CĂN BẢN
THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA
QUYỂN 12.
TAM
TẠNG PHÁP SƯ NGHĨA TỊNH PHỤNG CHẾ DỊCH
Học xứ thứ năm: Làm mai mối
Lúc bấy giờ, Bạc-già-phạm ở
tại thành Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa,
vườn ông Cấp-cô-độc. Trong này có một
Trưởng giả là Hắc Lộc Tử, đối
với Phật, Pháp, Tăng sanh ḷng kính tín sâu đậm,
quy y Tam Bảo, thọ năm Học xứ: Không sát sanh,
không trộm cắp, không dục tà hạnh, không nói dối,
không uống các thứ rượu. Trong thành này nhiều
người quen biết Trưởng giả, là nơi
để tâm sự hỏi ư kiến của Bà-la-môn, Cư
sĩ. Nếu trong gia đ́nh nào có người nữ
trưởng thành, muốn xây dựng gia đ́nh, bèn hỏi
Hắc Lộc Tử rằng:
- Ông biết gia đ́nh nào có đồng nam
chăng ?
Ông đáp:
- Có biết.
Họ lại hỏi:
- Đồng nam ấy
cần cù, chưa vợ, khéo kinh doanh gia nghiệp, có
thể đối với vợ con cung cấp nhiều
cơm áo, không để cho vợ con khổ sở, ít
bắt vợ làm việc hay chăng ?
Nếu Hắc Lộc Tử
trả lời: - Đồng nam ấy tuy có nam tính mà
nhiều biếng nhác, không có óc kinh doanh gia nghiệp, không có
khả năng khiến cho vợ con an lạc trong vấn
đề cơm áo.
Khi nghe nói như vậy
rồi họ liền tỏ ra không bằng ḷng.
Nếu Hắc Lộc Tử
trả lời: - Đồng nam của gia đ́nh kia
cần cù, chưa vợ, khéo kinh doanh gia nghiệp, có
khả năng đối với vợ con cung cấp nhiều
về y thực, không khiến cho vợ khổ sở.
Khi nghe nói như vậy
rồi họ tỏ ra bằng ḷng.
Trường hợp gia
đ́nh nào cần t́m người dâu th́ hỏi Hắc
Lộc Tử rằng:
- Ông biết gia đ́nh nào có
đồng nữ có đủ tư cách không ?
Ông ta bảo:
- Có biết.
Họ liền hỏi:
- Đồng nữ ấy
cần cù chưa yêu ai có thể kinh doanh gia nghiệp
chăng?
Nếu Hắc Lộc Tử
nói không thể được họ liền không thể
cưới người con gái ấy. Nếu ông ta nói có
thể cưới được... Họ liền
đặt thành vấn đề kết hôn với
người đồng nữ ấy.
Trường
hợp người nữ về nhà chồng, không
được vừa ư với họ, họ hàng bên nữ
bèn cơ hiềm mạ nhục Hắc Lộc Tử
như sau: “Tôi tin nơi Hắc Lộc Tử nắm
vững vấn đề, chổ quen biết thân t́nh nên tôi
mới gả con tôi cho họ. Ngày nay con tôi bị khổ
sở, cơm không đủ no bụng, áo không đủ
che thân…!”
Trường hợp nếu
về nhà chồng người con gái kia cơm áo
đầy đủ, không bị khổ cực th́ Hắc
Lộc Tử liền được khen ngợi.
Trường hợp gia
đ́nh bên nam lấy người vợ về rồi,
người vợ không siêng năng đối với công
việc nhà, không tương xứng với tấm ḷng
của chồng, Hắc Lộc Tử liền bị cơ
hiềm mạ nhục như
trước.
Trường hợp bên nam cưới
người vợ về rồi, người đàn bà
ấy biết hiếu dưỡng, cung kính, siêng năng coi
ngó gia nghiệp của chồng, vợ chồng
tương thuận. Hắc Lộc Tử liền
được khen ngợi như trước.
Thời bấy giờ, đối với
thành Thất-la-phạt, Hắc Lộc Tử tiếng
tốt, tiếng xấu lúc nào cũng đồn ầm,
phơi bày ra.
Thời gian sau, Hắc
Lộc Tử đối với Tam Bảo sanh ḷng kính tín
lên gấp nhiều lần, ông ta bèn xin xuất gia trong pháp
luật khéo nói của Đức Phật. Khi đă xuất
gia rồi quay lại làm việc như trước đây.
Đối với thân hữu tiếp tục làm việc môi
giá. H́nh ảnh Hắc Lộc Tử tái hiện trong
khắp thành theo tiếng khen, tiếng chê của thiên
hạ. Đây chỉ là duyên khởi, xong Đức Thế
Tôn chưa v́ các đệ tử hàng Thanh-văn đối
với Tỳ-nại-da chế học xứ.
Lúc bấy giờ, Lục
chúng Bí-sô cũng làm mai dong, đem ư người nam nói
với người nữ, đem ư người nữ nói
với người nam cho đến tạo môi
trường tư thông cho nam nữ giao hợp.
Khi ấy, các người
ngoại đạo đều cơ hiềm bảo
rằng:
- Các người nên biết:
Sa môn Thích tử này đă làm việc không nên làm. Họ làm
mai dong đâu có khác ǵ với chúng ta. Thử hỏi c̣n ai,
sáng nào cũng mang cơm nước thí cho bọn Sa-môn Thích
tử trọc đầu ?
Bấy giờ, các Bí-sô đem
nhơn duyên này bạch Phật. Đức Thế Tôn bèn
dùng nhơn duyên này tập hợp các Bí-sô, Ngài biết mà
vẫn hỏi Lục chúng Bí-sô:
-
Thật sự các ông đă đem ư của người nam
nói với người nữ, đem ư người nữ
nói với người nam và làm việc mai mối
để cho nam nữ tư thông hay chăng ?
- Kính bạch đức
Thế Tôn sự thật là như vậy, Lục chúng Bí-sô
với tất cả sự thành khẩn nói lên điều
đó.
Thế rồi, đức
Thế Tôn quở trách Lục chúng Bí-sô:
-
Các ông chẳng phải Sa-môn, chẳng phải tùy thuận,
chẳng phải thanh tịnh, chẳng phải thiện oai
nghi, chẳng phải cái việc nên làm của người
xuất gia. Đức Thế Tôn bằng mọi cách
quở trách rồi, bảo các Bí-sô rằng:
- Ta quán mười
điều lợi, cho đến v́ các Bí-sô chế Học
xứ này như sau:
“Nếu lại có Bí-sô làm
việc môi giá, đem ư của người nam nói với
người nữ, đem ư người nữ nói với
người nam hoặc để làm thành vợ chồng,
hoặc việc tư thông, dù chỉ trong giây lát,
Tăng-già-phạt-thi-sa.”
+ Lại có Bí-sô, là chỉ cho
Hắc Lộc Tử và Lục chúng Bí-sô. Ngoài ra, bao nhiêu
nghĩa đồng như trước. Môi giá là sứ
giả qua lại giữa đôi bên. Đem ư của
người nam nói với người nữ, đem ư
người nữ nói với người nam, tức là truyền
đạt ư của nam nữ để thành vợ
chồng hay để tư thông. Có bảy thứ vợ,
có mười thứ tư thông.
Bảy thứ vợ là ǵ ? -
Thuỷ thọ, Tài sính, Vương kỳ, Tự lạc, Y
thực, Cộng hoạt, Tu du.
Nhiếp tụng:
Vợ bằng phép
thuỷ thọ
Vợ, Tài
sính, Vương kỳ
Vợ,
Tự lạc, Y thực
Vợ,
cộng hoạt, tu du.
+ Thủy thọ phụ: Cha
mẹ của người nữ không lấy của
cải chỉ dùng nước rót trong tay của
người chàng rễ mà nói rằng: “Nay ta đem
đứa con gái này gả cho cậu làm vợ, cậu
phải khéo ḿnh pḥng hộ, đừng để
người khác khi phạm”. Như vậy gọi là vợ
bằng phép rót nước (thuỷ thọ phụ)
+ Tài sính phụ: Đem con gái
ḿnh trao đổi để lấy tài vật. (nói
đầy đủ như trước) như vậy
gọi là vợ đổi lấy bằng của (Tài sính
phụ).
+ Vương kỳ phụ:
Như ḍng Sát-đế-lợi rưới nước trên
đảnh đại vương, nghiêm chỉnh binh
kỳ chinh phạt nước nào không chịu thần
phục. Khi chiến thắng rồi tuyên bố: “Ai cần
lấy người nữ làm vợ th́ tùy ư”. Do quyền
lực này của nhà vua được lấy con gái làm
vợ. Lại có trường hợp tự ḿnh làm chủ
giặc cướp đánh phá thôn xóm, ấp thành rồi
bắt người nữ làm vợ. Như vậy gọi
là Vương kỳ phụ.
+ Tự lạc phụ: Phái
nữ tự t́m đến người nam nào đó vừa
ư, nói: “Nay tôi vui ḷng được làm vợ ông.
Người nam kia chấp nhận”. Như vậy gọi
là Tự lạc phụ.
+ Y thực phụ: Phái nữ
tự đến người nam nào đó, nói: “Ông cung
cấp cơm áo cho tôi, tôi sẽ làm vợ ông”. Như
vậy gọi là y thực phụ.
+ Cộng hoạt phụ: Phái
nữ tự đến nơi người nam nào đó,
nói: “Của cải của tôi và của cải của ông
chung lại một chỗ cùng nhau làm sự sống”.
Như vậy gọi là cộng hoạt phụ (chung sống).
+ Tu du phụ: Làm vợ tạm thời. Như
vậy gọi là tu du phụ.
Mười thứ tư thông
là ǵ ?
- Tức là mười
hạng người đă được bảo hộ:
Cha bảo hộ, mẹ bảo hộ, anh em bảo hộ,
chị em bảo hộ, Đại công bảo hộ,
Đại gia bảo hộ, thân bảo hộ, chủng bảo
hộ, tộc bảo hộ, Vương pháp bảo
hộ.
Nhiếp tụng:
Mười
hộ là cha mẹ
Anh em và chị em
Đại
công cùng Đại gia
Thân chủng,
Tộc, Vương pháp.
+ Cha bảo hộ:
Người nữ chồng chết, hoặc bị trói
cấm, hoặc thời chốn thoát, người cha
bảo hộ. Nên gọi là cha bảo hộ. Mẹ bảo
hộ cũng vậy.
+ Anh em bảo hộ:
Người nữ bị cha mẹ và chồng đều
qua đời, hoặc bị thất lạc tứ
tản, đến nhà anh em chung sống, anh em bảo bọc,
chăm lo, cho nên gọi là anh em bảo hộ. Chị em
bảo hộ cũng vậy.
+ Đại công bảo
hộ: Người nữ cha mẹ, tôn thân đều qua
đời, người chồng bị đau ốm
hoạn nạn hay bị điên cuồng, nương
nơi đại công để sống. Đại công
bảo người phụ nữ mà ông bảo hộ: “Con
nhận lấy sự vui vẻ sống với bên ta. Ta suy
nghĩ thương con như con của ta”. Đại công
thủ hộ như pháp, cho nên gọi là đại công
bảo hộ, Đại gia bảo hộ cũng vậy.
+ Thân bảo hộ: Quyến
thuộc từ bảy đời trở lui gọi là thân.
Người nữ bị cha mẹ, anh em, chị em, phu
chủ đều qua đời, hoặc bị điên
cuồng, hoặc bị lưu lạc đó đây, bèn
đến nương nhờ sự sống nơi thân
quyến. Như vậy gọi là thân bảo hộ.
+ Chủng bảo hộ:
Tức là Bà-la-môn, Sát-đế-lợi,
Bệ-xá-mậu-đạt-la. Người nữ
nương sống với chủng loại của ḿnh,
gọi là chủng bảo hộ.
+ Tộc bảo hộ: Trong
ḍng Bà-la-môn v.v… có từng tộc riêng, như
Phả-la-đọa, Đổ cao… Người nữ
nhờ tộc riêng đó bảo hộ, cho nên gọi là
tộc bảo hộ.
+ Vương pháp bảo
hộ: Người nữ bị thân tộc… không c̣n
một ai cả, chỉ có một tấm thân mà thôi. Nhờ
pháp của vua nên không bị ai khinh khi, cho nên gọi là
vương pháp bảo hộ.
+ Lại có trường
hợp gọi là pháp hộ, tức có người nữ
sống đời sống tiết hạnh trinh tâm, không ai
dám khinh, gọi là pháp hộ.
+ Tăng-già-phạt-thi-sa,
như đă giải thích nơi giới trước.
+ Trong vấn đề này
tướng phạm của nó như thế nào ?
+ Với các người
phụ nữ trên, trạng thái ly biệt của họ có
bảy trường hợp.
Nhiếp tụng:
Đang và
sau đấu tranh
Bẻ
cỏ liệng ba hướng
Y pháp phi
vợ tôi
Phổ cáo
nói nhiều người.
Bảy trường hợp
là những ǵ ?
- Một, ngay khi đấu
đá căi vă gay gắt xa ĺa
- Hai, sau khi đấm đá
căi vă gay gắt rồi mới xa ĺa.
- Ba, bẻ cỏ làm ba
đoạn thề để xa ĺa.
- Bốn, ném gạch ngói ba
hướng thề để xa ĺa.
- Năm, y nơi pháp
đối với thân quyến mà xa ĺa.
- Sáu, tuyên bố rằng không
phải là vợ của tôi để xa ĺa.
- Bảy, tuyên bố rộng
răi cho nhiều người biết để xa ĺa.
Bí-sô thấy người
thế tục nào đó với ba hạng vợ
đầu, nhơn khi đấu đá tranh giành tạo ra
sự ly biệt… nếu trường hợp ly biệt đầu
mà khiến cho hoà hiệp, phạm một Ác tác.
Nếu
làm cho trường hợp thứ hai ḥa hợp, phạm hai
Ác tác. Nếu làm cho trường hợp thứ ba ḥa
hợp lại, phạm ba Ác tác. Nếu làm cho trường
hợp thứ tư, thứ năm, thứ sáu hoà hợp
lại theo thứ tự phạm: Một, hai, ba thô tội.
Nếu làm cho trường
hợp thứ bảy ḥa hợp lại, phạm
Tăng-tàn. C̣n bốn loại hạng vợ khác và
mười loại tư thông đối với bảy
trường hợp xa ĺa th́ tùy theo một loại biệt
ly, nếu Bí-sô lại lập sự hoà hợp đều
phạm tội Tăng-tàn, nên nhiếp tụng nói:
Tự nhận
theo sứ nhận
Hai Bí-sô
bốn nghi
Trước
sau tương tùy hành
Tôn ty duyên
cập sự.
Nếu Bí-sô tự nhận
lời, tự đến nói, tự trả lời,
phạm Tăng-già-phạt-thi-sa.
Nếu
Bí-sô tự nhận lời, tự đến nói, sai
người trả lời, phạm
Tăng-già-phạt-thi-sa.
Nếu Bí-sô tự nhận
lời, sai người đến nói, tự hồi âm,
phạm Tăng-già-phạt-thi-sa.
Nếu Bí-sô tự nhận
lời, sai người đến nói, sai người
trả lời, phạm Tăng-già-phạt-thi-sa.
Nếu Bí-sô nhận lời
qua sứ giả, tự đến nói, tự quay lại
trả lời: hoặc nhận lời qua sứ giả,
tự đến nói, sai sứ giả trả lời;
hoặc nhận lời qua sứ giả, sai sứ giả
đến nói, tự quay lại trả lời; hoặc
nhận lời qua sứ giả, sai sứ giả
đến nói, sai sứ giả trả lời, đều
phạm tội Tăng-tàn.
Nếu Bí-sô, đối
với sứ của sứ giả nhận lời họ,
tự đến nói, tự quay lại trả lời,
hoặc với sứ của sứ giả nhận lời
họ, tự đến nói, tự quay lại trả
lời; hoặc nhận lời từ sứ giả
của sứ giả, sai sứ giả đến nói,
rồi tự quay về báo lại, hoặc với sứ
của sứ giả nhận lời họ, sai sứ nói,
sai sứ báo đều phạm Tăng-tàn.
Nếu hai Bí-sô tự nhận
lời, cả hai đều đến nói, cả hai
đều quay lại trả lời, đều phạm
Tăng-tàn.
Nếu hai Bí-sô tự nhận
lời, cả hai tự đến nói, cả hai
đều không trở lại trả lời, cả hai
đều phạm hai Thô tội.
Nếu hai Bí-sô tự nhận
lời, cả hai đều không đến nói cả hai
đều không trở lại trả lời, cả hai
đều phạm một Thô tội.
Nếu hai Bí-sô tự nhận
lời, một người nói: Ngài đến đó
truyền ư của tôi và trở lại trả lời, làm y
theo lời nói đó, cả hai đều phạm tội
Tăng-tàn.
Nếu hai Bí-sô tự nhận
lời, một người nói: Tôi chỉ đến nói
chứ không trở lại trả lời, một
người bèn trở lại trả lời, người ấy
đến nói rồi trở lại trả lời,
phạm Tăng-tàn, người không trở lại trả
lời phạm hai Thô tội.
Nếu hai Bí-sô tự nhận
lời, một người nói: Tôi không đến nói,
cũng không trở lại trả lời; người kia
đến nói, trở lại trả lời, phạm
tội Tăng-tàn; người không đến nói, không trở
lại trả lời phạm một Thô tội.
Nếu một Bí-sô, cùng
một nam tử, một nữ nhơn đồng đi
trên đường. Người nam tử kia nói với
Bí-sô rằng: Thánh giả! Có
thể nói giúp nữ nhơn ấy, làm vợ tôi, hoặc
tạm thời cùng sống với nhau không ?
Hoặc người nữ
kia nói với Bí-sô rằng: Thánh giả! Có thể nói giúp
với nam tử làm chồng tôi, hoặc tạm thời
sống chung với nhau không? Bí-sô này nhận lời
rồi, bèn làm việc thông tin và trở lại trả
lời, phạm Tăng-tàn. Đi như vậy,
đứng, nằm, ngồi chuẩn theo đây nên
biết.
Nếu có hai Bí-sô, hai nam, hai
nữ; hoặc ba Bí-sô, ba nam, ba nữ v.v… cho đến nói
rộng ra, phạm tội Tăng-tàn.
Nếu hai Bí-sô, một
người đi trước, một người theo sau,
người đi trước tự nhận lời,
đến nói rồi trở lại trả lời,
người đi trước phạm tội Tăng-tàn,
người đi theo sau không phạm.
Nếu Bí-sô đi
trước tự nhận lời, sai Bí-sô đi sau
đến nói sự thật mà ḿnh đă ghi nhận, Bí-sô
đi trước tự trở lại trả lời,
Bí-sô đi trước phạm hai Thô tội. Bí-sô đi sau
phạm một Thô tội.
Nếu Bí-sô đi
trước tự nhận lời, Bí-sô đi trước
tự đến nói, sai Bí-sô đi sau trở lại
trả lời, Bí-sô đi trước phạm hai Thô
tội, Bí-sô đi sau phạm một Thô tội.
Nếu Bí-sô đi
trước tự nhận lời rồi, sai Bí-sô đi sau
đến nói và trở lại trả lời, Bí-sô đi
sau phạm hai Thô tội, Bí-sô đi trước phạm
một Thô tội.
Như Bí-sô đi
trước, Bí-sô đi sau, hành động sai khác, phạm
tội ít hay nhiều như vậy nên biết. Bí-sô đi
theo sau sai Bí-sô đi trước, hành động sai khác,
phạm tội ít hay nhiều chuẩn theo trên th́ biết.
Có hai gia đ́nh Trưởng
giả, một tự tại, một không tự tại.
Tự tại có nghĩa là làm chủ lấy ḿnh.
Đối với nam nữ, tự thân chủ động
nắm lấy t́nh cảm của ḿnh.
Nếu đến quan, ty nào
hoặc giữa đám đông, dù có nói phản sự
thật, họ vẫn được người ta
chấp nhận tin theo. Đây được gọi là
tự tại. Không tự tại, đây có nghĩa là thấp
kém hèn mọn. Đối với
nam nữ tự thân không chủ động nắm
lấy khả năng của ḿnh.
Nếu đến quan, ty nào
hoặc giữa đám đông dù có nói sự thật
vẫn không được người chấp nhận tin
theo. Đây gọi là không tự tại. Bí-sô đối
với kẻ tự tại nhận lời họ
đến nói với người tự tại rồi quay
lại với kẻ tự tại, phạm Tăng-tàn.
Bí-sô đối với kẻ tự tại bên họ
nhận lời, đến nói với người tự
tại rồi quay lại nói với người không
tự tại phạm hai Thô tội và một Ác tác .
-
Bí-sô đối với kẻ tự tại nhận
lời họ, đến nói với người không
tự tại rồi quay trở lại báo cho người
tự tại phạm hai Thô tội, một Ác tác.
Bí-sô
tự tại nhận lời họ đến nói
người không tự tại rồi quay lại báo cho
người không tự tại phạm một Thô tội,
hai Ác tác.
Bí-sô không tự tại
nhận lời họ đến nói với người
không tự tại rồi quay về báo với người
tự tại, phạm hai Ác tác, một Thô tội.
Bí-sô không tự tại bên
họ nhận lời, đến nói với người
tự tại rồi quay về báo với người không
tự tại phạm hai Ác tác tội, một Thô tội.
Bí-sô không tự tại bên
họ nhận lời, đến nói với người
tự tại rồi về báo với người tự
tại phạm hai Thô tội, một Ác tác.
Người không tự
tại bên họ nhận lời, đến nói với
người không tự tại rồi quay về báo với
người không tự tại, phạm ba Ác tác.
Bí-sô lại có ba duyên
để làm việc mai mối dù nhận được
cả ba không phải dùng lời báo ǵ cả cũng thành
việc mai dong .
Ba duyên ấy là ǵ ?
- Một là điểm
hẹn.
- Hai là thời gian hẹn.
- Ba là đặc điểm
dấu hiệu để nhận đúng.
Thế nào là điểm
hẹn ?
- Báo cho người kia
biết: Nếu thấy tôi trong vườn…hoặc chỗ
thờ trời… hoặc chỗ đông người. Ông
tức khắc nhận ra ngay sự việc ấy
đạt kết quả. Đây được gọi là
điểm hẹn.
Thế nào gọi là thời
gian hẹn ?
- Như nói với
người kia: Nếu vào bữa sáng, hoặc vào giữa
ngày, hay vào lúc xế mà thấy tôi, ông tức th́ nhận ra
ngay và việc ấy thành tựu. Như vậy gọi là
thời gian hẹn.
Thế nào gọi là
đặc điểm dấu hiệu ?
- Như nói với
người kia: Nếu thấy tôi mới cạo tóc,
hoặc mặc đại y mới, hoặc cầm tích
trượng, hay khi bưng b́nh bát đầy cả tô,
dầu, ông tất nhiên sẽ nhận ra, việc ấy
thành tựu. Như vậy gọi là hiện tướng.
Ba duyên này, tuy nhận
được lời nói, nhưng không dùng lời nói
để trả lời, cũng thành việc mai mối.
Lại
có ba việc làm, việc trong trường hợp sứ
giả cũng thành việc mai mối:
- Một là dùng lời nói.
- Hai là dùng thư từ.
- Ba là dùng thủ ấn.
Nếu Bí-sô tự nhận
lời làm sứ giả, dùng lời đến nói, dùng
lời quay trở lại báo phạm Tăng-tàn.
Nếu Bí-sô tự nhận
lời làm sứ giả, dùng lời đến nói, dùng
thơ trả lời phạm Tăng-tàn. Bí-sô tự
nhận lời sứ giả, dùng thơ đến nói, dùng
lời quay về báo lại phạm Tăng-tàn.
Nếu Bí-sô tự nhận
lời sứ giả, dùng thư đến nói, dùng thư
hoàn báo phạm Tăng-tàn.
Nếu Bí-sô tự nhận
lời sứ giả, hoặc bằng thơ từ liên
lạc, hoặc dùng địa điểm để
hẹn, hoặc thời gian hẹn, hoặc hiện
tướng để trả lời đều phạm
Tăng-tàn… Đây được gọi là sứ giả
kiêm thư từ có năm loại biệt sai.
Nếu Bí-sô tự nhận
lời sứ giả, dùng lời đến nói rồi dùng
lời phúc báo phạm Tăng-tàn.
Nếu Bí-sô nhận lời
sứ giả dùng lời đến đó nói dùng dấu
hiệu tay (thủ ấn) để phúc báo, phạm
Tăng-tàn.
Nếu Bí-sô tự nhận
lời sứ giả, dùng cách ra dấu tay đến thay
lời, dùng lời nói phúc báo, phạm Tăng-tàn.
Nếu Bí-sô tự nhận
lời sứ giả, dùng thủ ấn đến thay
lời, dùng thủ ấn để phúc đáp, phạm
Tăng-tàn.
Nếu Bí-sô tự nhận
lời sứ giả, dùng dấu hiệu tay thay lời
đến nói, nếu dùng điểm hẹn, giờ nào,
hoặc lấy hiện tướng mà quay lại phúc
đáp, phạm Tăng-tàn. Đây được gọi
sứ gồm thủ ấn có năm loại biệt sai.
Như vậy với lời
nói kiêm thư từ, ấn tay có hai mươi lăm cách
không giống nhau. Cũng như vậy, với thư
từ kiêm lời nói, thủ ấn; với thủ ấn
kèm theo lời nói, thư từ và lời nói thư từ,
thủ ấn. Nói rộng ra bao gồm nhiều cách hổ
tương đối với vấn đề sứ
giả.
Nếu Bí-sô đồng môn
đến nhà thí chủ nói như vầy: Người con
gái này đă trưởng thành sao không lấy chồng,
người con trai này đă lớn sao không lấy vợ,
đều phạm Ác tác tội. Nếu nói: Người con
gái này sao không về nhà chồng ? Sao người con trai này
không đến nhà vợ, cũng đều phạm Ác tác.
Đồng môn Bí-sô
đến nhà thí chủ nói xoay ngược lại với
trên đều phạm tội Ác tác.
Trường hợp không
phạm: Người phạm ban đầu, hoặc bị
cuồng si, tâm loạn, thống năo bức bách trong hành
động.
Học xứ thứ
sáu: Làm pḥng nhỏ .
Đức Phật ở thành
Thất-la-phạt, vườn ông Cấp-cô-độc,
rừng Thệ-đa. Bấy giờ có nhiều Bí-sô mở
rộng việc tạo lập pḥng xá. Hiềm nỗi
hoặc dài quá hoặc ngắn quá hoặc rộng thênh thang,
khổ nỗi có cái bị hư nát không thể nào sửa
chữa điều chỉnh lại được.
Tất cả đều phải giở bỏ làm lại
cái mới, tự làm khiến nhiều người lao
nhọc, đưa đến phế bỏ việc tu hành,
trở ngại vấn đề tư duy thiền quán.
Để thực hiện, Bí-sô đến Trưởng
giả, Cư sĩ, mọi thứ đều khất
cầu như tranh, tre, cây, xe chở vật liệu và nhân
công, làm phiền các thí chủ.
Khi ấy Cụ thọ
Ma-ha-ca-diếp-ba an trú nơi chốn A-lan-nhă bên ngoài thành
này, nghe số đông các Bí-sô, làm pḥng xá, dẫn đến
làm phiền các thí chủ. Ghi nhận sự việc này, Ngài
liền đến chỗ đức Thế Tôn, lễ hai
chân Phật rồi ngồi qua một bên, bạch Phật
rằng:
- Kính bạch đức
Thế Tôn! Con nghe một số đông các Bí-sô tạo
lập pḥng xá, v́ hiềm cái hiện có rộng, hẹp nên
làm cái mới, trở ngại việc tu thiện, thậm
chí làm phiền bận thí chủ… Cúi xin đức Thế
Tôn v́ ḷng lân mẫn, đối với các Bí-sô, chế ra
pháp thức về vấn đề xây cất pḥng xá.
Khi ấy, đức Thế
Tôn nghe Cụ thọ Ca-diếp-ba nêu ư kiến như
vậy, Ngài hứa khả bằng cách im lặng. Khi đă
nhận biết được sự chấp thuận
của Phật, Ca-diếp-ba đảnh lễ cáo lui.
Một đêm lại trôi qua… sáng đến Ca-diếp-ba
muốn bảo hộ đồng phạm hạnh, cho nên
chấp tŕ y bát du hành nhơn gian.
Lúc bấy giờ, đức
Thế Tôn lấy việc đó làm nhơn duyên, tập
hợp các Bí-sô, cho đến câu hỏi:
- Này các Bí-sô! Thật sự
các ông đă làm các pḥng xá, v́ hiềm cái cũ là quá rộng,
quá hẹp, bày biện mọi cách để xây cất…
thậm chí làm phiền các thí chủ phải thế không ?
Các Bí-sô thưa:
- Kính bạch đức
Thế Tôn! sự thật là như vậy.
Thế rồi đức
Thế Tôn bằng mọi cách quở trách hạng
người nhiều ham muốn, không nhàm chán không biết
đủ, khó nuôi dưỡng và khen ngợi người ít
ham muốn, biết vừa đủ, mọi thứ
đều dư thừa, dễ dàng nuôi sống. Luôn luôn làm
cho tấm thân hướng đến hạnh tu
Đỗ-đa, lượng mức thọ nhận,
tương xứng với mực thước oai nghi
chỉnh tề. Ngài bảo các Bí-sô:
-
Ta quán mười điều lợi, cho đến v́ các
Bí-sô, đối với Tỳ-nại-da, chế học
xứ này như sau:
“Nếu lại có Bí-sô tự
đi xin làm pḥng nhỏ, không có thí chủ làm, cần
phải làm đúng lượng, trong đây đúng
lượng là dài mười hai gang tay Phật, rộng bảy
gang tay Phật. Bí-sô ấy phải mời các Bí-sô
đến quan sát chỗ cất pḥng. Chúng Bí-sô kia phải
xem xét chỗ cất. Nơi đây là chỗ ứng pháp
tịnh, chỗ không có sự tranh cạnh, chỗ có
hướng tiến lên.
Nếu
Bí-sô đối với chỗ không ứng pháp, không
tịnh, chỗ có tranh cạnh, chỗ không có hướng
đi lên, tự đi xin làm pḥng nhỏ, không có thí chủ
làm, không mời các Bí-sô đến xem xét chỗ nơi.
Đối với chỗ như vậy mà làm quá
lượng định, Tăng-già-phạt-thi-sa”.
+ Lại có Bí-sô: Chỉ có
người trong pháp này. Ngoài ra, lại các nghĩa khác
như trước đă nói. Tự đi xin là tự ḿnh
đi xin vật tư và nhơn công. Pḥng nhỏ là pḥng
vừa đủ dung bốn oai nghi, đi, đứng,
nằm, ngồi cho một người. Làm là tự ḿnh làm
hay nhờ người khác làm. Không có thí chủ, tức
không có nam nữ, Bán-trạch-ca làm người thí chủ.
Làm cho chính ḿnh nghĩa là tự ḿnh làm theo lượng
phải làm. Lượng ở đây là dài mười hai
gang tay Phật. Phật được gọi là vị
Đại sư. Một gang tay của Đại sư
bằng ba gang tay của người trung b́nh. Mười hai
gang tay Phật tương đương với
mười tám khuỷu tay người. Rộng bảy gang
tay Phật bằng mười khuỷu tay rưỡi
người thường. Bí-sô ấy chỉ làm cho Bí-sô làm
pḥng. Nên đưa chúng Bí-sô đến quan sát chỗ làm
pḥng…
Nếu không tự tiên
liệu quan sát, không nên vội đưa các Bí-sô
đến.
Nếu tự xem xét chỗ
sẽ làm có ổ kiến, ổ mối, rắn, ḅ cạp,
trùng th́ gọi là chỗ bất tịnh, pháp không nên
cầu.
Nếu chỗ thanh tịnh
th́ lần lượt xem xét đến chỗ sống
được.
Nếu chỗ gần gia
tộc vua, chỗ thờ trời hoặc nhà Trưởng
giả, nhà ngoại đạo, chùa Bí-sô-ni… hoặc phải
chặt cây có giá trị th́ đây gọi là chỗ có tranh
cạnh, pháp không nên cầu.
Nếu chỗ không có hoạn
nạn th́ chỗ bốn phía bên ngoài th́ thấp xuống
đến một tầm, chỗ có thể đi, lại
dễ dàng cũng phải xem xét đến.
Nếu chỗ có sông có
giếng hoặc lâm vào hóc hiểm th́ đây là chỗ không
thể có hướng đi lên, pháp không nên cầu.
Nếu chỗ thanh tịnh,
không có sự cạnh tranh, có hướng đi lên, xem xét
được như vậy rồi, Bí-sô ấy về chùa
trải toạ cụ, đánh kiền chùy, nêu lư do, xin phép
chúng nhóm họp. Trước Đại chúng cởi giày,
dép, mặc áo trống vai hữu, chí kính theo thứ tự
lớn nhỏ rồi, đến trước
Thượng tọa, ngồi cḥm hỏm gối sát
đất chấp tay thưa:
-
Đại đức Tăng-già nghe cho! Tôi tên là… Bí-sô
muốn xây cất pḥng xá tôi đă xem xét chỗ
được như pháp rồi. Nay, tôi là Bí-sô… xin
được xây cất pḥng nhỏ nơi chỗ như
pháp đó, cầu Tăng-già hứa khả. Duy nguyện
Đại đức Tăng-già nghe cho, tôi là Bí-sô… xin
được xây cất pḥng xá nơi chỗ như pháp
đó. Từ mẫn cố !(nói ba lần).
Khi ấy, các Bí-sô không nên tin
theo lời Bí-sô kia đă nói mà không đến xem xét lại.
Các Bí-sô nên cùng nhau đến xem xét. Hoặc chúng Tăng
khiến nhiều Bí-sô đáng tin cậy đến tận
nơi xem xét.
Nếu chỗ ấy không
thanh tịnh, có cạnh tranh, không có chỗ tấn thú th́
không nên cho làm.
Nếu chỗ ấy thanh
tịnh không có pḥng nạn, Bí-sô xem xét, trở về chùa,
như pháp tập chúng rồi, đến trước Thượng
tọa ngồi cḥm hỏm, gối sát đất, tác
bạch:
Đại đức
Tăng-già nghe cho. Địa điểm mà Bí-sô tên là…
muốn xây cất pḥng nhỏ, chúng tôi đă đích thân
đến xem xét, chỗ ấy thanh tịnh, không có các pḥng
nạn. Tăng-già nay có thể ghi nhận được
rồi. Tiếp theo khiến một Bí-sô tác bạch
Yết-ma như sau:
“Đại đức
Tăng-già nghe cho! Bí-sô xây cất tên là… đây, đối
với chỗ muốn xây cất xem xét ghi nhận là thanh
tịnh. Việc xây dựng Bí-sô này, với mọi thủ
tục nơi chốn đều được pháp thanh
tịnh. Nay đến cầu xin Tăng-già hứa khả”.
Nếu
thời gian thích hợp đối với Tăng,
Tăng-già nay cho Bí-sô này xây cất. Bí-sô đối với
địa điểm ứng pháp thanh tịnh
được xây cất trong pḥng xá. Đây là lời tác
bạch. Kế đến tác Yết-ma chuẩn theo lời
tác bạch mà làm.
Nếu Bí-sô kia đă
được chúng tác bạch hứa khả rồi th́ tùy
ư xây cất, không có ǵ phải nghi hoặc.
+ Tăng-già-phạt-thi-sa,
tội này nương nơi Tăng mà được
trừ diệt, cho đến xuất tội chứ
chẳng phải nương nơi người khác. Vô tàn,
Hữu tàn như đă nói ở giới trước.
Trong vấn đề này,
tướng phạm của nó như thế nào?
-
Bí-sô nơi chỗ không tịnh, có tranh chấp, không có
chỗ tấn thú, tự ḿnh làm hay sai người khác làm
pḥng nhỏ, trong ba vấn đề, tùy theo đó có
một vấn đề bị lỗi đều phạm
Tốt-thổ-la-để.
Tăng
không cho mà làm cũng phạm Tốt-thổ-la-để. Làm
quá lượng cũng phạm Tốt-thổ-la-để.
Phạm cả ba lỗi như đă nói mà làm phạm
Tăng-già-phạt-thi-sa.
Nếu
Bí-sô đến nơi chỗ các Bí-sô khác nói như vầy:
Thầy nên v́ tôi, đối với chỗ không có tranh
cạnh, có tấn thú, cầu tăng thính hứa
được rồi chứ đừng khiến
đến việc xây dựng pḥng nhỏ quá lượng.
Thế rồi, Bí-sô kia
lại làm pḥng nhỏ nơi chỗ có tranh cạnh,
hoặc không có chỗ có tấn thú, hoặc là Tăng không
hứa khả, hoặc là làm quá lượng, Bí-sô xây cất
kia phạm Tốt-thổ-la-để. Nếu phạm
đủ các lỗi mà làm, phạm Tăng-già-phạt-thi-sa.
Nếu Bí-sô kia đến
nơi Bí-sô cất nói như vầy: Nay, thầy làm pḥng
rất là tốt đẹp, như lời tôi nói không có trái
ngược, có thiếu vật tư… tôi sẽ cung
cấp.
Nếu
đối với chỗ có tranh cạnh, hoặc là không có
chỗ tấn thú, hoặc là Tăng không cho phép, hoặc làm
quá lượng, cả hai người đều phạm
Tốt-thổ-la-để.
Nếu đều phạm các
lỗi, cả hai người đều phạm
Tăng-già-phạt-thi-sa.
Nếu Bí-sô kia đến
nơi Bí-sô xây cất nói như vầy: Nay, Thầy làm pḥng
này rất là không tốt, trái ngược với lời tôi
đă nói, thiếu vật tư tôi không cung cấp,
người làm kia phạm tội như trước, Bí-sô
kia không phạm.
Nếu pḥng xá đă thành
rồi, hoặc pḥng cũ thọ dụng, hoặc là
sửa lại pḥng cũ th́ không phạm.
Lại trường hợp
không phạm nữa là: Người phạm ban đầu,
hoặc si cuồng tâm loạn thống năo, bức bách trong
khi hành động.
Học xứ thứ
bảy: Xây cất chùa lớn
Đức Phật ở
tại vườn Kiều-thiểm-tỳ-cù-sư-la. Khi
Lục chúng Bí-sô, trong những lúc ở chùa của
người khác, thường khởi lên sự cơ hiềm
nhỏ mọn.
Nan-đà nói với
Ô-ba-nan-đà rằng:
- Xem ra chùa này mái nóc nghiêng
đổ, tường vách xiêu vẹo, giống nhà của
voi ở không thể ở lâu được.
Khi
nghe thế, các Bí-sô liền nói:
-
Này các Cụ thọ, các Ngài chỉ chuyên ở nhờ chùa
người ta cất sẵn, các Ngài không tốn công không
sắp nữa viên đá để cất cái am nhỏ, mà
cứ chê chùa này, chê chùa kia, cơ hiềm việc của
người khác.
Tức khắc Lục chúng
gọi bảo với nhau rằng:
- Nan-đà, Ô-ba-nan-đà
ơi! chúng ta bị quư vị Hắc bát khinh khi, chúng ta nên
cất riêng chùa khác để ở. Tuy nhiên, đừng
để kẻ Hắc bát từng không nh́n mặt nhau
lại cùng nhau xuyên tạc rằng: Chúng ta, nếu cùng
hợp tác làm chùa th́ người Hắc bát kia đắc
thắng cho ta là các vết hỏng tội lỗi ở trên
tường.
Họ lại bèn mĩa mai:
- Lục chúng Bí-sô đều
là kẻ lao động như người làm thuê. Khiến
dẫn đến việc khất thực hằng ngày
của chúng ta bị khinh tiện trong cái nh́n mọi
người. Nay ta nên từ trong chúng chỉ định,
mời ra một người thông minh lợi trí khéo biết
cơ nghi, có thể lấy sự đấy để tinh
tế xuyên thủng mọi việc khó khăn, nói rất ít
mà thu hoạch được nhiều trân tài. Chúng ta nên
mời vị nào làm công việc Thọ sự này ?
Ô-ba-nan-đà vừa nghe xong,
phát biểu:
-
Ư kiến vừa tŕnh bày là rất hay. Xong, trong chúng ta ai là
người đủ điều kiện đó ? Theo tôi
Thánh giả Xiển-đà là người làm được
việc ấy, chúng ta nên đến thỉnh ngài.
Lục chúng đồng ư,
liền đến chỗ Xiển-đà, thưa:
- Cụ thọ
Xiển-đà! Nay, ngài có biết chăng: ... (đem tất
cả sự việc như đă xảy ra tŕnh bày rồi
nói tiếp). Chỉ có Đại đức là người
thông minh, lợi trí... có thể hoàn thành trọng trách
ấy.
Xiển-đà vừa nghe
vừa suy nghĩ, rồi trả lời:
- Lành thay! Lành thay! Đây là
việc đại phước điền ḿnh,
người đều có lợi. Để khỏi trái ư
của chúng, chúng ta cùng nhau tùy hủy.
Lúc bấy giờ, Cụ
thọ Xiển-đà, từ ngoài pḥng, rửa chân rồi
vào trong pḥng, kiết-già yên ngồi, khởi ư nghĩ: “Ta nên
v́ phương tiện nào để v́ Tăng xây cất
ngôi chùa lớn đây!? Lại suy nghĩ: Người,
Trời trong thế gian này, đối với đức
Thế Tôn hầu hết đều sanh ḷng kính tín, như
gia đ́nh... Kia có tâm kính tín đối với Cụ
thọ A-thận-nhă-kiều-trần-như; gia
đ́nh...ấy là chỗ quen biết Cụ thọ Mă
Thắng; gia đ́nh... là chỗ quen biết
Bạt-đà-la. gia đ́nh... chỗ theo Bà-sáp-ba, gia
đ́nh... chỗ của Đại Danh, gia đ́nh...
chỗ thân của Măn Từ, gia đ́nh... chỗ quen
của Vô Cấu, gia đ́nh... với Ngưu Vương là
chỗ thân, gia đ́nh... với Xá-lợi-tử chỗ thân
tín, gia đ́nh với Mục-liên là chỗ rất quen.
Tất đại Bí-sô khác đều có chỗ quen biết
và các thí chủ này đem ḷng kính tín rất sâu đậm.
C̣n ta th́ không có thí chủ nào đáng kể cả, dựa
vào đâu để xây dựng ngôi chùa lớn này ?”
Lúc bấy giờ, trong thành có
một người Bà-la-môn, giàu có nhiều của cải,
xong, bẩm tánh keo kiết, cho đến một chút
nước rửa tay cũng không thí cho ai dùng. Trường
hợp được giáo hóa người này, khiến
họ sanh tín tâm th́ có thể xây cất được trú
xứ lớn cho Tăng. Thế rồi, sáng hôm đó
Xiển-đà đắp y mang b́nh bát vào thành
Kiều-thiểm-tỳ tuần tự khất thực.
Trước hết vào một vài nhà nhận được
một ít bún rồi, bèn đến nơi cửa ngơ của
người Bà-la-môn kia, với ư muốn vào nhà. Khi ấy,
người giữ cửa ngơ nói với Xiển-đà Pháp
sư là nhà người Bà-la-môn này không thể vào
được. Xiển-đà
nói:
- Đức Thế Tôn
Phật bảo người khất thực chỉ tránh
năm nhà, nhà xướng ca, nhà dâm nữ, nhà nấu
rượu, nhà Chiên-trà-la, nhà vua. Đâu phải nhà này thuộc
năm loại nhà đó ?!
Người giữ cửa tỏ
vẻ khó chịu, trả lời:
- Pháp sư quá cơ hiềm
trong lời nói đùa lộng! Đây không phải là nhà
thuộc năm loại đó. Xong nhà người Bà-la-môn
này họ không muốn Pháp sư vào.
Xiển-đà liền khi
ấy có ư nghĩ: “Mong cầu cầm cái vạt áo c̣n không
cho phép gần, huống là cầu mong việc ǵ khác đâu
có thể được!”
Ngay
thời điểm ấy, có một Trưởng giả
vừa sanh được một hài nhi, mở đại
tiệc vui mừng, ḥa tấu các bài cổ nhạc, dẫn
điệu cho các kỹ nữ múa, đi ngang qua
trước cửa ngơ. Người giữ cửa kia ham
coi vũ nhạc nên bỏ cửa không gác. Thế là,
Xiển-đà thừa cơ hội ấy đi thẳng
vào trong nhà, với oai nghi sáng rỡ sắc nét giống
như người ly dục.
Người Bà-la-môn vừa từ xa trông
thấy, liền cất tiếng chào:
-
Thiện tai Đại đức! Mời Đại
đức tạm nghỉ nơi ṭa này.
Xong Xiển-đà không vội
ngồi v́ xét thấy chưa đáng phải ngồi,
lại bảo với Bà-la-môn rằng:
- Tôi đă tuần tự
đi đến mấy nhà xin được ít bún.
- Ngài làm ơn cho mượn cái ǵ để
đựng bún.
Người Bà-la-môn bảo
đứa ở cung cấp vật dụng đựng bún
cho Xiển-đà. Tiểu tỳ tuân lời và đáp
ứng ngay. Lúc đó, Xiển-đà chăm chú quan sát vào
đồ đựng bún. Người Bà-la-môn thấy
vậy, hỏi:
- Ngài chăm chú xem cái ǵ.
Xiển-đà bảo
rằng:
- Tôi muốn thử xem có trùng
hay không. Nếu có trùng th́ tôi không nên dùng.
Người Bà-la-môn hỏi
lại:
- Nếu có trùng mà dùng th́ có
lỗi ǵ?
Xiển-đà bảo:
- Đức Thế Tôn
dạy: “Người nào thường làm nghiệp sát sanh,
thân hoại mạng chung đọa nơi địa
ngục thọ các khổ năo, dầu đặng làm người,
nhiều bệnh, chết yểu”.
Vốn Xiển-đà Bí-sô là người lăo
thông Tam tạng, biện tài vô ngại, khéo hay thuyết pháp,
bèn nhơn cơ hội này, v́ Bà-la-môn tuyên nói pháp yếu,
tŕnh bày rơ ràng Thập ác nghiệp đạo. Người
Bà-la-môn nghe pháp xong, khởi tâm kính tín, bèn vào trong nhà đem
tất cả thức ăn mỹ diệu thượng
hảo hạng ra cúng dường Xiển-đà.
Xiển-đà thấy vậy liền khởi ư niệm: “Ta
thường nghe nói: Cái nồi bằng cây th́ chỉ
nấu một lần thôi, nếu thọ bữa ăn này
tức là bữa ăn đầu tiên mà cũng là bữa
ăn sau cùng”. Do vậy, liền nói với thí chủ là:
- Tôi đă có nhận được ít bún
của người khác, đâu có thể bỏ nhận
thức ăn của Hiền thủ được.
Người Bà-la-môn nói:
- Phép của ḍng họ tôi,
trước nhận được thức ăn thô, sau
gặp được thức ăn mỹ diệu, bỏ
thức ăn thô, nhận được trước
đó không hề có tội lỗi ǵ.
Xiển-đà trả lời:
- Ḍng họ của Bà-la-môn
không tŕ giới hạnh, làm theo ư muốn của ḿnh, c̣n tôi
có thọ giới phẩm th́ làm sao đă nhận
được của người tín thí rồi vội
vất bỏ được.
Khi nghe những lời này
của Xiển-đà, người Bà-la-môn càng sanh ḷng thâm
tín, c̣n Xiển-đà nói xong liền cáo từ mà lui.
Người Bà-la-môn thưa:
- Xin Đại đức
hằng ngày quá bước đến nhà tôi.
Xiển-đà trả lời:
- Tôi muốn được
đến luôn để gặp ông, nhưng người
giữ cửa của ông, như tên giữ ngục bạo
ác, không cho tôi vào.
Khi ấy, người
Bà-la-môn liền kêu người giữ cửa bảo:
- Mày thấy Pháp sư
Xiển-đà không được không cho vào. Người
giữa cửa vâng lệnh.
Lúc bấy giờ,
Xiển-đà bèn khởi ư nghĩ: Nếu các vị Hắc
bát nào đó vào được nhà Bà-la-môn th́ có thể
bại cơ nghi, khiến người thí chủ mất ḷng
tin đối với ta. Nay, ta nên t́m cách chận họ
lại, đừng cho họ vào, nên bảo với
người giữ cửa rằng:
- Này Nam tử ! Ngươi
nay biết chăng: “Người Bà-la-môn này cùng tôi có
đại nhơn duyên, khiến sanh kính tín”.
Người giữ cửa
trả lời:
- Tôi biết điều
đó.
Xiển-đà lên giọng
khủng bố:
- Từ nay về sau
ngươi đừng để các vị Hắc bát vào
cửa này. Nếu để họ vào th́ tôi sẽ phạt
đ̣n ngươi và đề nghị chủ đổi
người khác thay ngươi.
Người giữ cửa
khẳng định trả lời:
- Ngài vào cửa này không
phải là điều tôi muốn. Há dễ ǵ, tôi để
người khác vào được ư ? Xin Ngài
đừng lo làm ǵ !
Từ đó, hằng ngày
Xiển-đà lui tới nhà này, v́ vợ chồng
người Bà-la-môn tuyên dương Diệu pháp, khiến
cho họ thọ Tam quy, tŕ năm Học xứ.
Lúc bấy giờ,
người Bà-la-môn, trong nhà có thứ chi, với tất
cả ḷng thành kính đều đem ra dâng cúng, không hề
lẫn tiếc. Thế nhưng Xiển-đà không nhận
bất cứ vật ǵ dù nhỏ hay lớn. Sau một
thời gian, Xiển-đà đến, v́ người
Bà-la-môn thuyết giảng khen ngợi bảy thứ
hữu sự phước nghiệp. Người Bà-la-môn
nghe việc phước lợi ḷng rất lấy làm hoan
hỷ, thưa với Xiển-đà:
- Kính thưa Thánh giả ! Nay,
con muốn tu hữu sự phước nghiệp.
Xiển-đà vui vẻ
trả lời:
- Này Hiền thủ ! Chính là
đúng lúc, tùy ư cứ làm.
Người Bà-la-môn cảm
thấy ḿnh được toại nguyện, liền
thưa:
- Kính thưa Thánh giả ! Ngài
cho phép con làm việc phước nào ?
Xiển-đà bảo rằng:
- Hiền thủ có thể v́
chúng Tăng xây cất một trú xứ.
Người Bà-la-môn nghe
thế liền khởi ư niệm: “Ta đă từng đem
cả của cải dâng cúng mà Thánh giả không nhận
bất cứ một vật nào, kể cả một
sợi chỉ, nay v́ chúng Tăng, Thánh giả hứa
nhận thật là bậc thiểu dục. Ḷng kính tín
của ông ta đối với Xiển-đà càng khắc
sâu đặc biệt”. Ông ta thưa:
- Kính bạch Đại
đức! Nay con thật sự có nhiều của cải
muốn xây cất một trú xứ cho Tăng-già, xong e
tất cả đất đai đều thuộc
quyền của nhà vua th́ làm sao có đất để
cất.
Xiển-đà nói với
Bà-la-môn là:
- Đừng lo việc
đó, tôi sẽ đến vua để xin đất.
Vấn đề khiến
Xiển-đà suy nghĩ: “Ta không nên đến thẳng nhà
vua mà trước nhất đến tham vấn vị
Đại thần có công với nước được
vua tin”. V́ thế Xiển-đà đến nhà Đại
thần kia xin ư kiến về điều đă suy nghĩ.
Vị Đại thần hỏi:
- Thánh giả Xiển-đà,
Ngài đến đây chắc có vấn đề ǵ
phải không ?
Xiển-đà đem vấn
đề tŕnh bày với Đại thần:
- Hiện có người
Bà-la-môn muốn xây dựng trú xứ cho Tăng-già xong
đất đai lại thuộc về vua quản lư không
có đất để xây dựng. Tôi mong Ngài tŕnh lên vua
việc này mong nhờ ḷng nhân từ của nhà vua giúp tôi
thành tựu việc xây dựng.
Vị Đại thần
đáp lời:
- Thánh giả! Khi nào nhà vua
rảnh rỗi, tôi sẽ tŕnh bày để kêu gọi Ngài
xét giúp.
Vào một ngày nọ, nhà vua
không bận rộn suy tính việc, bên cạnh chỉ có
Đại thần, nhà vua lệnh cho ông ta:
- Ông cho gọi Thánh giả
Xiển-đà đến.
Vị Đại thần tuân
mệnh cho gọi Xiển-đà.
Đến cửa nhà vua,
Xiển-đà bảo với người canh cửa
rằng:
- Ông tŕnh lên vua, khải
bạch với Ngài hiện giờ Bí-sô Xiển-đà
đang ở ngoài cửa, xin được vào yết
kiến.
Khi
người giữ cửa tấu tŕnh lên vua, vua nghe
liền cho Đại đức Xiển-đà vào không
một ai được ngăn chận. Đến
trước vua, Xiển-đà chú nguyện:
- Xin nguyện nhà vua vô
bệnh, trường thọ.
Nhà vua mời Đại đức
ngồi nơi ṭa ngồi đă được chuẩn
bị sẵn. Lúc ấy, vị Đại thần
trịnh trọng giới thiệu:
- Đây là Pháp sư
Xiển-đà, đệ tử của Thích-ca, bỏ
thế tục xuất gia, rơ thông ba Tạng, biện tài vô
ngại, có đại phước đức...
Sau khi được giới
thiệu, nhà vua phán:
- Đă nghe biết, Trẫm
chào Thánh giả đến đây! Đâu nào, việc ǵ Thánh
giả cần giúp ?
Xiển-đà khiêm tốn
thưa:
-
Thưa Đại vương có người Bà-la-môn...
muốn xây trú xứ cho Tăng xong lại không có
đất. Nay tôi xin Đại vương giúp đỡ
cho việc này.
Nhà vua cho phép Thánh giả
như sau:
- Thánh giả muốn xây
dựng nơi nào th́ tùy ư. Chắc chắn Trẫm vui
với công việc này, thuận cho thiết lập
vườn Tăng. Trẫm sẽ ra ngoài ấy, rơ ràng là việc
này không trở ngại vậy. Tuy nhiên ngoại trừ
đất đai, gia trạch của vua, ruộng
vườn nơi nào thích hợp th́ tùy sở thích mà
tạo lập trú xứ cho Tăng.
Xiển-đà phụng
mệnh cám ơn và chú nguyện:
- Nguyện nhà vua vô bệnh,
trường thọ.
Rồi cáo từ. Trở
về ngay trú xứ, Xiển-đà báo cáo với Lục
chúng rằng:
- Nan-đà, Ô-ba-nan-đà! Các
ngài tùy hỷ, nhà vua thỏa măn thỉnh cầu của chúng
ta, chỉ trừ cung điện của nhà vua, ngoài ra
ruộng, vườn, đất, núi, nơi nào thuận
tiện, nhà vua cho chúng ta xây cất chùa theo ư muốn.
Lúc bấy giờ, Lục
chúng cũng kéo đến nhà Bà-la-môn báo cho thí chủ
biết:
- Hiền thủ ! Nhà vua thỏa
măn nguyện vọng của chúng ta về vấn đề
đất đai rồi. Hiền thủ phí khoản xây
cất, tài vật có thể nhận được chưa
?
Sau
khi, người Bà-la-môn trao nhiều tài vật, Lục chúng
mang theo ra về. Bí-sô Lục chúng cùng nhau bàn thảo:
-
Nên xây cất trú sứ Tỳ-ha-la nơi địa
điểm nào ?
Một
người trong chúng đề nghị:
-
Từ Kiều-thiểm-tỳ ngó về vườn
Cù-sư-la, ở khoảng giữa có một cây Đại
thọ, cây cao to, tàng rộng dáng vẻ rất khả ái. Có
một người Bà-la-môn, dưới cây này dạy
năm trăm đồng tử theo học nghiệp
Bà-la-môn. Mỗi khi có Bí-sô đi qua nơi này bọn học
đồ thường có hành động trào lộng, trêu
chọc hô lên rằng: “Đây là Bí-sô thứ nhất,
một kẻ đi xin. Đây là Bí-sô thứ hai ch́a bát
đi xin. Mở đăy bát ra th́ đầy chướng các
thứ xin được...”. thường khi bọn
họ khi dể cười cợt ta như vậy. Nay
chúng ta năo loạn lại họ, chặt phức cây
Đại thọ này sung vào việc làm chùa.
Sau
khi bàn thảo như thế, Lục chúng đến khu lao
động thuê năm trăm nhân công với giá cả
đôi bên đă thỏa thuận. Lục chúng đưa công
nhân này đến chùa. Nhân công hỏi:
-
Thưa Thánh giả: Chỉ cho chúng tôi địa
điểm thi công ?
Lục
chúng liền bảo rằng:
-
Đợi ăn sáng rồi sẽ hay.
Ăn
xong họ hỏi:
-
Thánh giả, làm việc ở nơi nào ?
Lục
chúng bảo:
-
Có thể lấy dầu thoa bóp thân, lát nữa sẽ làm.
Sau
đó trao cho bữa ăn trưa, khi đến chiều
tối, nhân công lại báo cho Thánh giả:
-
Sẽ hoàn lại trị giá ngày công.
Lục
chúng mắng:
-
Đồ ngu ! Hôm nay sẽ lao động nặng, các ông
theo tôi mà yêu sách giá cả.
Nhân
công bảo rằng:
-
Há lẽ Thánh giả sai bảo chúng tôi làm công việc, chúng
tôi không làm hay sao ?
Xiển-đà
đáp lời:
-
Hiền thủ ! Ông có thể mang theo lồng tre, cầm
theo vạc nấu, vác búa, tôi sẽ trị giá công trả
cho ông gấp bội.
-
Đương nhiên ông lại tùy tôi chỉ định công
việc phải làm ở đâu ?
Thế
rồi, đưa công nhân đến cây đại thụ kia,
Lục chúng bảo:
-
Có thể chặt cho tôi cây đại thụ này.
Nhân
công cáo rằng:
-
Đại thọ này là h́nh ảnh của sự linh thiêng
cao cả, tôi không hai đầu nên ai là người có
thể liều chặt được ?
Lục
chúng bảo:
-
Các người ngu, theo sở nguyện của tôi, nhà vua
đă cho phép, chỉ trừ Vương cung, ngoài nơi này
ra chỗ nào cần sung vào việc làm chùa chiền th́ tùy tôi
xử lư. Duyên cớ sao không chặt ?
Liền
sau đó, các nhân công cùng bàn bạc:
-
Chúng ta cứ chặt, có bị phạt tội, Lục chúng
sẽ chịu lấy. Chúng ta là kẻ làm thuê mà !
Thế
là họ bắt tay ngay chặt cây. Họ cưa xẻ ra
thành súc, đẵn thành khúc, cây nguyên trở thành manh mún,
họ lại đào quật gốc lên, chặt bỏ cùng
nhánh lá xuống sông, sau đó sang đắp đất làm
thành bằng phẳng rồi căng dây đắp
đất làm nền. Mọi việc chỉ trong một
đêm. Lục chúng Bí-sô cùng gọi bảo nhau rằng: “Này
Nan-đà, Bạt-nan-đà trong chỗ đất này dành cho
Tăng-già xây dựng chùa, chỗ khu kia làm Hương
điện để cho Phật Thế Tôn chúng ta. Nơi
kia làm môn lâu, c̣n khu đất này làm Ôn thất, Tịnh trù,
Tịnh lự đường, Khám bệnh
đường...” Bố trí sắp đặt đâu
đấy xong, Lục chúng ra đi.
Về
phần học đồ của Bà-la-môn kia, thường
lệ làm công việc của ḿnh - Hằng ngày vào sáng
sớm, mỗi học sinh được phân công
đến đại thụ để quét dọn sạch
sẽ, rưới nước, lau bụi, lấy phân ḅ
mới trét lắp bằng phẳng, trang hoàng địa
điểm học rất chu đáo. Trị nhật sáng
ngày ấy đến th́ hởi ơi! Cây đại
thụ không c̣n thấy nữa, chỉ c̣n lại khu
đất rộng trống không. Học đồ hối
hả chạy về báo với thầy rằng:
-
Cây đại thụ đâu mất rồi ?
Các
học đồ khác khi nghe nói cây không c̣n trố mắt mà
rằng:
-
Tiên sinh biết không ? Cậu này nhất định mới
sáng sớm đă ăn cơm với giấm nên khí nóng xông
lên mắt, do vậy không thấy cây đại thụ mà
thôi.
Người
thầy - Liền lại sai học sinh cán sự
đến xem xét lại cây đại thụ kia - Cậu
này đến nơi ấy cũng chẳng thấy cây
đâu. Trở về báo lại thầy rằng:
-
Đúng là lời bạn con nói thật sự cây lớn kia
không c̣n nữa.
Người
thầy đă nghe không nhằm và Bác sĩ đích thân
đốc suất năm trăm học đồ
đến bên cây cổ thụ cựu trào kia để tận
mắt xét và nơi đây sự việc đă rơ ràng.
Sự thật này đă làm cho người thầy gợi
nhớ đến kỷ niệm để rồi xúc
động nói với học tṛ rằng:
-
Đây là nơi Tiên sinh thường giảng dạy cho các
con. Đây là nơi thầy tṛ chúng ta ươm mầm
sự nghiệp.
Khi
ấy học đồ cùng chung một ư nghĩ
đứng lặng im u buồn, ôm lấy một quá
khứ không c̣n nữa. Lúc ấy người đi qua
đó ghé lại hỏi rằng:
-
V́ sao Tiên sinh ưu buồn sầu năo như vậy ?
Người
thầy bảo rằng:
- Quư vị này biết không ? Chính
nơi này, cây đại thọ từng là h́nh ảnh
của thiêng liêng cao cả, bỗng nhiên chỉ qua một
đêm không được bảo vệ, ai đó đă tru
diệt mất rồi.
Kẻ
bộ hành nói:
- Tiên sinh, chiều tối hôm
qua tôi thấy có Lục chúng dẫn công nhân mang theo
đủ thứ búa, ŕu... Đâu chẳng phải chính
bọn họ chặt gọn đi hay sao ?
Tuy nghe lời này nỗi buồn vẫn ray
rứt không nguôi trong ḷng người thầy. Bấy
giờ Lục chúng đến, nơi khu đất
trống kia, hỏi Bác sĩ:
- Tiên sinh v́ sao nhan sắc tợ hồ
như đội lấy cái ưu buồn như vậy ?
Bác
sĩ Tiên sinh đáp:
- Thánh giả, nơi này trước đây
có h́nh bóng cây đại thụ linh thiêng, không biết v́
lẽ nào, tối hôm qua bị tiêu vong ?
Lục
chúng nghe thế đắc ư cười lớn.
Bà-la-môn
nói:
- Há lẽ chính các
ngươi chặt cây này sao...?
Lục
chúng nói rằng:
- Người ngu si, chúng tôi v́ muốn năo
loạn ông đó. Há đâu ông không nhớ thầy tṛ ông
từng đem lời điều lộng chế diễu
chúng tôi sao ? Nào là Bí-sô thứ nhất là kẻ ăn xin, nào
là Bí-sô thứ hai là kẻ ăn mày. Mở bát ra th́
đầy những thức ăn xin.
Người Bà-la-môn nói:
- Sa-môn Thích tử cố giữ lấy
sự oán hận. Họ cùng nhau cơ hiềm: “Loại
người như thế là tự thiêu đốt chánh
pháp, mất hạnh Sa-môn . Cây đại thọ h́nh dáng cao
cả kia vô cớ chặt phức đi là sao ?”
Các Bí-sô nghe xong, đem
nhơn duyên này bạch Phật, đức Phật tập
hợp các Bí-sô (nói rộng như trước) chế
Học xứ này:
“Nếu
lại có Bí-sô làm chùa lớn, có thí chủ đứng ra làm.
Bí-sô ấy phải mời chúng Bí-sô đến xem xét
địa điểm. Chúng Bí-sô kia xem xét địa
điểm. Nơi này phải là nơi ứng pháp tịnh,
không có tranh cạnh, có chỗ tấn thú. Nếu Bí-sô
đối với chỗ không ứng pháp tịnh, chỗ
có tranh cạnh, chỗ không có chỗ tấn thú, làm chùa
lớn, có thí chủ đứng ra làm, không mời các Bí-sô
đến xem xét địa điểm. Xây cất chùa
lớn như vậy, Tăng-già-phạt-thi-sa”.
+ Nếu lại có Bí-sô
tức là chỉ cho Lục chúng. Ngoài ra nghĩa như trước.
Làm chùa lớn: Lớn có hai thứ: Một
là thí chủ lớn, hai là h́nh lượng lớn.
Chữ lớn nói nơi đây là thí chủ
lớn. Trú xứ là nơi có thể dung được
bốn oai nghi, hành, trụ, tọa, ngọa.
Có thí chủ tức là có nam, nữ,
Bán-trạch-ca làm thí chủ.
V́ chúng làm là v́ đức Như Lai và chúng
Tăng Bí-sô.
Phải mời các Bí-sô... tức là mời
các Bí-sô đến xem xét địa điểm, thanh
tịnh, không tranh cạnh, có chỗ tấn thú. Trở
lại bạch Đại chúng cầu xin sự hứa
khả tức là Tăng bỉnh bạch nhị Yết-ma
cho phép xây cất. (nói đầy đủ như
trước).
Tướng phạm nhẹ, nặng
một, hai cùng làm, cho đến câu si cuồng, tâm loạn,
thống năo bức bách, cũng như giới làm pḥng
nhỏ đă nói ở trước.
CĂN
BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ
TỲ-NẠI-DA
QUYỂN 12- (hết)