡng quy kính. Thế rồi, Thật Lực Tử
đến với Lục sư ngoại đạo ấy,
thưa với Bô-thích-noa-ca-nhiếp-ba-tử rằng:
- Pháp lư tôn kính của Ngài là ǵ ? Đối
với các đệ tử, Ngài dạy họ những ǵ ?
Siêng tu phạm hạnh sẽ được quả ǵ ?
Vị thầy trong Lục sư trả
lời:
- Sở tôn của tôi là làm như vậy là
thấy, làm như vậy là nói. Không có kẻ cho, không có
người nhận, cũng không có vấn đề cúng
tế. Không có việc làm thiện ác, không có nghiệp
nhơn duyên, không có quả dị thục. Không có
đời này, không có đời sau. Không có cha, không có
mẹ. Cũng không có hữu t́nh hóa sanh ở trong thế
gian này. Không có A-la-hán, chánh thú, chánh hạnh. Đời này,
đời khác, đối với hiện pháp, đắc
tự giác ngộ. Chính ḿnh chứng viên măn, thảy
đều rơ biết. Ngă sanh đă hết, phạm hạnh
đă lập, việc cần đă làm, không nhận thân sau.
Việc này đều không, đối với việc này có
mạng gọi đó là sanh. Thân này măn rồi, năm
đại phân ly, lại không sanh lư gọi đó là
chết. Đất trở về đất, nước
trở về nước, lửa trở về lửa, gió
trở về gió, các căn về không, bốn người
khiêng đến chỗ thiêu đốt, dùng lửa
đốt rồi, chỉ c̣n một mớ xương tàn,
không c̣n chỗ để biết. Kẻ ngu, người
trí đồng như vậy. Người trao cho gọi là
thí, kẻ lấy gọi là nhận, các học thuyết
gọi là có, thảy đều hư vọng.
Khi ấy, Thật Lực Tử nghe nói
như vậy rồi bèn khởi lên ư nghĩ như sau:
“Đại sư này trái ngược với
đường chánh, làm theo đường tà. Giống
như con đường nguy hiểm chính đây là
điều đáng sợ sệt. Kẻ trí nên bỏ, không
nên tu tập”.
Thật Lực Tử nói kệ:
Ác huệ nói ác pháp
Thật ngu xưng
Đại sư
Pháp này dẫn làm
thật
Sao không gọi phi pháp?!
Thật Lực Tử nói kệ rồi
gọi đó là: Đánh vào vật trống rỗng, bèn
bỏ đi.
Thật Lực Tử lại đến
chỗ Mạc-tắc-yết-lợi-cù-xá-lợi-tử,
hỏi:
- Pháp lư tôn kính của ngài là ǵ ? Đối
với đệ tử Ngài dạy họ những ǵ? Siêng
năng tu phạm hạnh sẽ được quả ǵ ?
Vị thầy này trả lời:
- Thái tử, Sở tôn của tôi là làm
như vậy là thấy làm như thế là nói. Tất
cả hữu t́nh không nhơn, không duyên mà có phiền năo.
Tất cả hữu t́nh không nhơn, không duyên mà bị
phiền năo bức bách. Tất cả hữu t́nh không
nhơn, không duyên mà có thanh tịnh. Tất cả hữu
t́nh không nhơn, không duyên mà đắc thanh tịnh. Tất
cả hữu t́nh không nhơn, không duyên mà có vô tri. Tất
cả hữu t́nh không nhơn,
không duyên rơ không biết việc ǵ. Tất cả hữu
t́nh không có sức lực không có siêng năng, không có dũng
mănh, không có tấn tới, không có ḿnh không có người.
Tất cả hữu t́nh những người có mạng
không có oai thế, đối với lục sanh
thường thọ khổ lạc, qua khỏi nơi cơi
đây bèn không.
Thật Lực Tử khi nghe rồi,
khởi lên ư nghĩ: “Đại sư này trái với
đường chánh làm theo đường tà. Đây là con
đường nguy hiểm, nên sợ sệt. Người
trí nên bỏ, không cần tu tập”.
Thật Lực Tử nói kệ:
Ác huệ nói pháp
Thật ngu xưng
Đại sư
Pháp này dẫn làm
thật
Sao không gọi phi pháp ?!
Thật Lực Tử nói kệ xong, gọi
đó là: Đánh vào vật trống không, chỉ có cái
tiếng trống không bèn bỏ đi.
Thật Lực Tử lại đến
chỗ San-thệ-di-tỳ-thích-tri-tử, hỏi:
- Pháp lư tôn kính của ngài là ǵ ? Đối
với các đệ tử, Ngài dạy họ những ǵ ?
Siêng tu phạm hạnh sẽ được quả ǵ ?
Vị sư này trả lời:
- Thái tử, sở tôn của tôi là làm
như thế, làm như thế là nói. Nếu tự sát,
dạy người sát, tự chặt dạy người
chặt, tự nấu dạy người nấu, tự
trộm, tà hạnh, vọng ngữ, uống rượu và
dạy người làm giết, chặt...khoét vách, mở
khóa, cầm nắm sát cụ giết hại các loài,
đối với trên đại địa, có sự
sống của loài hữu t́nh thảy đầu bị sát
phạt, khiến cho mạng của họ bị chấm
dứt, thịt gom thành đống. Phía nam sông Kinh-già làm
điều ác này, phía bắc sông Kinh-già lập các hội
phước lớn. Không do nơi đây mà có cái nhơn
tội phước để chiêu lấy cái quả báo
tội phước. Lại nữa, không do việc bố
thí, tŕ giới, thiểu dục, tri túc mà đặng
quả về sau.
Thật Lực Tử nghe như vậy
rồi liền khởi ư nghĩ: “Đại sư này, trái
với đường chánh, làm theo đường tà.
Đây là đường nguy hiểm có nhiều sự
sợ sệt, kẻ trí ĺa bỏ không cần tu tập”.
Thật Lực Tử nói kệ:
Ác huệ nói ác pháp
Thật ngu xưng
Đại sư
Pháp này dẫn làm
thật
Sao không gọi phi pháp?!
Thật Lực nói kệ xong, gọi đó
là: Đánh vào vật trống rỗng chỉ có tiếng
trống rỗng, bèn bỏ đi.
Thật Lực Tử đến chỗ
A-thị-đa-kê-xá-cam-bạt-la, hỏi:
- Pháp ư tôn kính của Ngài là ǵ ? Đối
với các đệ tử, Ngài dạy họ những ǵ ?
Siêng tu phạm hạnh sẽ được quả ǵ ?
Vị sư này trả lời:
- Thái tử, Sở tôn của tôi là làm
như thế là thấy, làm như thế là nói. Bảy
việc này thân vô năng tác vô sở tác, vô năng biến
hóa, vô sở biến hóa, không thể tổn hại, thể
của nó c̣n măi.
Bảy việc đó là ǵ ?
- Địa thân, thủy thân, hỏa thân,
phong thân, khổ thân, lạc thân và mạng thân. Tụ
lại một chỗ như bó lau, vận động
chuyển biến hổ tương không hề gây năo cho
nhau; tội phước khổ vui cũng không tương
can nhau. Giả sử có người chặt đứt
đầu người này th́ đầu người kia
không thống khổ. Lổ hỏng trong thân người
kia đao kiếm có xuyên qua cũng không tổn đến
tánh mạng họ. Đây thật không có năng sát, sở
sát, năng vấn, sở vấn, năng ức, sở
ức.
Trong bốn phương có một vạn
bốn ngàn môn duyên sanh sản. Lại có sáu vạn, sáu ngàn
cho đến năm, ba, hai, một, nửa nghiệp sai
khác. Lại có sáu mươi hai hạnh, sáu mươi hai
trung kiếp, hai ngàn địa ngục, ba ngàn các căn, ba
mươi sáu tinh khí, bốn vạn chín ngàn tộc họ
rồng, bốn vạn chín ngàn tộc họ Diệu sí
điểu, bốn vạn chín ngàn chủng tộc
ngoại đạo ăn xương, đảnh
đầu người, bốn vạn chín ngàn chủng
tộc ngoại đạo lộ h́nh, bốn vạn chín
ngàn chủng tộc ngoại đạo tà mạng. Có
bảy loại tướng, bảy loại A-tô-la, bảy
loại Tất-xá-giá, bảy loài trời, bảy loài
người, có bảy trăm bảy ao, có bảy trăm
bảy mộng, có bảy trăm bảy bờ, có bảy
trăm bảy ngọn núi, bảy loài Thắng sanh,
mười loại tăng trưởng, tám đại nhân
địa. Như vậy trải qua tám vạn bốn ngàn
đại kiếp, chỗ họ hiện hữu
đều hết khổ. Thí như có người lấy
sợi tơ quấn lại ném vào hư không, cuộng
tơ rơi xuống đất ngay. Kẻ trí,
người ngu như vậy trải qua tám vạn bốn
ngàn đại kiếp trong luân hồi lại
được hết khổ đau.
Ở trong thế gian này thật không có
Sa-môn, Bà-la-môn có thể nói
điều này: Ta chế giới cấm khiền các
đệ tử siêng năng để tiết chế
khổ, kiên tŕ tu phạm hạnh, cái nghiệp chưa
thuần thục có thể khiến cho nó thuần thục,
nghiệp đă thuần thục th́ có thể bỏ các ác
cho đến các ngằn mé của sự khổ, quyết
chắc có thể đoạn hết khổ vui các cơi. Nói
đến kiếp tăng, kiếp giảm, th́ việc
đó đều không, xong ắt phải lưu chuyển
sanh tử.
Bấy giờ Thật-lực-tử nghe
lời này rồi liền nghĩ: “Đại sư này
lại trái với đường chánh làm theo
đường tà. Đây là con đường nguy hiểm
có nhiều sợ sệt, kẻ trí nên bỏ không cần tu
tập”.
Thật Lực Tử nói kệ:
Ác huệ nói ác pháp
Thật ngu xưng đại sư
Pháp này dẫn làm thật
Sao không gọi phi pháp?!
Thật Lực Tử nói kệ xong, gọi
đó là: Đánh vào vật trống rỗng chỉ có
tiếng trống rỗng, bèn bỏ đi.
Thật Lực Tử lại đến
chỗ Khước-câu-đà-ca-đa-diễn-na-tử,
hỏi:
- Pháp lư tôn kính của Ngài là ǵ ? Đối
với các đệ tử, Ngài dạy họ những ǵ ?
Siêng tu phạm hạnh sẽ được quả ǵ ?
Vị sư này trả lời:
- Thái tử sở tôn của tôi là làm như
thế là thấy, làm như thế là nói. Nếu có
người đến tôi, hỏi: Có đời sau
chăng ?
- Tôi bảo rằng: Có.
Không có đời sau chăng ?
- Tôi bảo rằng: Không có.
Cũng có cũng không đời sau chăng
?
- Tôi bảo: Cũng có cũng không.
Chẳng phải có chẳng phải không
đời sau chăng ?
- Tôi đáp: Chẳng phải có chẳng
phải không.
Nếu có người hỏi tôi: Việc
đó là phải chăng ?
- Tôi bảo: Việc đó là phải.
Việc đó là quấy
chăng ?
- Tôi bảo: Việc đó là quấy
Chẳng phải thật, quấy chăng ?
- Tôi bảo: Chẳng thật, chẳng
quấy.
Nếu hỏi đời sau là một
đời khác ?
- Tôi đáp cũng như vậy.
Thật Lực Tử nghe xong liền
nghĩ: “Đại sư này lại trái với
đường chánh, làm theo đường tà. Đây là con
đường nguy hiểm có nhiều sợ sệt,
kẻ trí nên bỏ không cần tu tập”.
Thật lực nói kệ:
Ác huệ nói ác pháp
Thật ngu xưng
Đại sư
Pháp này dẫn làm
thật
Sao không gọi phi pháp?!
Thật Lực nói kệ rồi, gọi
đó là: Đánh vào vật trống rỗng chỉ có
tiếng trống rỗng, bèn bỏ đi.
Thật Lực Tử lại đến
chỗ Ny-kiện-đà-thận-nhă-đê-tử, hỏi:
- Pháp lư tôn kính của Ngài là ǵ ? Đối
với các đệ tử, Ngài dạy họ những ǵ ?
Siêng tu phạm hạnh sẽ
được quả ǵ ?
Vị sư
này trả lời:
- Thái tử sở tôn của tôi là làm như
thế là thấy, làm như thế là nói. Mọi
người có thấy vấn đề thọ khổ
lạc là do đời trước tạo nghiệp
nhơn. Dùng sức khổ hạnh có thể trừ
được túc nghiệp, không tạo nghiệp mới,
ra khỏi bờ sanh tử, chứng pháp vô lậu, các
nghiệp bèn hết. Các nghiệp hết cho nên các khổ
cũng hết.
Thật Lực Tử nghe xong liền
nghĩ: “Đại sư này trái với đường
chánh, làm theo đường tà. Đây là con đường
nguy hiểm, nhiều sợ sệt, kẻ trí không nên tu
tập”.
Thật
Lực Tử nói kệ:
Ác
huệ nói ác pháp
Thật
ngu xưng Đại sư
Pháp
này dẫn làm thật
Sao không gọi
phi pháp?!
Thật Lực Tử nói kệ rồi,
gọi đây là: Đánh vào vật trống rỗng chỉ
có tiếng trống rỗng, bèn bỏ đi.
Về lại ngôi nhà của ḿnh, lên lầu
cao, chống tay nơi má suy nghĩ:
“Trong thế gian này, Nhơn, Thiên, Ma phạm, Sa-môn,
Bà-la-môn, vả chăng có một người, có thể
thọ tŕ một, hai, ba, bốn câu chú thuật, thần
nghiệm, phương pháp minh dược, đối
với trong đường sanh tử vô minh lao ngục,
khỏi phải dụng công đức nhiều, khiến
cho ta được xuất ly hay không” ?!
Thường pháp của chư Phật là là
quán sát thế gian, không điều ǵ không nghe không thấy, không
điều ǵ không hay không biết, hằng khởi tâm
đại bi, nhiêu ích tất cả, làm người
đại bảo vệ, hùng mạnh bậc nhất không
có hai lời, nương nơi định huệ an
trụ, hiển phát tam minh, thiện tu tam học, thiện
điều tam nghiệp, vượt qua bốn ḍng
nước xoáy, an bốn thần túc, ở trong đêm
trường tu bốn nhiếp hạnh, xả bỏ
năm cái, xa ĺa năm chi, vượt lên trên năm
đạo, sáu căn đầy đủ, sáu độ
viên măn, bảy tài khắp thí, mở bảy giác hoa, ĺa tám
pháp của đời, chỉ bày tám đường chánh,
vĩnh đoạn chín kiết, sáng tỏ chín định,
đầy đủ mười lực, danh tiếng
mười phương, thù thắng hơn hết trong
trăm ngàn tự tại, đặng bốn Vô-úy, âm thinh
như sấm rền, như tiếng rống của sư
tử, ngày đêm sáu thời, thường dùng Phật nhăn
xem các thế giới, ai tăng, ai giảm, ai gặp
nhiều điều khổ ách, ai trên đường
đến đường ác.
Nay, ta dùng thắng phương tiện
đối với ba ác đạo, cứu vớt khiến
được ra khỏi, an định đường
nhơn thiên, khiến họ trú nơi Niết-bàn.
Đối với kẻ đắm ch́m trong đống bùn
tham dục, luôn nghĩ cứu họ. Người không có
Thánh tài khiến họ được Thánh tài. Đức
Phật xuất hiện nơi thế gian ai sẽ
được lợi ích, ai bị mây vô minh làm mờ
mắt họ, dùng thuốc đại trí, khiến mắt
họ được mở sáng lên. Người không
thiện căn khiến họ trồng căn lành.
Người đă trồng căn lành khiến họ thành
thục. Người đă thành thục khiến họ
được giải thoát.
Như bài
kệ sau:
Ví biển triều lên
xuống
Hạn kỳ nào xóa
đi
Th́ giáo hóa của
Phật
Tế độ không
thời gian
Như mẹ sanh con
một
Bảo hộ con
đến cùng
Chỗ giáo hóa của
Phật
Mẫn niệm hơn
thế kia
Các hữu t́nh với
Phật
Phật từ niệm
không rời
Nghĩ cách cứu
khổ họ
Như trâu mẹ theo
con
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bèn
khởi ư nghĩ: “Thật Lực Tử đă từng
đối với đức Phật trồng các căn
lành, cũng như mụt nhọt đă chín muồi chỉ
chờ lấy dao mổ, nay chính là đúng lúc, có thể giáo
hóa được. Lại quan sát, người này nhận
sự hóa độ của Phật, hay nhận sự hóa
độ của hàng đệ tử Phật, nên dùng
thần lực giáo hóa hay oai nghi để giáo hóa.
Đức Phật thấy rơ, do oai nghi của đệ
tử mới có thể hóa độ được”.
Lúc đó, Bí-sô
Mă thắng, đối với trong cơi người trời,
oai nghi ở vào hàng tối thắng. Đức Thế Tôn
liền bảo Bí-sô Mă Thắng:
- Ông nên biết, Như lai quán sát, đă
đến lúc, thái tử Thật lực nước Ba-ba có
thể được độ.
Bí-sô Mă
Thắng im lặng nhận lời.
Sáng hôm ấy phần đầu của
ngày, Bí-sô chấp y tŕ bát vào thành Vương-xá tuần
tự khất thực. Ăn xong rửa bát thu dọn
chỗ ngồi, chấp y tŕ bát, lên đường lần
lượt du hành. Đến nơi nước Ba-ba, Bí-sô
an trụ nơi rừng Thủy-điệt.
Sáng hôm sau phần đầu của ngày,
Bí-sô chấp y tŕ bát, vào trong thành Ba-ba, thứ lớp đi
khất thực, nâng nhẹ từng bước chân chăm
chú từng nhịp một, y bát trang nghiêm, cái oai nghi như
đi về phía trước làm hiện rơ phong thái
đạo giải thoát.
Khi ấy, Thật Lực Tử từ trên
lầu cao nh́n thấy từng bước đi an lành
giải thoát kia, bước đi mà chưa bao giờ
Thật Lực Tử nh́n thấy đă nâng oai nghi hoàn
hảo ấy thẳng mực đi về phía
trước. H́nh ảnh ấy đă đập mạnh vào
mắt thái tử khiến thái tử có những suy nghĩ:
“Người xuất gia trong nước này quả thật
chưa từng có oai nghi như vậy. Xong, người
xuất gia thường ở nơi tụ lạc th́
chỉnh túc oai dung nhưng ở nơi A-lan-nhă th́ không
như thế ? Nay ta nên cho người theo dơi xem họ
về nơi rừng vắng có c̣n nếp sống oai nghi
như vậy chăng ?”
Thế rồi, thái tử liền sai
người theo Bí-sô đến tận chỗ ở
của họ để xem, nếu ở nơi Lan-nhă không
in dấu chân người, Bí-sô ấy có c̣n được
dung nghi như đă có không?
Sứ giả tuân mệnh, theo sau Mă
Thắng Bí-sô, để ghi nhận từng cử chỉ
một.
Sau khi Mă Thắng khất thực nơi
thành xong, Bí-sô về thẳng rừng Thủy-điệt,
đặt y bát và đăy lọc nước qua một bên,
xong rồi đem y đi giũ bụi lấy đăy
lọc nước rửa tay chân, lấy lá vàng rụng lót
trên đất đặt b́nh bát ngồi dùng cơm. Ăn
xong thâu bỏ đồ ăn dư lượm lá cây
rửa bát xong, rửa tay chân kiết-già an tọa. Oai nghi
giống như con Bàn long tịch tịnh, chánh thân an
trụ.
Bấy giờ sứ giả quan sát thấy
như vậy rồi, trở về tŕnh báo với thái
tử Thật-lực:
- Oai nghi được nh́n thấy
tường tận lúc Bí-sô khất thực trong thành th́ khi
về nơi rừng vắng, oai nghi ấy trăm lần
tốt đẹp hơn.
Thế rồi, Thật-lực bảo
người đánh xe:
- Ngươi sửa soạn xe cộ,
đem đến gấp, ta muốn vào rừng để
xem Bí-sô...
Người đánh xe, nhân lệnh nghiêm
chỉnh xa giá đem đến. Thái tử cỡi xe,
thẳng đường vào rừng. Khi đến mé
rừng, xuống xe đi bộ vào thẳng đến
chỗ ở của Mă Thắng. Từ xa trông thấy Mă
Thắng đang kiết-già nhập định,
Thật-lực nghĩ: “Ta vào khiến Bí-sô động
niệm trong cảnh định thù thắng là điều
không nên. Đợi người xuất định ta
sẽ đến lễ”. Nghĩ như vậy rồi, t́m
nơi thuận tiện để chờ đợi.
Thời gian sau xế, tôn giả Mă Thắng mới xuất
định. Lúc ấy Thật Lực Tử bèn nhẹ nhàng
đến trước mặt đảnh lễ
dưới chân Ngài, rồi đứng qua một bên thành
kính bạch:
- Kính bạch Đại đức! Ngài là
bậc Đại sư hay là hàng đệ tử ?
Mă Thắng bảo:
- Tôi là hàng đệ tử chẳng
phải bậc Đại sư.
Thái tử hỏi:
- Bậc Đại sư và hàng đệ
tử hơn thua nhau thế nào ?
Mă Thắng bảo rằng:
- Hai cấp bậc hơn thua nhau một
trời một vực, một bên như Sơn vương
diệu cao, một bên như hạt cải. Một bên
như nước biển cả, một bên như
nước vũng chân trâu. Một bên như ánh sáng mặt
trời, một bên như con đom đóm.
Khi ấy Cụ thọ Mă Thắng nói
kệ:
Diệu cao sánh hạt
cải
Biển cả so
vũng trâu
Hư không sánh lỗ
nhỏ
Mặt trời so
đóm sáng
Mọi vật trên
thế gian
Không thể làm thí
dụ
Đệ tử
vọng cầu thầy
Việc này cũng
như vậy.
Khi nghe kệ thuyết xong, Thật Lực
Tử suy nghĩ: “Như lời Bí-sô nói công đức
giữa thầy và tṛ có sự sai khác, đâu lại
chẳng có một vị Diệu giác Thế Tôn và pháp thù
thắng”. Ghi nhận như vậy rồi, thái tử
hỏi tiếp Mă Thắng:
- Thưa Đại đức! Nay, tôi
được phép ở trong pháp luật khéo nói nay xuất
gia thọ Viên cụ, thành tánh Bí-sô, cùng với Đại
sư tu phạm hạnh nơi đây được không ?
Mă Thắng bảo:
- Này, thái tử! Ư kiến đó đă
được cha mẹ của thái tử cho phép chưa?
Thật Lực tử thưa:
- Thưa Đại đức! Cha mẹ
tôi chưa từng cho phép.
Mă Thắng bảo:
- Như Lai và đệ tử của
Như Lai không chấp thuận cho ai xuất gia mà cha mẹ
họ không cho phép.
Thật Lực bạch:
- Thưa Đại đức, tôi sẽ
bằng mọi cách xin phép, chắc chắn cha mẹ tôi
sẽ cho phép.
Mă Thắng nói:
- Được như vậy là
điều rất tốt.
Thật Lực Tử ghi nhận sự
việc, rồi cung kính hoan hỷ cáo từ trở về.
Về đến vương cung, thái tử tâm thành
đến trước cha mẹ, thưa:
- Song thân biết cho: Con đă chánh tín, nay
nguyện xuất gia, xin xong thân cho phép.
Cha mẹ nói:
- Con nên biết: Ta chỉ có ḿnh con, tâm tâm,
niệm niệm, thương yêu con, một ngày không
thấy con là sầu chán. Giả sử rủi chết
đi c̣n không muốn ĺa, huống hồ h́nh hài con đây
sao lại chứng kiến biệt ly ?
Thái tử thưa:
- Cha mẹ chấp nhận là điều
tốt! Nếu không thuận ḷng th́ kể từ ngày hôm nay
con không ăn uống.
Tuy thái tử nói lời cương
quyết như vậy mà song thân vẫn không thuận ḷng cho phép. V́ thế,
Thật Lực Tử bắt đầu đoạn
thực một ngày. Rồi cứ như thế ngày thứ
hai, thứ ba cho đến sáu ngày không ăn, không uống.
Khi ấy, cha mẹ đến chỗ con,
nhẹ nhàng khuyên bảo:
- Từ khi con c̣n nhỏ con thường
sống trong nếp sống an lạc. Đối với
các việc khổ, con chưa từng trải qua. Phạm
hạnh khó tu, độc thân khó sống, ngọa cụ
giản đơn, ở nơi Lan-nhă khó mọi bề,
trọn đời sống cùng chỗ thú dữ, trọn
đời ăn xin của kẻ khác, trọn đời
đoạn các dục lạc, trọn đời xa bặt
sự vui chơi. Này thái tử! Con nên ở nhà thọ các dục lạc, tùy ư
bố thí, tu các phước nghiệp.
- Thái tử, tuy nghe song thân khuyên bảo
như vậy, lặng thinh không trả lời.
Bấy giờ, cha mẹ thái tử bèn
nhờ thân quyến tới khuyên dụ. Khi thân quyến
đến cũng lập lại những lời khuyên
như song thân đă khuyên. Thật Lực Tử vẫn im
lặng không trả lời. Song thân của thái tử
sốt ruột xoay sang nhờ các bạn thân quen tri thức
của Thái tử đồng loạt đến khuyên
dụ. Tất cả chỗ thân quen này đều có
lời khuyên như cha mẹ của thái tử đă khuyên,
xong Thái tử vẫn lặng thinh. Lần thứ hai,
thứ ba vẫn không nói một lời. Các bạn thân quen
tri thức khi thấy chí cương quyết, quyết
liệt của Thật Lực Tử như vậy bèn
đến vua và hoàng hậu tŕnh bày t́nh lư:
- Chúng tôi ân cần khuyến dụ bằng
mọi cách, nhưng ư chí Thái tử không thay đổi chút
nào, nh́n vào sắc mặt thấy rơ điều đó. Chúng
tôi rất lo ngại cho vấn đề mệnh hệ
của thái tử. Xin Đại vương hứa khả
cho Thái tử xuất gia ly tục.
Những người bạn thân tri thức
cùng lên tiếng rằng:
- Nếu chấp nhận cho Thái tử
xuất gia th́ mới bảo toàn được mạng
sống của Thái tử. Sau này Thái tử không vui sống
với đời xuất gia th́ lại trở về
vương cung. Nếu bây giờ để Thái tử
chết đi th́ lấy ǵ đâu để c̣n trở
về?!
Cha mẹ Thái tử nghe lời đề
nghị hữu lư, nói:
- Như vậy, th́ nên cho phép xuất gia
để cho Thái tử măn được chí nguyện
của nó.
Bạn thân quen trí thức nhận lănh ư
kiến này của Đại vương đến báo cho
thái tử biết:
- Song thân của bạn, rủ ḷng
thương, đă cho phép bạn nhập đạo.
Thật Lực nghe vậy, vui mừng khôn
xiết. Thật Lực Tử ăn uống trở
lại, sức khỏe cũng vừa hồi phục, Thái
tử liền cáo từ cha mẹ rồi đến
rừng Thủy-điệt. Đến nơi, liền kính
lễ Mă Thắng Bí-sô, rồi ngồi qua một bên.
Thật Lực Tử bạch:
- Kính bạch Đại đức! Tôn thân
của con đă cho phép con xuất gia. Lành thay! Xin Ngài từ
bi cho con pháp xuất gia, thọ Viên cụ, dạy con oai
nghi. Con sẽ sống bên Đại đức khéo tu
phạm hạnh.
Cụ thọ Mă Thắng nghe xong liền
trả lời:
- Như vậy, tôi cho ông xuất gia và
thọ Viên cụ.
Trao pháp xuất gia và cho thọ Viên cụ
xong, Mă Thắng Bí-sô hỏi:
- Ông nay nên biết: Bí-sô thực hành
nghiệp tu có hai loại: Đọc tụng hoặc tu
định, ông nhận pháp nào ?
- Kính bạch Ô-ba-đà-da! Con xin
được phụng hành cả hai pháp.
Thế rồi, Thật Lực Tử, ngày chuyên
tâm tụng niệm, đêm đến hệ niệm
thiền tư. Cứ như vậy, không bao lâu rơ thông ba
tạng, siêng năng, tinh tấn không hề lơi lỏng,
phiền năo đoạn trừ, chứng quả A-la-hán.
Bấy giờ, tất cả đệ tử của Bí-sô
Mă Thắng, theo sở thích dù sở học của họ có
khác nhau xong đều hoàn tất việc thọ học,
mỗi người đều đến nơi thôn
phường thành ấp tụ lạc để an cư.
Đến rằm tháng tám an cư xong, may y rồi chấp
tŕ y bát, đến thành Ba-ba vào rừng
Thủy-điệt. Y bát đặt để xong rửa
tay chân rồi tới chỗ bổn sư, đảnh lễ
hai chân thầy và ngồi qua một bên. Lúc bấy giờ,
mỗi người đều báo cáo sự tu chứng
của ḿnh với vị thầy; ngoài ra, c̣n hỏi yếu
nghĩa của ba tạng rồi nói:
- Chúng con đă được Ô-ba-đà-da
đích thân quyết nghi rồi, chúng con muốn đến
phụng kiến đức Thế Tôn, việc đó
thế nào ?
Vị thầy bảo:
- Này, các Cụ thọ! Các ông có thể
đi đến để phụng kiến đức
Thế Tôn, theo ư muốn của các ông.
Khi ấy, Thật Lực Tử bạch
với Bí-sô Mă Thắng:
- Kính bạch Ô-ba-đà-da! Con đă
được thấy pháp thân của Như Lai rồi, mà
chưa thấy được sắc thân của Như
Lai. Nay con muốn đến để thấy sắc thân
của Như Lai.
Thầy đáp:
- Tùy theo ư muốn của ông! Nay, ông nên
biết: Đức Như Lai Ứng chánh đẳng giác là
vị đại trân bảo xuất hiện nơi thế
gian rất khó được gặp, chẳng khác nào bông
Ô-đàm-bạt-la chỉ một lần xuất hiện mà
thôi.
Thật Lực Tử khi được
bổn sư đoái tưởng chấp thuận, th́
liền sáng hôm sau, phần đầu của ngày chấp
tŕ y bát vào thành Ba-ba tuần tự đi khất thực.
Trở về bổn xứ, cơm nước xong lại
chấp tŕ y bát đến thành Vương-xá. Đến
nơi, với oai nghi như trước đây đă nói,
Thật Lực rửa chân tay rồi đến chỗ
Đức Như Lai. Lúc bấy giờ, đức Thế
Tôn đang v́ trăm ngàn chúng Bí-sô nói pháp. Đức Thế
Tôn từ xa trông thấy Thật Lực Tử đến
Ngài liền nói:
- Thiện lai! Người đă đến
đúng lúc, người cứ ngồi theo ư muốn.
Thật Lực Tử đảnh lễ
dưới chân Phật, ngồi qua một bên.
Lúc ấy, trong thành Vương-xá các chúng
Bí-sô, không y theo hạnh tu để phân đồng loại
mà phân chia ngọa cụ chư Tăng, chẳng hạn
như:
Kinh sư cùng với Luật sư, Kinh
sư cùng với Luận sư, Kinh sư cùng với Pháp
sư, Kinh sư cùng với Thiền sư.
Luật sư cùng với Luận sư,
Luật sư cùng với Pháp sư, Luật sư cùng
với Thiền sư, Luật sư cùng với Kinh sư.
Luận sư cùng với Pháp sư, Luận
sư cùng với Thiền sư, Luận sư cùng với
Kinh sư, Luận sư cùng với Luật sư.
Pháp sư cùng với Thiền sư, Pháp
sư cùng với Kinh sư, Pháp sư cùng với Luật sư, Pháp sư
cùng với Luận sư.
Thiền sư cùng với Kinh sư,
Thiền sư cùng với Luật sư, Thiền sư cùng
với Luận sư, Thiền sư cùng với Pháp sư.
Đối với Kinh sư; Luật sư,
Luận sư, Pháp sư, Thiền sư, không áp dụng
nguyên tắc đồng loại quy tụ lại một
chỗ. Như vậy, khi không y theo đồng loại
để phân trao pḥng xá, ngọa cụ để các Bí-sô
cùng một hạnh, hộ vệ nhau tránh việc mất
mát thọ nghiệp, nên khiến cho thiện phẩm
của mỗi vị không được tăng
trưởng, như bông sen không có nước, ngày càng
bị suy tổn.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn
khởi ư nghĩ: “Thật Lực Tử này đối
với đức Phật đời trước có
chỗ túc duyên đă phát nguyện chánh đáng rằng: Khi
nào ta đắc quả v́ Tăng-già làm công việc phân chia
ngọa cụ”. Với ư nghĩ này, đức Thế Tôn
bảo các Bí-sô:
- Này, các Bí-sô nên sai Thật Lực Tử
cùng Tăng-già làm ngựi phân chia ngọa cụ cho Tăng.
Đức Phật dạy tiếp:
- Nếu phải lựa chọn
người nào làm việc này th́ phải hội đủ
năm pháp mới được phép sai làm người phân
phối ngọa cụ. Nếu không hội đủ
năm pháp th́ không nên sai. Có sai rồi phải hủy
bỏ.
Năm pháp là ǵ ? Có ái, có giận, có si, có
sợ, không biết cách phân chia kể cả không phân
được. Nếu hội đủ năm pháp sau
đây th́ nên sai, đă sai, không nên hủy bỏ.
Năm pháp này là ǵ ? Không ái, không giận,
không si, không sợ, biết đă chia hay chưa chia. Nên sai
người như vậy.
Thủ tục như thường lệ,
đánh kiền chùy trải tọa cụ, trước
cầu thỉnh, sau hợp Tăng, trước Đại
chúng nên hỏi:
- Trong chúng đây, ai có thể v́ Tăng làm
người phân chia ngọa cụ ?
Tôi là Bí-sô... Có thể. Tác yết-ma
(Đầy đủ như trong một trăm lẽ
một yết-ma).
Lúc ấy, Thật Lực Tử
được chúng sai làm người phân chia ngọa
cụ rồi, liền y theo pḥng xá, ngọa cụ của
chúng Tăng, đều y theo đồng loại mà cất
đặt phân phối, như Kinh sư xếp cùng Kinh
sư, Luật sư cùng với Luật sư, Luận
sư cùng với Luận sư, Pháp sư cùng với Pháp
sư, Thiền sư cùng với Thiền sư.
Mọi người đạt
được yêu cầu phù hợp với ư muốn trong
sự sống chung, nói năng, luận bàn rất tâm
đắc. Vấn đề tu thiện phẩm ngày,
đêm đều được tăng trưởng,
như bông sen ở trong ao đầy nước ngày càng
phát triển.
Lúc bấy giờ, có các Bí-sô nửa canh
một mới về đến, Thật Lực Tử dùng
thần thông lực phóng ra ánh sáng, nơi một ngón tay,
để chia ngọa cụ. Lại có các chúng Bí-sô khác
đích thân muốn thấy Thật Lực Tử có pháp
Thắng Thượng nhân, thần thông hy hữu, cho nên canh
một mới đến xin vào lưu trú. Thật Lực
Tử dùng hai ngón tay tuôn ra ánh sáng để phân phối
ngọa cụ. Nếu đến vào lúc một canh
rưỡi, th́ Thật Lực Tử dùng ba ngón tay tuôn ra ánh
sáng phân phối ngọa cụ. Nếu canh hai đến th́
bốn ngón tay phóng ra ánh sáng để phân chia. Nếu
nữa đêm đến th́ ánh sáng từ năm ngón tay
của Thật Lực Tử phóng ra để phân chia
ngọa cụ cho các Bí-sô.
Khi các Bí-sô thấy thần thông thù thắng
như vậy rồi, đều khởi ư nghĩ:“Chúng ta
không nên khiến cho vị đại Thanh-văn đầy
đủ oai đức phải v́ ta chia ngọa cụ
như vậy, cho nên tự t́m lấy chỗ ngủ không
dám phiền Thật Lực”. Đầu đêm, cuối
đêm các vị ấy đều bớt sự ngủ
nghỉ, sống với đoan tọa tư duy. Do sự
siêng năng nên chứng được những ǵ chưa
chứng, những ǵ đă chứng, không ngừng tinh
tấn.
Bấy giờ, đức Thế Tôn
bảo các Bí-sô:
- Này các Bí-sô! Trong số đệ tử
của Ta, người v́ Tăng chia ngọa cụ,
Thật Lực Tử này là người khéo léo công bằng
thứ nhất.
Một khi Thánh giáo của đức
Thế Tôn đă được ban bố rộng răi
rồi th́ Bà-la-môn, Cư sĩ v́ các Bí-sô thiết lập các
thức ăn uống để cúng dường. Lúc
ấy, Lục chúng Bí-sô biết nơi nào có thức ăn
mỹ hảo thượng diệu th́ đến thọ
dụng. Các người Bà-la-môn tín tâm nói:
- Thưa Thánh giả! Tại sao Đại
đức Kỳ túc không đến ?
Lục chúng bảo:
- Thức ăn thô như thế này, quư
vị đâu có đến.
Các thí chủ trịnh trọng thưa:
- Đức Thế Tôn dạy chúng tôi,
đối với các món cúng dường th́ sự cúng
dường cơm nước là đứng đầu,
các vị Kỳ cựu lẽ nào không dùng! Các Thánh giả là
người đối với trong pháp luật khéo nói,
bỏ thế tục xuất gia, thận trọng lời
nói, không nên nói lời không biết xấu hổ như
vậy, Các vị nên mau đi chỗ khác không nên đến
đây nữa!
Các Bí-sô nghe sự việc rồi bạch
với Phật. Đức Phật dạy:
- Nên sai Thật Lực Tử làm
người mời chúng đi thọ trai. Ngoài ra nếu có
người như Thật Lực Tử cũng nên sai
việc phân thức ăn cho Tăng. Không đủ năm
pháp không nên sai nhiệm vụ này, đă sai rồi th́ nên thay
thế.
Năm pháp ấy là: Có thương ghét, sân
hận, ngu đần, sợ hăi, không biết phân kể
cả không phân chia được. Với người nên
sai chuẩn theo trước tác pháp như vậy để
sai. Khiến một Bí-sô tác Yết-ma” (xem trong một
trăm lẽ một Yết-ma).
Khi Thật Lực Tử được
tăng sai phân thức ăn rồi, Thật-lực v́
tăng phân thành ba loại thức ăn: Thượng,
trung, hạ. Khi có Bí-sô khách đến, ngày đầu phân
thức ăn bậc thượng; ngày thứ hai phân
thức ăn bậc trung; ngày thứ ba phân thức ăn
bậc hạ, ngày thứ tư khiến đi khất
thực. Thật Lực Tử đối với các Bí-sô,
hoặc khách, hoặc chủ phân phối pḥng xá, ngọa
cụ, thức ăn, các vật cần dùng, theo sự
hiện diện, từ già đến trẻ, thứ
tự cung cấp không hề sơ suất.
Bấy giờ, Thật Lực Tử cùng
hai Bí-sô một vị tên là Thiện Hữu, một vị
tên là Đại Địa, trong nhiều đời
thường là oán ác với nhau. Từ
- Trong tăng, ai là người lo việc
ăn uống ?
Bí-sô trả lời:
- Cụ thọ Thật Lực Tử là
người phụ trách việc ấy.
Hai Bí-sô ấy đến chỗ Thật
Lực Tử báo cáo:
- Hai người chúng tôi, theo thứ tự,
xin được nhận thức ăn.
Theo nội quy đă vạch, hai vị
mới đến ngày đầu Thật Lực Tử
thứ tự cung cấp thượng diệu thực. Khi
người thí chủ hỏi Thật Lực Tử:
- Sáng mai vị nào đến nhà con thọ
thực ?
Thật Lực Tử đáp rằng:
- Bí-sô Thiện Hữu và Đại
Địa
Thí chủ nghe rồi, liền nghĩ: “Hai
Bí-sô ấy, nghe nói là ác hạnh, nếu đến thọ
thực, ta sẽ thiết trai tương xứng”.
Đến ngày thứ hai thứ tự trao cho Hữu,
Địa trung thực, v́ thí chủ có việc nên thức
ăn không tốt. Đến ngày thứ ba thứ tự
trao cho Hữu, Địa thức ăn thô.
Hai Bí-sô ấy liền nói:
- Nay chúng ta bị khổ thật! Tại
sao Thật Lực Tử cố ư cung cấp cho chúng ta
thức ăn uống thô xấu, liên tiếp ba ngày thế
này, muốn năo loạn chúng ta khiến cho chúng ta thọ
đại khổ! Ta sẽ gây việc vô ích cho “ông ta”
mới được.
Hai người ấy có người em làm
Bí-sô-ni, tên là Hữu Nữ, ở chùa nơi Vương
Viên. Vào thời điểm ấy, Bí-sô Hữu Nữ
đến thăm hai Bí-sô, kính lễ dưới chân, hai
vị xong ngồi qua một bên. Khi thấy em đến,
hai Bí-sô không buồn hỏi chào cũng không tiếp
chuyện. Lấy làm lạ Bí-sô-ni Hữu Nữ hỏi hai
Bí-sô:
- Tại sao hai thánh giả thấy em
đến mà không hỏi chào, không thèm tiếp em là sao?!
Hai Bí-sô bảo rằng:
- Em của ta ơi! Hai anh bị Thật
Lực Tử liên tiếp ba ngày cho ăn thức ăn thô,
nuốt không xuống, làm sao nói năng được!
Tại sao em không giúp hai anh mà yên ngồi như vậy ?!
Hữu Nữ thưa:
- Thánh giả! Hai anh cần em giúp bằng
cách nào ?
Hai anh bảo rằng:
- Em nên đến chỗ đức Thế
Tôn thưa như thế này: “Kính bạch Đại
đức Thế Tôn! Thánh giả Thật Lực Tử làm
việc trái pháp, cùng con làm hạnh bất tịnh, phạm
Ba-la-thị-ca. Hai anh cũng sẽ đến chỗ
đức Thế Tôn và chứng minh điều đó:
Lời của Bí-sô-ni Hữu Nữ nói là đúng sự
thật, chúng con trước đây biết rơ việc này”.
Bí-sô-ni Hữu Nữ nghe xong tỏ ra lúng
túng trả lời:
- Làm sao em có thể nói sai thực tế
Bí-sô Thật Lực Tử thực sự thanh tịnh
chưa hề phạm lỗi nhỏ nào ?! Em không thể
dùng phép vô căn Tha thắng để hủy báng như
vậy.
Hai người anh nói:
- Nếu em không làm như thế th́ hai anh
sẽ có lời này: “Suốt đời, thôi chúng ta
đừng nh́n nhau, với em hai anh không c̣n lời
để nói nữa”.
Hữu Nữ khi nghe lời nói của hai
anh rồi gắng gượng lắm mới ngẩng
mặt lên và như cái máy thưa với Bí-sô:
- Em sẽ làm theo lời hai thầy anh nói.
Hai Bí-sô bảo:
- Em đứng đây hai anh đến
chỗ đức Thế Tôn, em sẽ đến sau.
Hai Bí-sô đến chỗ Thế Tôn
đảnh lễ xong ngồi qua một bên. Bí-sô-ni Hữu
Nữ đến đúng thời gian anh đă định,
đến đứng trước đức Thế Tôn
kính lễ, rồi đứng qua một bên bạch:
- Kính bạch đại đức Thế
Tôn! Thánh giả Thật Lực Tử đă làm việc trái
pháp, cùng con làm hạnh bất tịnh, phạm Ba-la-thị-ca.
Khi ấy Bí-sô Thiện Hữu và Đại
Địa liền bạch Phật:
- Thật vậy, Bạc-già-phạm
Thật vậy, Tô-yết-đa! Như lời Bí-sô-ni
Hữu Nữ nói, chúng con có biết trước.
Khi ấy, Thật Lực Tử cũng
đang đứng trong Đại chúng.
CĂN
BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ
TỲ-NẠI-DA
QUYỂN 13 -
(hết).