QUYỂN 11
Mười
ba phép Tăng-già-phạt-thi-sa.
Nhiếp
tụng:
Tiết xúc
bỉ cung mô
Tiểu
pḥng đại tự báng
Phiến
tợ phá tăng sự
Tùy
tùng ô mạn ngữ.
Học xứ thứ nhất:
Cố ư làm cho tinh tiết ra.
Lúc
bấy giờ, Bạc-già-phạm ở nơi thành
Thất-la-phạt, rừng Thệ-đa, vườn ông
Cấp-cô-độc. Lúc ấy, Cụ thọ Ô-đà-di
với nếp sống hàng ngày, bất cứ ở nơi
tụ lạc, thôn, phường hay trong chùa viện nào sáng
ngày thức dậy cũng lau quét trong nhà ngoài sân, dùng phân
trâu mới tri trét lên trên sạch sẽ. Sau đó mới ra
khỏi pḥng xúc miệng, rửa chân tay… Phần đầu
của ngày, chấp tŕ y bát, vào trong tụ lạc, hoặc
trong thôn, phường tuần tự đi khất
thực, xong không khéo pḥng hộ thân căn, không trụ Chánh
niệm. Khi được thức ăn, bèn trở về
bổn xứ, thọ trai xong, thâu y bát, rửa tay vào pḥng
yên nghỉ. Trường hợp như thế, dục ư
dễ bị sanh khởi, Ô-đà-di dùng tay cầm sanh chi,
cố ư làm cho tinh tiết ra, để t́m cảm giác
thoả thích. Lệ thường, chúng Bí-sô đi khám các
pḥng xá, khi đến chổ ở của Ô-đà-di hai bên
hỏi chào nhau rồi các Bí-sô ngồi qua một bên. Các Bí-sô
hỏi Ô-đà-di:
-
Cụ thọ kham nhẫn các việc, không có bệnh năo, an
lạc hạnh chứ ? Cụ thọ không xem việc
đi khất thực là việc làm lao khổ chứ ?
Ô-đà-di
đáp lời:
-
Bao giờ tôi cũng kham nhẫn các việc, không có bệnh
năo, khất thực dễ dàng, luôn luôn sống trong an
lạc.
Các
Bí-sô hỏi:
-
Nhờ đâu Cụ thọ kham nhẫn các việc,
đặng nếp sống không ưu năo an lạc ?
Ô-đà-di
bảo:
- Các Cụ thọ biết chăng:
Việc làm thường lệ hằng ngày của tôi ở
nơi tụ lạc, trong phường hay trong tự
viện là sáng sớm nào cũng lau quét trong nhà ngoài sân…(nói
đầy dủ như trước) cho đến câu: Dùng
tay cầm sanh chi cố ư làm cho tinh xuất ra để
lấy sự vui thích. Do nhơn duyên như vậy mà
trừ được nhiệt năo, sống với sự
an lạc này và không cho việc khất thực là khổ.
Khi
nghe như thế, các Bí-sô không vui, cũng không hiềm khích,
xin cáo lui. Các Bí-sô đến chỗ đức Thế Tôn,
lễ chân Phật, rồi ngồi qua một bên, tŕnh bày
đầy đủ sự việc trên với đức
Phật. Đức Phật lấy sự việc này làm
nhơn duyên, quán hai việc nên tập hợp chúng Bí-sô. Hai
việc ấy là ǵ ?
- Một là muốn khiến cho các đệ
tử Thanh-văn của Ta biết việc làm của ḿnh
là phi pháp.
- Hai là lấy việc này làm duyên để
Ta v́ các Thanh-văn chế Học xứ. Thường pháp
của chư Phật, biết mà vẫn cứ hỏi. (nói
đầy đủ như trước) cho đến câu:
Đức Thế Tôn đúng lúc hỏi Ô-đà-di rằng:
- Sự thật ông đă làm các việc không
đoan nghiêm như vậy chăng ?
Ô-đà-di
bạch:
- Bạch Thế Tôn đúng
như vậy.
Đức Thế Tôn bằng mọi
phương tiện, nghiêm khắc quở trách:
Ông là phi Sa-môn, phi tùy thuận pháp, phi thanh
tịnh hạnh, chẳng phải việc làm mà
người xuất gia nên làm. Ngươi là người
ngu si, xuất gia trong giáo pháp khéo nói của Ta, từng nghe
Ta dạy: “Ĺa tham sân si, tâm huệ giải thoát trong các pháp
vi diệu nhưng ông lại riêng làm việc không thiện
này. Ông là người ngu si, thà dùng tay nắm con Hắc Xà
nguy hiểm đáng sợ, chứ không nên dùng nhiễm tâm,
tự cầm lấy sanh chi cố ư làm cho tiết ra
vật bất tịnh. Người ngu si mới như
vậy, tại sao dùng hai tay nhận lấy thức ăn
của người có ḷng tin, của Bà-la-môn, Trưởng
giả v.v… rồi tại sao ông cũng dùng hai tay đó
để làm việc phi pháp mà cho là an lạc!”
Đức Thế Tôn bằng
mọi cách quở trách như vậy rồi, bảo các
Bí-sô:
- Ta quán mười
điều…(nói đầy đủ như trước) v́
các đệ tử Thanh-văn, đối với
Ty-nại-da, chế học xứ như sau: “Nếu
lại có Bí-sô cố ư làm cho tinh tiết ra,
Tăng-già-phạt-thi-sa”.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn v́
các Bí-sô chế học xứ rồi, lại có các Bí-sô
ở trong mộng tinh tiết ra, sanh ḷng truy hối, không an
lạc, nói với nhau rằng:
- Nay, ngài biết không: Đức Thế Tôn
v́ các Bí-sô đối với Tỳ-nại-da chế học
xứ: “Nếu lại có Bí-sô cố tâm làm cho tiết tinh
phạm Tăng-già-phạt-thi-sa”, nhưng chúng ta trong khi
ngủ mộng có xuất tinh, đâu không phải là chúng ta
đă phạm Tăng-già-phạt-thi-sa sao! Chúng ta nên
đến Cụ thọ A-nan-đà tŕnh bày việc này, ngài
chỉ thế nào chúng ta phụng hành thế ấy.
Các Bí-sô bèn đến chỗ của Cụ
thọ A-nan-đà tŕnh bày sự việc, các Bí-sô nói:
- Cụ thọ A-nan-đà biết không ?
Chư Phật Thế Tôn đă v́ các Thanh-văn đối
với Tỳ-nại-da chế học xứ: “Nếu
lại có Bí-sô cố tâm làm cho tiết tinh, phạm
Tăng-già-phạt-thi-sa”. Chúng tôi trong mộng bị
xuất tinh, e rằng do tâm tưởng nên ray rứt
lắm, liệu phạm Tăng-già-phạt-thi-sa ? Do vậy
nên chúng tôi đến đây, xin tŕnh bày để
Đại đức quyết nghi cho. Ngài dạy sao chúng
tôi phụng hành vậy.
A-nan-đà nghe xong liền đưa các Bí-sô
đến chỗ đức Thế Tôn, lễ chân Phật
xong ngồi qua một bên. A-nan-đà bạch Phật:
- Đại đức Thế Tôn đă v́
các Bí-sô chế học xứ: “Nếu lại có Bí-sô cố
tâm làm cho tiết tinh, phạm Tăng-ǵa-phạt-thi-sa”. Các
Bí-sô này khi ngủ trong mộng bị tiết tinh
đều có tâm tưởng sanh tâm nghi hối, nghĩ
rằng: “Ta đă phạm Tăng-già-phạt-thi-sa chăng
?”. Vậy các Bí-sô có phạm học xứ đă chế hay
không ?
Đức Thế Tôn bảo A-nan-đà
rằng:
- Các bí-sô kia, động cơ lắng
nghĩ khiến cho tâm tưởng loạn, ta không nói là
không phạm, xong ở trong mộng chẳng phải là
sự thật, nên trừ trường hợp trong
mộng.
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn khen
ngợi người có khả năng tŕ giới, khen kính
người trọng giới, v́ các Bí-sô nói pháp tùy thuận,
khiến cho phẩm chất thiện được
tăng trưởng trong mọi người rồi,
Thế Tôn bảo các Bí-sô:
- Trước là sáng chế nay là tùy khai, cho
nên ta nay v́ các Bí-sô đối với Tỳ-nại-da
điều chỉnh học xứ này như sau: “Nếu
lại có Bí-sô cố ư làm tinh tiết ra, trừ trong
mộng, Tăng-già-phạt-thi-sa”.
+ Bí-sô nghĩa như trên. Cố tâm tức là
cố tác ư. Tiết ra nghĩa tinh dịch từ nguồn
chảy ra khỏi vị trí của nó. Tinh có năm
loại: Xanh, vàng, đỏ, đặc, lỏng. Với
màu xanh th́ đây là của Luân Vương và trưởng
tử của Luân Vương thọ pháp quán đảnh nên
tinh màu xanh. Tinh của các người con khác của Luân
Vương th́ tinh màu vàng. Đại thần Luân ấn tinh
của họ đều màu đỏ. Người thành
Niên th́ tinh của họ đặc. Người chưa
thành niên, tinh của họ lỏng. Người bị
người nữ gây xúc cảm bởi dục tính, hay dùng
sức khuân vác nặng, hoặc trải qua đường
xa, hay thân căn bị tổn hoại, những
trường hợp như vậy bao gồm đủ
năm loại tinh.
Trừ mộng trung, tức là ở trong
mộng mà bị xuất tinh, không phạm. Tăng-già, là
phạm tội này cần phải nhờ Tăng-già
hướng dẫn pháp xám hối nương nơi Tăng-già
mà đặng xuất tội, chứ không nương
nơi người khác mà giải quyết được.
Phạt-thi-sa là cái nghĩa “dư tàn”. Nếu Bí-sô với
trong bốn pháp Ba-la-thi-ca, Phạm một pháp nào th́ không có
vấn đề dư tàn, không được chung
sống. Đối với mười ba pháp này, Bí-sô tuy
phạm mà có dư tàn, có thể chạy chữa
được cho nên gọi là Tăng-tàn.
Trong vấn đề này
tướng phạm của nó như thế nào: Có năm
trường hợp khác nhau:
- Một là v́ sự vui
- Hai là v́ sự chú nguyện
(luyện)
- Ba là v́ sự kế thừa
- Bốn là v́ việc làm
thuốc
- Năm là v́ sự hiểu
biết
+ Thế nào là v́ sự vui ?
- Bí-sô làm cho tinh tiết ra
để lấy sự vui thoả. Đối với trong
cơ thể có tâm dục nhiễm khởi lên phương
tiện, phát động sanh chi, tinh tiết ra, cảm
nhận sự thích thú, phạm Tăng-già-phạt-thi-sa. Tuy
bằng các phương tiện mà tinh không tiết ra,
phạm Tốt-thổ-la-để. Như làm cho sanh chi lay
động cho vui mà tinh xuất, hoặc xoa, bóp, nắm, ṿ
cho vui mà tinh xuất, hoặc làm cho đầu của sanh
chi lộ ra cho vui mà tinh xuất, phạm tội nhẹ
nặng, đă nói đầy đủ như trước.
V́ sự vui đă xảy ra
như vậy, nên v́ các chú luyện, v́ sự kế
thừa, v́ vấn đề làm thuốc, hoặc v́ sự
t́m hiểu mà tinh tiết ra, phạm tội nhẹ nặng
căn cứ vào đó mà định tội. Nếu Bí-sô v́
sự vui thoả muốn xuất tinh màu xanh, đối
trong cơ thể có tâm dục nhiễm, khởi
phương tiện mà tinh kia tiết ra, hoặc cầu màu
vàng, đỏ, đặc, lỏng… phạm tội cũng
như trên. Nội sắc đă vậy, ngoại sắc
cũng vậy.
Nhiếp
tụng:
Hoặc múa hay
trong không
Tinh
động trong thân chảy
Xoa bóp
để được vui
Ư nhiễm
vọc sanh chi
Hoặc
với nhiễm tâm xem
Hoặc
nghịch, thuận ḍng nước
Hoặc
nghịch gió, thuận gió
Tội nhẹ
nặng nên biết.
Bí-sô làm kích thích sanh chi nơi không trung mà tinh
tiết ra, phạm Tốt-thổ-la-để, nếu tinh
không tiết ra phạm Ác tác tội.
Bí-sô khi tinh trùng giáp nhau biến động
nhân thế tác ư biến động theo làm tinh tiết ra,
phạm Tốt-thổ-la-để, nếu không tiết ra
phạm tội Ác tác.
Trường hợp tinh đă tiết mà c̣n
trong thân, nhưng kích thân phương tiện khiến cho nó
tiết ra phạm Tốt-thổ-la-để, nếu không
tiết ra phạm tội Ác tác.
Nếu Bí-sô nhận cho người khác xoa
bóp thân ḿnh, do vậy mà tinh xuất ra, phạm tội
Tốt-thổ-la-để. Nếu có nhiễm tâm mà không
tiết, phạm Ác tác tội.
Nếu Bí-sô nắm vọc sanh chi với tâm
thọ lạc nhơn đó mà tinh tiết ra, phạm
Tốt-thổ-la-để, nếu không tiết ra, phạm
tội Ác tác.
Nếu Bí-sô với nhiễm tâm quan sát
ngắm nghía sanh chi, phạm tội Ác tác.
Nếu Bí-sô với tâm dục nhiễm
nắm sanh chi đặt ngược ḍng nước,
phạm tội Tốt-thổ-la-để, nếu
đặt thuận ḍng nước phạm tội Ác tác.
Nếu Bí-sô với tâm dục nhiễm
nắm sanh chi của ḿnh đặt nghịch gió phạm
tội Tốt-thổ-la-để, nếu đặt
thuận gió phạm tội Ác tác.
Trường hợp không phạm: Chạy,
nhảy, giỡn, bơi lội, lặn hụp, hoặc
chạy qua hầm hào, lan can, hoặc đi đụng
phải bắp vế, cọ xát áo quần, hoặc vào nhà
tắm, hay nhớ “cố nhị”, hoặc thấy sắc
khả ái, hoặc ngứa găi không có tâm thọ lạc mà
tinh tự chảy ra, đều không phạm.
Trường hợp không phạm nữa là: Người phạm ban đầu, hoặc tâm si cuồng, tâm thống năo, tâm rối loạn, bị ép ngặt.
Học xứ thứ hai: Xúc phạm
người nữ.
- Mỗi sáng sớm nào, cũng phải có
một người của chúng ta đứng tại
cửa rừng Thệ-đa, để có Bà-la-môn, Trưởng
giả, Cư sĩ, tới lui đi ngang qua, v́ họ nói
pháp yếu. Trường hợp có kẻ nào luận
nghị chúng ta sẽ chiết phục họ, khiến cho
tiếng tăm của chúng ta đồn khắp các nơi
xa gần, ai nấy đều khâm ngưỡng chúng ta.
Lục chúng Bí-sô này, với sáu thành lớn, nơi nào có dân
tộc, chủng loại và bất cứ công xảo, tên
gọi sai khác thế nào nặc danh tiếng của chúng ta,
không chỗ nào không biết, không ai không quen thân với chúng
ta.
Thế rồi hôm ấy, Cụ thọ
Ô-đà-di, vào buổi sáng tinh mơ, sau thủ tục
vệ sinh cá nhân… đắp y Tăng-già-chi đảnh
lễ Tốt-đỗ-ba xong, đi tới, đi lui nhàn
nhă ngoài cửa Thệ-đa. Theo thường lệ
của thành này, nếu Bà-la-môn, Cư sĩ, vợ Cư sĩ
hễ ra ngoài đô thành th́ cùng đến bên trong khu
Phương Lâm, đi khắp nơi này để nhàn du
thăm thú, thưởng ngoạn, họ mang theo cả hoa
quả vào rừng Thệ-đa, đến lễ chân
đức Thế Tôn và các Đại đức.
Khi ấy rất đông Cư sĩ, vợ
Cư sĩ đến rừng Thệ-đa. Gặp gỡ
họ, Ô-đà-di vui vẻ có lời chào hỏi:
- Lành thay chị em! Hôm nay ngày
đầu tháng, chị em đồng loạt hiện
diện phải không ?
Các người nữ
trả lời:
- Đại Đức!
Như đức Thế Tôn dạy: “Người ở
trong tám nạn đối với hạnh thanh tịnh không
dễ ǵ để tu tập. Thân nữ chúng tôi nhiều các
chướng nạn, quản lư, chăm sóc gia nghiệp, nó
là cái nạn thứ chín. Cho nên sự tu tập lại càng khó
hơn”.
Khi nghe những lời này rồi, Ô-đà-di
nói với các người nữ rằng: Các chị em
đâu không nghe:
Xưa
có vua Ta-kiệt
Kinh doanh
nhiều sự nghiệp
Sự
nghiệp làm chưa xong
Mạng ông
đă hết thở
Các
người doanh gia nghiệp
Việc này bao
giờ hết!
Chết đi
mọi người hiềm
Đâu biết
đời qua nhanh!
Các người nữ nghe
rồi trả lời:
- Thưa Đại
Đức! chúng tôi v́ nhơn duyên ấy nên đến chùa
để kính lễ chân đức Thế Tôn và các
Thượng tọa Đại đức Bí-sô.
Ô-đà-di nói:
- Lành thay các chị em! Như
đức Thế Tôn nói: “Dùng cái thân không kiến cố này
để t́m cầu Pháp kiến cố”. Các người
đến chùa tùy hỷ lễ bái thật là việc làm
tốt. Các người muốn biết trong chùa nên nhờ
một Bí-sô làm người hướng dẫn. Các chị
em cần đến pḥng chư Tăng và các tháp miếu hay
không ?
Các người nữ
thưa:
- Thưa Đại đức! Há lẽ
chúng tôi đang cầm đuốc sáng nơi tay lại
đi t́m đèn. Bây giờ bỏ Đại đức
mời riêng người nào đó dẫn đường
coi sao được.
Liền khi ấy, Ô-đà-di có ngay suy
nghĩ: “Nếu ta v́ các chị em này hướng dẫn
thăm pḥng xá th́ phế bỏ việc tu thiện phẩm,
nếu từ chối th́ trong quan hệ có chổ khiếm
khuyết. Vào thành khất thực không ai biết ta
để cúng dường. Dù có phế bỏ việc chánh
tu cũng nên nhận lời hướng dẫn”. Thế là
Ô-đà-di liền rửa tay chân, bưng hương hoa, lên
đường hướng dẫn, nói Già-tha rằng:
Nếu ai dùng chơn kim
Hằng ngày thí
ngàn lượng
Không bằng
người vào chùa
Thành tâm lễ
Tháp, Tăng.
Đi đến đâu
giới thiệu đến đó:
- Này các chị em! Đây là hương
điện, nơi ngự của đức Như Lai.
Đức Như Lai Thế Tôn ngày đêm sáu thời
thường dùng Phật nhăn quan sát thế gian cái ǵ
tăng, cái ǵ giảm, ai gặp khó khăn, ai đi trên
đường ác, mất trong bùn dục, ai có thể nhận
được giáo hoá, dùng phương tiện nào
để cứu cho họ ra khỏi bùn lầy tội
lỗi. Người không có Thánh tài khiến cho họ
được Thánh tài. Dùng trí an định thiện na, phá
màng vô minh. Kẻ không có căn lành, khiến cho họ
trồng căn lành. Kẻ có thiện căn khiến cho họ
tăng trưởng. An định con đường
của nhơn thiên, có khả năng chấm dứt
cảnh khổ, hướng đến thành Niết-bàn. Khi
ấy Ô-đà-di nói Già-tha tiếp:
Ví biển
triều lên xuống
Kỳ hạn
nào mất đi
Th́ giáo hoá
của Phật
Tế
độ không thời gian
Như mẹ
sanh con một
Bảo hộ
con đến cùng
Chỗ giáo hoá
của Phật
Mẫn
niệm hơn thế kia
Phật dùng tâm
đại bi
Thương
khắp đường sanh tử
Lần theo
chỗ độ người
Như
ḅ mẹ theo con.
Do đức Phật Thế
Tôn là bậc Ứng Chánh Đẳng Giác đầy
đủ mười lực, bốn vô sở uư, nên dùng
lời như sư tử rống để giác ngộ
quần mê. Các chị em nên chí tâm lễ kính tôn túc.
Các tín nữ kính lễ xong,
đi đến các pḥng khác, Ô-đà-di tiếp tục
giới thiệu:
- Đây là pḥng của Thượng tọa
A-nhă-kiều-trần-như ở. Này các chị! Thế gian
này mờ ám không hiểu biết, trôi lăn trong đêm dài
luân hồi sanh tử. Lúc đức Thế Tôn mới thành
chánh giác, dùng diệu trí dược để khai pháp nhăn,
ba phen chuyển bánh xe pháp, khiến cho họ mở ra
sự hiểu biết. Thượng toạ là người
đệ tử lớn nhất trong chúng đệ tử
của Đại sư. Thượng toạ là
người tuổi lớn đức nhiều khéo tu
phạm hạnh. Ngài là người thọ tŕ, y pháp
đầu tiên. Các chị nên hết ḷng lễ kính
dưới chân ngài.
Kế đến là pḥng của Tôn giả
Đại Ca-diếp-ba ở, Ô-đà-di giới thiệu:
- Đây là vị tộc tánh Thắng
diệu Bà-la-môn, xả bỏ chín trăm chín mươi chín
Cụ Lê Ngưu, hơn hai trăm thạc toái kim
đại mạch, sáu mươi ức kim tiền, có
mười tám phong ấp, tôi tớ người làm, có
mười sáu tụ lạc thương măi, vợ tên là
Ca-tất-lệ, thân như kim sắc, nghi dung mỹ
lệ, không ai b́ kịp. Tất cả vật sở
hữu như vậy, đều bỏ như nhổ
bỏ băi đàm. Vào phần cuối đêm bỏ trăm
ngàn y phục quư giá, để rồi mặc chiếc áo thô
Tăng-già-chi, quay về nơi đức Phật xuất
gia ở nơi Lâm Tẩu. Giả sử có con voi điên
đưa mắt nh́n oai đức của Ngài th́ cơn say
điên loạn của nó cũng mất đi. Ngài sống
thiểu dục, tri túc, tu hạnh Đầu-đà.
Đối với trong hàng đệ tử của bậc
Đại sư, Ngài là bậc có oai đức
được tôn trọng thứ nhất. Các chị em nên
chí thành đảnh lễ dưới chân Ngài.
Khi đến pḥng ở
của Tôn giả Xá-lợi-tử, Ô-đà-di báo cáo:
- Này các chị, đây vị con quư tộc
Bà-la-môn, bỏ đời xuất gia, với lứa
tuổi mười sáu nghe kinh th́ rơ ngay ư nghĩa, tâm
ngộ ngay vấn đề, các Luận sư ngoại
đạo đều bị Ngài xô ngă nhiếp phục,
như Thế Tôn nói:
Tất
cả trí thế gian
Chỉ trừ
đức Như Lai
Ai bằng trí
Thân tử ?
Chỉ một
phần mười sáu
Tất cả
trí người, trời
Ai người
như Lợi-tử
Trí Như Lai,
Lợi-tử
Chỉ một
phần mười sáu.
Ngài
là bậc Đại trí huệ đối với chúng
đệ tử của Đại sư. Ngài đầy
đủ sức biện tài, đứng vào hàng thứ
nhất. Chị em nên chí thành lễ kính dưới chân Ngài.
Khi
đến pḥng ở của Đại
Mục-kiền-liên, Ô-đà-di trịnh trọng giới
thiệu:
-
Này các chị! Đây là vị phụ quốc đại
thần, con của Bà-la-môn, xả bỏ địa vị
quư báu tốt đẹp để xuất gia có đại
thần lực, có khả năng dùng ngón chân làm động
cả cung trời Đế Thích. Trong hàng đệ tử
của Đại sư, Ngài là bậc có oái đức
lớn, đầy đủ đại thần thông,
ở vào hàng thứ nhất. Các chị nên chí tâm
đảnh lễ dưới chân Ngài.
Đến
pḥng của A-ni-lô-đà, Ô-đà-di báo cáo:
-
Đây là đường đệ của đức
Phật, cũng bỏ địa vị quư báu theo Phật
xuất gia có đại thế lực. Trước
đây, có thương chủ từng gặp tai nạn trong
biển cả, xưng danh hiệu của Ngài, thuyền
được an ổn, không thương tổn của
cải trở về đến nơi đến chốn.
Trong hàng đệ tử của Đại sư, Ngài
đặng con mắt tịnh của loài trời, vào hàng
bậc nhất. Các chị nên hết ḷng kính lễ
dưới chân Ngài.
Bước
đến pḥng của Tôn giả A-nan-đà được
giới thiệu:
-
Đây là pḥng đường đệ của đức
Phật, bỏ thế tục xuất gia, làm thị
giả hầu hạ đức Thế Tôn, dù có thức
suốt đêm cũng không hề có tâm mỏi mệt,
đại trí thông minh, các thánh đều khen ngợi.
Tất cả kinh điển đức Như Lai nói ra,
Ngài nghe đều nhớ hết, như cái b́nh chứa
nước không chảy mất một giọt nào. Trong hàng
đệ tử của Đại sư, Đa-văn
tổng tŕ vào hàng thứ nhất. Các chị nên kính lễ
với tất cả ḷng thành của ḿnh dưới chân
của Ngài.
Kế
đến pḥng của Nan-đà, Ô-đà-di giới thiệu
với các chị:
-
Đây là thân đệ của đức Phật, bỏ
đời xuất gia, nếu không xuất gia sẽ làm
chuyển luân Vương. Trong hàng đệ tử của
Đại sư, Ngài là bậc khéo hộ các căn,
đề pḥng ngoại cảnh vào hàng thứ nhất. Các
chị nên chí tâm lễ kính chân Ngài.
Khi
đến pḥng của Cụ thọ La-hỗ-la, Ô-đà-di
được giới thiệu với các người
nữ:
-
Đây là pḥng của con đức Phật, bỏ tục
xuất gia. Nếu không xuất gia sẽ làm Chuyển Luân
Vương. Trong hàng đệ tử của Đại
sư Ngài ái trọng Học xứ phụng tŕ không cho
mất mát, vào hàng bậc thứ nhất. Các chị nên
lễ kính dưới chân Ngài.
Cuối cùng đến pḥng của Lục
chúng Nan-đà, Ô-ba-nan-đà, A-thuyết-ca, Bổ-nại-bà,
Tố-ca-lan-đà, Ô-đà-di nói:
- Đây là pḥng của chúng tôi, các vị nên
quan sát chiêm lễ. Xem xong, mời quư vị ngồi.
Ô-đà-di là hạng người sống
trong hạnh dâm nhiễm, nơi pḥng, ở trên tường
vách vẽ vời trang sức màu sắc lộng lẫy,
dùng lụa mịn tốt bao phủ nơi giường
ngồi nằm, tủ bàn rương, tráp chạm trổ
đẹp đẽ để đựng đồ dùng.
Trên ghế bàn để những đồ kiểu đúng
thời trang; như b́nh hương thuỷ… Ô-đà-di nói
với các người nữ rằng:
- Chị em! trước
hết mời chị em dùng bữa ăn nhẹ buổi
sáng, rồi uống nước mật tương!
Các
người nữ thưa:
- Đại đức!
Đâu có chuyện nước chảy ngược ḍng
như vậy! Lẽ ra chúng con trước hết phải
cúng dường chư Tăng mới phải, đâu có
chuyện ngược lại chúng con lại nhận
thức ăn của Đại đức! Lành thay Thánh
giả! chúng con muốn được Ngài bố thí không
phải là thức ăn.
Ô-đà-di
liền hỏi:
- Vậy điều đó là
ǵ?
Các
người nữ thưa:
- Chúng con chưa từng được
nghe pháp, xin Ngài nói pháp cho chúng con nghe.
Ô-đà-di bảo:
- Lành thay! Ư muốn của các
chị em! Như đức Thế Tôn dạy, thế gian
có sáu việc rất khó được gặp, đó là:
1. Các đức Phật ra
đời là một điều rất khó gặp.
2. Như Lai nói pháp luật vi
diệu là điều rất khó để được
nghe.
3. Thân người khó
được.
4. Sanh vào trung tâm của
nước là điều khó.
5. Các căn đầy
đủ là điều khó.
6. Khởi phát được
tín tâm là điều rất khó.
Này
các chị em! Những điều khó này, các chị em
đều đă có được. Chị em phát khởi
ḷng tin, gần gũi đức Phật, ngồi nghe giáo
pháp cốt yếu. Tôi sẽ v́ các chị em tŕnh bày pháp
yếu ấy.
Lúc
bấy giờ, các người nữ liền sụp
lạy dưới chân của Ô-đà-di rồi ngồi qua
một bên chuyên tâm nghe pháp.
Ô-đà-di
bắt đầu nói pháp, trong khi tŕnh bày lời lẽ
của pháp bèn khởi nhiễm tâm, như người
luyện bùa chú không rành thuật chú, chú nguyện quỷ
chữa bệnh. Tùy theo chổ chú sai cách ấy, bị
quỷ đánh trở lại. Ô-đà-di cũng như
vậy. Tùy theo chổ thuyết pháp sai lạc mà tâm bị
nhiễm xúc. Tâm bị nhiễm đă thôi thúc Ô-đà-di
từ chổ ngồi đứng dậy như phản
xạ dùng tay xoa rờ thân người nữ.
Khi
ấy, trong số người nữ, có người
sẵn tâm ái nhiễm nên cùng nhau cười thân tay xúc
phạm t́m cảm giác với Ô-đà-di. Trái lại
những người nữ không có ái nhiễm tâm, bèn
chạy ra ngoài pḥng, đi qua, lại trước hành lang
cùng sanh ḷng khinh tiện, cơ hiềm. Họ mỉa mai
nhận xét rằng:
-
Ai ngờ trong nước lại phát ra lửa sáng rực!
với chổ t́m về nương tựa th́ lại thành
nơi khủng bố lạm dụng t́nh dục. Xưa
kia, chúng tôi gọi pḥng của Tăng là nơi an ẩn
Niết-bàn, xa ĺa các khổ năo, không có ǵ lo ngại; xong hôm
nay, nơi đây là các tai nạn, khủng bố, ưu năo
lại xảy ra!
Khi
họ cơ hiềm thốt lên những lời chua xót
như vậy, các Bí-sô nghe,
hỏi:
-
Này các chị em! Các chị em cơ hiềm mạ nhục
ai vậy?
Các
người nữ đáp:
-
Chúng tôi mạ nhục các ông!
Các
Bí-sô nói:
- Chúng tôi đă làm việc ǵ
khiến các chị phải hiềm hận như thế ?!
Các
người nữ đáp:
-
Xưa nay, chúng tôi tuy có gặp bọn giặc hay những
người điên cuồng làm liều nói ẩu cũng
không nghe những lời bỉ ổi như Ô-đà-di nói.
Thân thể của chúng tôi tuy bị phu chủ xoa bóp, xúc
chạm nhưng chưa đến nỗi táo bạo
lăng bức như Ô-đà-di. Nếu cha mẹ, anh em,
chị em, phu chủ của chúng tôi nghe được
sẽ không bao giờ cho phép chúng tôi vọng nh́n về
rừng Thệ-đa này, huống là vào trong vườn
để kính lễ.
Nghe
thế, các Bí-sô buộc phải trả lời:
-
Bí-sô ấy giữ đủ cấm giới, đây là con
của vị Đại thần xong tánh nhiều ái
dục, hành động như vậy là để thoả
nhiễm tâm.
Người
nữ đáp lời:
-
Thưa Thánh giả, như cái sừng của con trâu, tuy
sắc bén, cũng đâu có chuyện phá bụng ḿnh,
dầu có nhiễm tâm, đâu được tự làm
tổn thương đến phạm hạnh.
Các
Bí-sô nói:
-
Chị em yên tâm! chúng tôi sẽ ngăn chặn việc làm
tai hại ấy.
Họ
thưa các Thánh giả ngăn
chận là việc làm rất tốt; bằng không th́
trọn đời chúng tôi không dám léo hánh đặt chân
đến rừng Thệ-đa-viên lâm này.
Các
Bí-sô bảo:
- Chúng tôi ngăn chận, không
bao giờ để cho hành động ấy xảy ra
nữa đâu.
Các
người nữ ra về mang theo nỗi hiềm hận.
Khi
ấy, Cụ thọ Ô-đà-di vừa đi vừa
cười, bước ra khỏi pḥng, các Bí-sô thấy
liền hỏi:
-
Đại đức Ô-đà-di! Tại sao ngài làm việc
làm bỉ ổi, ô nhục Sa-môn, buông lung tai hại như
thế mà lại vui cười ?!
Ô-đà-di
bảo:
-
Tôi làm việc ǵ? Tôi không uống rượu, tôi không ăn
ngũ vị tân. Tôi đă làm việc ǵ mà các Ngài nói thế
?
Các
Bí-sô nói:
-
Việc làm thô trọng kia, Ngài c̣n làm, huống chi là
rượu và ngũ vị tân, ngại ǵ Ngài không ăn,
không uống ?
Ô-đà-di
nói:
-
Vậy tôi làm việc ǵ mới được chứ ?
Các
Bí-sô đáp:
-
Kia ḱa, Bà-la-môn, Cư sĩ, phụ nữ cơ hiềm,
mạ nhục thậm tệ bỏ đi, đó không
phải là điều tội lỗi à ?
Ô-đà-di
tự cao, khi thị các Bí-sô, hằn học nói:
-
Các Ngài chỉ biết bưng b́nh bát hằng ngày tuần
tự đi đến từng nhà khất thực, ḷng xen
lẫn, keo kiết ngày càng thêm lớn, khốn nỗi không
thể nói được bốn câu pháp để có
lợi cho ai. Thấy kẻ khác nói năng diễn giảng,
lại sanh ḷng tật đố, cơ hiềm.
Trước
sự hằn học khi thị của Ô-đà-di, các Bí-sô
từ tốn nói:
-
Chúng tôi thấy Cụ thọ tuy thường nói pháp mà
chưa hề có một người nào do nghe pháp của
Cụ thọ mà chứng được Kiến
đế.
Ô-đà-di
gỡ gạc nói:
-
Khiến cho căn của họ thuần thục, dần
dần họ vào Đế môn chứ.
Với
các Bí-sô có nếp sống thiểu dục đều cùng
cơ hiềm chê trách rằng:
-
Tại sao Bí-sô làm việc phi lư, ôm lấy sỉ nhục vào
trong tâm hồn, dương dương tự thị
cống cao!
Khi
ấy, các Bí-sô đem nhơn duyên này tŕnh bày đầy
đủ với đức Phật. Đức Thế Tôn
do nhơn duyên này tập hợp các Bí-sô, Tuy biết rơ mà Ngài
vẫn hỏi:
Này Ô-đà-di! Thật sự ông có làm những việc
bỉ ổi, thối tha như vậy không ?
- Bạch đức Thế
Tôn! Thật sự con có làm như vậy.
Đức Phật dạy:
“Việc làm của ông là sai, chẳng phải Sa-môn,
chẳng phải tùy thuận, không thanh tịnh, làm việc
không nên làm”.
Thế
rồi, đức Thế Tôn bằng mọi cách quở
trách xong, bảo các Bí-sô:
-
Ta quán mười điều lợi… Ta nay v́ các hàng
Thanh-văn đệ tử, đối với
Tỳ-nại-da chế học xứ này như sau:
“Nếu
có Bí-sô với tâm nhiễm ô cùng với thân người
nữ xúc chạm, hoặc nắm bàn tay, hoặc nắm
cánh tay, hoặc nắm tóc, hoặc xúc chạm bất
cứ thân phận nào mà khởi tâm thọ lạc,
Tăng-già-phạt-thi-sa”.
+ Lại có Bí-sô, tức
chỉ cho Ô-đà-di, hoặc bao nhiêu vị khác mà bị ràng
buộc bởi tâm nhiễm ô. Có trường hợp
nhiễm tâm mà chẳng phải triền tâm. Có trường
hợp triền tâm mà chẳng phải nhiễm tâm. Hoặc
có cả hai, hay không cả hai.
Thế nào gọi là có
nhiễm tâm mà chẳng phải tâm ràng buộc ?
- Tức là có tâm nhiễm ô mà
tâm nhiễm ô đó không đến mức độ
dồn ép ràng buộc trước mắt.
Thế nào gọi là có
triền tâm mà chẳng phải nhiễm tâm?
- Tức là tâm duyên với
ngoại cảnh có chỗ hệ lụy, đắm
trước mà chưa khởi tâm ô nhiễm.
Thế nào gọi là có
cả hai?
- Tức là có tâm nhiễm ô cao
độ tham cầu cảnh trước mặt, tâm có
hệ lụy đắm trước.
Thế nào gọi nhiễm,
triền không cả hai ?
- Tức là buông xả tất
cả, ngược lại trường hợp trên.
Nữ nhơn là chỉ cho
phụ nữ, đồng nữ có khả năng làm
việc dâm dục. Xúc chạm, tức là hai thân phần ma
chạm với nhau. Bàn tay là chỉ cho phía trước
của tay. Cánh tay là chỉ cho phần sau của tay.
Nắm tóc là chỉ cho phần trên đầu. Bất
cứ thân phần nào là chỉ cho các chi tiết trên thân.
Khởi tâm thọ lạc là cảm thấy khoái thích.
Tăng-già-phạt-thi-sa, như đă giải thích nơi
giới trước.
Trong này tướng phạm
của nó như thế nào?
Có chín trường hợp xúc
chạm phạm. Những ǵ là chín: Tức xúc, cực xúc,
nắm, rờ, khiên, duệ, lên, xuống, ôm quanh.
Thế nào là xúc?
- Bí-sô với tâm truyền
nhiễmcùng với người nữ có thể hành dâm
cố ư xúc chạm nơi đầu của họ, không có
khăn chùm cách biệt, phạm Tăng-già-phạt-thi-sa, có
khăn chùm cách biệt phạm Tốt-thổ-la-để.
Xúc chạm nơi đầu như vậy th́ xúc chạm
nơi vai, nơi lưng, nơi rốn, nơi đùi, cho
đến ngón chân có y không y đều như vậy.
Vấn đề xúc chạm
như vậy cực xúc, nắm, rờ cũng như
thế.
Thế nào là khiên?
-
Bí-sô với tâm truyền nhiễmkéo dắt phụ nữ có
khả năng hành dâm, từ xa kéo lại gần hay từ
gần xô đẩy ra xa, phạm tội đồng
như trước.
Thế nào là duệ?
-
Bí-sô đẩy hay dẫn người nữ từ bên
hữu qua bên tả hoặc, từ bên tả qua bên hữu,
hoặc từ chân lên đầu hay từ đầu
xuống chân.
Thế nào gọi là lên?
- Tức là đưa
người nữ từ dưới đất lên
khỏi mặt đất, không có y ngăn cách, phạm
Căn bổn tội; có y ngăn phạm Phương-tiện-tội.
Ngón chân hỏng đất như vậy, hoặc quá
đầu gối và quá các thân phần khác cho đến quá
đỉnh đầu. Nếu đưa lên, bồng lên
trên giường, trên voi, trên ngựa, trên xe, trên lầu…
với tâm truyền nhiễmtrong ư tưởng cảm xúc
khoái lạc và tùy theo lúc sử dụng thân phần xúc
chạm say sưa không có y ngăn phạm tội Căn
bổn; có y ngăn phạm tội Phương tiện.
Như vậy gọi là đưa lên.
Thế nào gọi là
xuống?
- Nếu Bí-sô nắm
người nữ có thể hành dâm, đở từ
lầu các xuống hoặc từ trên voi, ngựa, xe
cộ, giường nâng đở xuống cho đến
ngón chân chấm đất, phạm tội giống như
phần trên đă nêu. Như thế gọi là xuống.
Thế nào gọi là ôm?
- Bí-sô đối với
phụ nữ có khả năng hành dâm dùng tay ôm choàng,
trọn cả thân người, tùy theo thân phần xúc
chạm phạm tội đồng như trước.
Phàm xúc chạm thân
người nữ, có thể hành dâm, không có y phạm
tội Căn bổn, có y phạm tội Phương
tiện. Người nữ không thể hành dâm, không có y
phạm Thô tội, có y phạm tội Ác tác.
Bí-sô với tâm truyền
nhiễmxúc chạm nam Hoàng môn có thể hành dâm, không y
phạm Thô tội, có y phạm tội Ác tác.
Nếu không có thể hành dâm,
có y, không y đều phạm tội Ác tác.
Nếu xúc chạm bàng sanh, có
khả năng hay không có khả năng hành dâm đều
phạm tội Ác tác.
Nếu không có tâm truyền
nhiễmxúc chạm mẹ, chị em gái đều không
phạm.
Nếu thấy người
nữ bị nước trôi, hay thắt cổ, hoặc
uống thuốc độc tự vẫn… với tâm
cứu tế xúc chạm không phạm
Lại nữa, các
trường hợp không phạm: Không phạm ban
đầu, hoặc bị si cuồng tâm loạn thống
năo bức bách trong khi làm.
Học xứ thứ
ba: Nói lời thô bỉ ác độc .
“Nếu lại có Bí-sô với tâm truyền nhiễmcùng
người nữ nói lời thô bỉ xấu ác,
tương ứng với lời nói dâm dục như
những vợ chồng, Tăng-già-phạt-thi-sa.”
+ Lại có Bí-sô tức là
chỉ cho Ô-đà-di cùng đồng bọn. Với tâm
truyền nhiễmtrong đó có bốn câu như
trước đă nói. Người nữ tức là chỉ
cho đàn bà và đồng nữ có thể hiểu
được câu nói thiện, ác, phải quấy. Lời
nói thô bỉ xấu ác có hai loại: Một là đưa
đến Ba-la-thị-ca, hai là đưa đến
Tăng-già-phạt-thi-sa.
Thế nào gọi là lời
nói thô bỉ ?
- Có tự tánh thô bỉ và
nhơn khởi lên thô bỉ. Ác là chỉ cho điều
tội lỗi. Lời nói dâm dục, giao hội, như
vợ chồng nói với nhau. Tăng-già-phạt-thi-sa
như đă giải thích nơi giới trước.
Trong đây vấn
đề tướng phạm của nó như thế nào ?
- Có chín trường hợp
phạm: Khen khéo, nói xấu, nói thẳng, nói quanh, hỏi
thẳng, hỏi quanh, dẫn chứng, khen ngợi,
giận mắng.
Thế nào gọi là khen khéo
?
- Bí-sô với tâm truyền
nhiễm, đối với người nữ có thể
hiểu biết việc thiện, ác, nói như thế này:
Chị em! Ba “sang môn” của chị em thật là tốt
đẹp, h́nh dáng khả ái, nếu khi nói cùng với
“Diệp-bà” giao hợp th́ phạm Tăng-già-phạt-thi-sa.
Nếu nói không cùng với “Diệp-bà” giao hợp th́
phạm Tốt-thổ-la-để. Như vậy gọi
là khen khéo. (“Diệp-bà” là chánh chữ phương tây nói nam
nữ giao hợp không tuân theo phép tắc đúng cách.
Nếu chuẩn theo phương âm này th́ lời nói
đầy nham nhở thô bỉ. Mặt khác phương âm
này c̣n tùy nơi mà hiểu nghĩa, cho nên theo chữ
gốc, chữ của phương Tây c̣n nói lên sự
chỉ vẽ trao cho (giáo thọ) bằng lời nói. Khi theo
nghĩa này th́ cũng không hoàn toàn chỉ ra nghĩa thô
bỉ, xấu ác. V́ thế mà chỉ gọi là nguyên âm
“Diệp-bà” là vậy).
Thế nào gọi là nói
xấu ?
- Bí-sô với tâm truyền
nhiễm, đối với người nữ có thể
hiểu biết thiện ác, nói thế này: Chị em! Ba
“Sang-môn” của chị em thật là không tốt đẹp,
h́nh dáng đáng ghét. Nếu khi nói cùng với “Diệp-bà” giao
hợp th́ phạm Tăng-già-phạt-thi-sa, không nói như
thế th́ phạm Tốt-thổ-la-để. Như
vậy gọi là nói lời nói xấu.
Thế nào gọi là lời
nói thẳng ?
- Bí-sô đối với
người nữ…nói như thế này : Chị em cùng tôi
làm việc như vậy. Nếu nói cùng với “Diệp-bà”
giao hợp th́ phạm Tăng-già-phạt-thi-sa, không nói rơ
như thế th́ phạm Tốt-thổ-la-để.
Như vậy gọi là nói thẳng .
Thế nào gọi là nói quanh
?
- Bí-sô với tâm truyền
nhiễm, đối với người nữ… nói như
vầy : Chị em! Nếu có người nữ cùng với
người nam làm việc như vậy. Người
nữ kia ắt được người nam ái trọng.
Chị em cùng tôi làm việc như vậy, tôi cũng sẽ
gần gũi mến ái chị em. Nếu nói cùng với
“Diệp-bà” giao hợp, phạm Tăng-già-phạt-thi-sa,
không rơ ràng như vậy, phạm
Tốt-thổ-la-để. Như thế gọi là nói
quanh.
Thế nào gọi là nói
thẳng ?
- Bí-sô với tâm truyền
nhiễm... nói như vầy : Chị em! Nếu có
người nam cùng với người nữ làm việc
như vậy, người nam ấy chắc ái niệm
người nữ. Tôi cùng với chị em làm việc
như vậy, chị em có ái niệm đối với tôi
hay không ? Ngoài ra đồng như trước.
Thế nào gọi là hỏi quanh?
- Bí-sô với tâm truyền
nhiễm ... nói như vầy: Chị em! Nếu có
người nữ cùng với người nam làm việc
như vậy, người nam này chắc là được
người nữ yêu. Nay tôi yêu chị em, chị em
đối với tôi có thể làm việc như vậy hay
không? Ngoài ra, đồng như trước.
Thế nào gọi là dẫn chứng
?
- Bí-sô với tâm truyền
nhiễm… nói như vầy: Chị em! Tôi trước
đây từng ở nơi Thiên miếu trong vườn…chỗ
Đại chúng tụ tập, cùng với các người
nữ ăn thức ăn mỹ diệu, uống
nước mật tương ngon, trải hương hoa,
ghế ngồi, giường nằm trải phu cụ
nhất hạng, suốt đêm đèn ngoài sân, đây đó
sáng rực, cùng với người nữ kia nói lời nói
như vậy; Chị em lúc ấy đến nhóm họp,
tôi cũng cùng với chị em làm việc như vậy.
Ngoài ra, đồng như trước.
Thế nào gọi là khen
ngợi ?
- Bí-sô với tâm truyền
nhiễm… nói như vầy: Chị em! Có người nam cùng
với chị em nói lời nói như vậy. Chị em! Có
người nam cùng với chị em làm việc như
vậy. Người ấy được cái vui hiện
tiền và cái vui cơi trời. Tôi cùng với chị em làm
việc như vậy, như vậy cũng
được cái vui hiện tiền và cái vui nơi cơi
trời. Ngoài ra, đồng như trước.
Thế nào gọi là giận
mắng ?
- Bí-sô với tâm truyền
nhiễm… nói như vầy: Chị em cùng với rắn và
lạc đà làm việc dâm dục. Nói như lời mạ
nhục như vậy. Nếu nói cùng với “Diệp-bà”
giao hợp phạm Tăng-già-phạt-thi-sa, không nói rơ ràng
như vậy, phạm Tốt-thổ-la-để. Như
vậy gọi là giận mắng.
Bí-sô đối với
phụ nữ, đồng nữ nói chín điều như
trên, phụ nữ, đồng nữ là người có
khả năng hành dâm, hiểu biết việc thiện, ác
nói lại với Bí-sô này: Thánh giả! Hai “sang-môn” của
Ngài thật là tốt đẹp, h́nh dạng khả ái.
Bí-sô nghe nói như vậy rồi có tâm truyền nhiễm,
khởi ư thọ lạc, ghi ấn tượng vào trong
đời sống. Tùy theo lúc tùy theo cách nói, dùng lời
đối đáp. Nếu nói cùng với “Diệp-bà” giao
hợp, phạm Tăng-già-phạt-thi-sa, không rơ ràng đúng
lúc phạm Tốt-thổ-la-để. Như vậy
gọi là khéo nói.
Thế nào gọi là ác thuyết ?
- Quảng diễn giống
như trên... Cho đến người nữ đến
đối diện trước Bí-sô, nói như thế này:
Thánh giả, hai “Sang môn” của Ngài thật không đẹp
chút nào, h́nh dạng xấu làm sao (ngoài ra nói như trên
như đă nói).
Thế nào nói thẳng ?
- Giống như trước
đă nói… Cho đến người nữ đến
trước Bí-sô lời nói như thế này: Thánh giả
cùng với tôi hành sự như vậy, như vậy… ngoài
ra phạm tội như trên đă đề cập.
Thế nào gọi là nói quanh
?
- Như trên đă rơ…cho
đến người nữ đến trước Bí-sô
nói như thế này: Nếu có người nam cùng với
người nữ hành sự như vậy, như vậy.
Người nam này ắt yêu đắm người nữ.
Ngài nếu cùng tôi hành sự như vậy, như vậy.
Tôi nay cũng sẵn sàng yêu dấu thương Ngài vô cùng…
ngoài ra phạm tội cũng như trên đă đề
cập.
Thế nào là hỏi
thẳng ?
- Giống như trên đă
nói, cho đến người nữ đến
trước Bí-sô, nói lời như thế này: Thánh giả!
Nếu người nữ cùng với người nam hành
sự như vậy, như vậy người nữ
ắt yêu say đắm người nam lắm. Bây giờ,
tôi cùng ngài hành sự như vậy. Ngài có để ḷng
thương tôi, yêu tôi lắm không ? Ngoài ra phạm như
trước đă nói.
Thế nào là hỏi quanh co ?
- Đă đề cập
như trên, cho đến nói như thế này: Thánh giả!
nếu có người nam cùng với người nữ hành
sự như vậy, người nam này chắc yêu
người nữ lắm. Bây
giờ, tôi yêu Ngài, Ngài với tôi nơi đây có thế hành
sự được không ? ngoài ra phạm đều
giống như trên.
Thế nào là dẫn
chứng ?
- Giống như đă nói
như trên. Cho đến nói lời như thế này: Thánh
giả! Tôi từng ở nơi vườn…trong Thiên
miếu, chỗ nhiều người tụ tập cùng
với các người nam ăn thức ăn mỹ
diệu, uống mật tương hảo hạng,
hương hoa trải đầy, giường ghế
trải phu cụ sang trọng, suốt đêm đèn ngoài
sân đây đó sáng rực, đă cùng các người nam hành
sự như vậy. Nếu Thánh giả lúc này đến
dự tiệc. Tôi sẽ cùng với Ngài hành sự như
vậy…ngoài ra phạm cũng đều giống như
trước.
Thế nào gọi là khen
ngợi ?
… Cho đến lời nói
như thế này : Thánh giả! Nếu có người
nữ cùng Ngài hành sự như vậy, hiện tại
họ được thoả thích và nhận
được cái vui của trời. Tôi cùng Ngài hành sự
như vậy cũng sẽ được cái thoả thích
hiện tại và niềm lạc thú của trời… ngoài ra
phạm đều giống như trước.
Thế nào là giận
mắng ?
- Nghĩa là, đây
người nữ có thể hành dâm hiểu lời
thiện, ác, đến trước Bí-sô nói lời như
thế này: Ông nên cùng lạc đà, súc vật…làm cái việc
dâm dục. Đây là lời nói mạ nhục. Nếu Bí-sô
với tâm nhiễm yêu đương, xem đây là sự
thích thú ghi ấn tượng này lên sự sống, tùy theo
lúc, tùy theo cách nói dùng lời đối đáp. Nếu nói
cùng với “Diệp-bà” giao hợp phạm
Tăng-già-phạt-thi-sa. Nếu không nói lời nói như
thế phạm Tốt-thổ-la-để. Nếu
người nữ vô lực phạm
Tốt-thổ-la-để. Nếu nam nữ Bán-trạch-ca
nhận cho hành dâm, phạm Tốt-thổ-la-để, không
kham nhận cho phạm Ác tác. Với loài Bàng sanh hữu
lực hay vô lực đều phạm tội Ác tác.
Không phạm: Nếu nói
“Diệp-phược” (loại đại mạch) hay nói
“Diệp-ma-ni” (Tức tấm màng che) tức là dùng lời
nói lóng. Hoặc với phương quốc nào đó, dù cho
lời nói ấy là thô bỉ, xấu xa xong chẳng
phải chỗ “huư” vậy, đều chẳng phải
phạm. Lại không phạm là người phạm ban
đầu, hoặc bị cuồng si, tâm loạn thống
năo bức bách.
Học xứ thứ
tư: Đ̣i hỏi sự cúng dường.
Đức Phật ở
thành Thất-la-phạt trong rừng Thệ-đa,
vườn ông Cấp-cô-độc.
Lệ thường,
Lục chúng Bí-sô hay siêng năng với công việc của
ḿnh. Vào buổi sáng sớm hằng ngày, Lục chúng
đặt một người nơi cửa rừng
Thệ-đa làm công việc chăm nom chùa chiền. Khi
ấy, Ô-đà-di chào đón mọi người đến
để mời vào chùa. Theo chân họ làm người
dẫn đường, hướng dẫn họ
đến pḥng xá lễ Phật và Tăng. Giống như
đă đề cập ở giới trước… cho
đến v́ nữ thuyết pháp tự khen ngợi thân
của Ô-đà-di. Chị em, đây là sự cúng
dường cao nhất trong các sự cúng dường,
chẳng hạn như tôi là người tu thiện, tŕ
giới nên các chị em lấy phép dâm dục cúng
dường cho tôi. Khi nói lời như thế trước
các người nữ, trong số đó, người nữ
nào có máu si t́nh th́ chấp nhận hiện rơ lên nụ
cười khoái trá; c̣n người nữ nào coi đây là
điều bị nhục, cơ hiềm liền bỏ ra
ngoài nói… (giống như trên đă đề cập). Các
Bí-sô nghe được sự cơ hiềm này liền
quở trách Ô-đà-di…rồi bèn đến bạch
Phật. Đức Phật dựa vào nhân duyên này tập
hợp chúng Bí-sô… cho đến v́ các Bí-sô chế học
xứ này như sau:
“Nếu lại có Bí-sô
với tâm truyền nhiễm, đối trước
người nữ, tự khen ngợi ḿnh: Này chị em,
nếu Bí-sô chẳng hạn hàng Bí-sô như tôi - Tu phạm
hạnh, đầy đủ Thi-la được
Thiện pháp tối thắng, có thể đem pháp dâm
dục này mà cúng dường cho họ. Nếu Bí-sô nói
lời như vậy, Tăng-già-phạt-thi-sa”.
+ Bí-sô ở đây chỉ cho
Ô-đà-di và các Bí-sô khác cùng loại như vậy. Với
tâm truyền nhiễm, ấy là người đó rơi vào
bốn cú nghĩa đă nói rơ ở giới trước.
Nữ
nhơn ấy là phụ nữ và đồng nữ có
khả năng hiểu biết được việc
thiện, ác.
Gọi là tự khen ngợi
ḿnh là lời cầu xin đ̣i hỏi sự cúng
dường của chị em - Đây là sự cúng
dường cao nhất trong sự cúng dường th́
gọi đó là đệ nhất.
Tương tự như tôi,
chỉ cho chính ḿnh. Đầy đủ Thi-la, tức
đủ giới uẩn. Có thắng thiện pháp, tức
đủ Định uẩn.
Tu phạm hạnh tức là
đủ Huệ uẩn. Đem pháp dâm dục cung
phụng, tức chỉ cho vấn đề phi pháp
thuộc về dâm dục chứ không phải pháp khác. Dâm
dục là hạnh bất tịnh. Ngoài ra, như
trước đă nói.
Tướng phạm của
vấn đề này như thế nào ?
- Có mười tám việc:
Tối, Thắng, Thù, Diệu, Hiền, Thiện, Ứng
cúng, Khả ái, Quảng bác, Cực tối, Cực
thắng, Cực thù, Cực diệu, Cực hiềm,
Cực thiện, Cực ứng cúng, Cực khả ái,
Cực quảng bác.
Bí-sô với tâm truyền
nhiễm, đối với người nữ có khả
năng nói lời như vầy: Chị em! Trong các món cúng
dường thứ này là hơn hết. Hạng
người đầy đủ giới hạnh như
tôi nên đem pháp dâm dục cung phụng, phạm
Tăng-già-phạt-thi-sa.
Trường hợp “hơn
hết” (tối) như vậy cho đến cực
quảng đại, chuẩn theo đây nên biết. Cụ
giới đă vậy, Thiện pháp, phạm hạnh cũng
lại như vậy. Mỗi thứ nói riêng biệt.
Hoặc nói, tôi là Cụ
giới thiện pháp, Cụ giới phạm hạnh,
Thiện pháp Cụ giới, Thiện pháp phạm hạnh.
Phạm hạnh Cụ giới, Phạm hạnh thiện
pháp, từng cặp hiệp lại nói.
Hoặc nói, tôi là Cụ
giới Thiện pháp phạm hạnh, Thiện pháp phạm
hạnh Cụ giới, phạm hạnh Cụ giới
Thiện pháp, ba thứ hiệp lại nói. Nếu nói
hạng người như chúng tôi nên dùng pháp dâm dục cung
phụng, Tăng-già-phạt-thi-sa.
Nếu Bí-sô đối với người nữ có
khả năng hành dâm, với tâm truyền nhiễm,
khởi lên lời nói: Này chị em! Món cúng dường
đây là hơn hết, như hạng người Cụ
giới của chúng tôi nên có thể cúng dường, mà không
cùng với pháp dâm dục hiệp lại nói, phạm
Tốt-thổ-la-để.
Trường hợp hơn
hết “tối” đă như vậy, cho đến cực
quản đại chuẩn theo đây nên biết.
Như vậy mỗi thứ
nói riêng, từng cặp hiệp lại nói, ba thứ
hiệp lại nói, đều phạm
Tốt-thổ-la-để .
Nếu Bí-sô đối với người nữ có
khả năng hành dâm, với tâm truyền nhiễm,
khởi lên lời nói: Này chị em! Món cúng dường này
là hơn hết.
Nếu có Bí-sô là người
Cụ giới có thể nên cúng dường, cùng với pháp
dâm dục hiệp nói, mà không nói rằng: Hạng
người như chúng tôi, phạm
Tốt-thổ-la-để. Ngoài ra, như trước
đă nói
Nếu có Bí-sô với
người phụ nữ… không nói rằng: Như hạng
chúng tôi. Không cùng với pháp dâm dục hiệp nói, phạm
Đột-sắc-ngật-lư-đa. Mỗi thứ nói riêng
v.v…Chuẩn như trên nên biết.
Như đối với
người phụ nữ có khả năng hành dâm, phạm
căn bổn tội; Đối với người
nữ không có khả năng, phạm Phương tiện
tội.
Nếu đối với nam
tử, Bán-trạch-ca có khả năng hành dâm, phạm
Tốt-thổ-la-để; nếu đối với
hạng không có khả năng, phạm tội Ác tác.
Nếu đối với loài
Bàng sanh có sức, không có sức đều chỉ mắc
Ác tác mà thôi.
Trường hợp không
phạm: Người phạm lần đầu,
người bị si cuồng, tâm loạn thống năo
bức bách.
CĂN BẢN
THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA
QUYỂN 11- (hết).