CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU
BỘ TỲ-NẠI-DA
QUYỂN 10
TAM TẠNG PHÁP SƯ NGHĨA TỊNH PHỤNG
CHẾ DỊCH.
Giới thứ tư,
phần hai :
- Học xứ
vọng nói ḿnh đắc pháp thượng nhân.
Lúc bấy
giờ, đức Bạc-già-phạm cho năm trăm
ngư phủ xuất gia thọ Viên cụ rồi, từ
Bệ-xá-ly đến tụ lạc phía Bắc rừng Trúc
có khu rừng Thăng- nhiếp-ba, đức Phật và các
Bí-sô nương ở nơi đây. Vào thời gian ấy,
gặp lúc cơ cẩn đói khát mất mùa khất
thực khó được. Cha mẹ đối với con
c̣n không giúp đỡ được, huống là
người khác đến xin.
Khi ấy
đức Thế Tôn bảo các Bí-sô rằng:
- Hiện nay
gặp lúc mất mùa đói khát, khất thực khó
được, cha con c̣n không thể giúp nhau, các ông nên
mỗi người, tùy theo chỗ bạn hữu thân quen
ở các tụ lạc lân cận Bệ-xá-ly t́m sự giúp
đỡ để mà thọ an cư, Như Lai cùng
A-nan-đà an trụ nơi rừng này.
Các Bí-sô nghe
rồi, một mực vâng theo lời dạy, mỗi
người tùy theo chỗ quen biết của ḿnh
đối với bạn thân quen, nơi các tụ lạc
không xa Bệ-xá-ly để an cư.
Đối
với năm trăm Bí-sô Thiện lai, khi tự xem xét
lại bản thân, cùng nhau có chung nhận định:
- Các vị nên
biết, như Thế Tôn dạy, hiện tại nạn
đói xảy ra, việc khất thực khó khăn, cha con
không giúp nổi nhau huống là người ngoài đến xin.
Chúng ta mỗi người t́m đến bạn hữu thân
quen ở các tụ lạc lân cận Bệ-xá-ly, xin giúp
đỡ để an cư, c̣n đức Phật và
A-nan-đà th́ trụ lại nơi khu rừng đó.
Với các nơi này, chúng ta không có ai thân thuộc cả
để có thể nương nhờ mà thọ an cư.
Tuy nhiên, nơi thôn của những ngư phủ th́ chúng ta
có quyến thuộc, nên đến đó cùng nhau hỏi xem
sao, rồi bên ngoài thôn linh động làm thảo am
để an cư.
Luận bàn
xong, năm trăm Bí-sô liền đến nơi thôn
người đánh cá, hỏi ư kiến của những
quyến thuộc xong, linh động làm các thất nhỏ
ở ngoài thôn để rồi an cư. Bấy giờ, các
Bí-sô cùng gọi bảo với nhau rằng:
- Xét ra chúng ta,
chưa học hành hiểu biết ǵ về giáo lư, nếu
các quyến thuộc đến cầu hỏi, làm sao chúng
ta v́ họ thuyết pháp ? Như vậy, nếu khi họ
đến hỏi cần thiết, chúng ta phải cùng khen
ngợi nhau thế này:
“Quư vị bà
con được thiện lợi rất lớn. Trong xóm
làng của quư vị mà có được số Tăng chúng
vi diệu trong thắng pháp thế này an cư là
điều quư. Các Bí-sô này chứng tưởng Vô
thường; đối Vô thường khổ
tưởng; đối với khổ, không tưởng,
đối với không, Vô ngă tưởng, yểm ly
thực tưởng. Đối với tất cả
Thế gian không có cái Tưởng ưa thích; Tưởng
hoạn nạn, tội lỗi, Tưởng đoạn
trừ; Tưởng ĺa dục, Tưởng chấm
dứt, Tưởng chết chóc. Tưởng bất tịnh,
Tưởng thanh ứ, Tưởng phùng trướng,
Tưởng nồng lưu, Tưởng trùng ăn,
Tưởng huyết đồ, Tưởng tan ră,
Tưởng xương trắng, Tưởng quán không.
Bí-sô này đắc Sơ Tịnh lự, Nhị Tịnh
lự, Tam Tịnh lự, Tứ Tịnh lự,
đặng Từ, Bi, Hỷ, Xả, Không vô biên xứ,
Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi
tưởng, Phi phi tưởng xứ. Quư vị này
đắc Tứ quả, Lục thần thông, Bát giải
thoát...”
Không bao lâu sau
thời gian tính bàn, các thân quyến kia đến thăm và
cầu hỏi. Khi đó các Bí-sô tiếp kiến nồng
hậu, nhân ấy lại cùng nhau tán thán đúng như
những lời khen ngợi về sự chứng
đắc của tưởng đă tính bàn được
nêu rơ ở trên...
Khi nghe các Bí-sô
tự cùng nhau khen ngợi như thế, các quyến thuộc
đă thưa:
- Kính thưa
Thánh giả ! Quư vị chứng được Thắng
quả như vậy ?
- Đúng
như vậy. - Các Bí-sô trả lời.
Bấy
giờ, các người thế tục nghe quư vị
chứng được thắng quả như thế,
rất cảm kích và đem ḷng mến mộ kính trọng.
Đối với cha mẹ, vợ con, quyến thuộc
của họ không thể cứu trợ giúp đỡ, xong
đối với các Bí-sô họ đều dùng thức
ăn, thức uống cung phụng đầy đủ.
Theo thông
lệ, khi đức Thế Tôn, chưa vào Niết-bàn, c̣n
An trụ nơi thế gian, đối với các
đệ tử, hằng năm có hai lần nhóm họp
đông đủ, một là ngày mười lăm tháng
năm, thời gian sắp an cư, hai là ngày mười
lăm tháng tám, khi lễ Tùy ư rồi. Trước khi an
cư th́ nhóm họp để nhận tôn ư của Như
Lai về các nơi thành, ấp, thôn, phường tụ
lạc an cư.
Sau lễ Tùy ư
th́ hội về gặp gỡ để tŕnh Như Lai
chỗ sở chứng của ḿnh để tất cả
đều biết, nếu Bí-sô nào chưa chứng th́ tham
khảo phương pháp để tu chứng. Các Bí-sô an
cư nơi gần Bệ-xá-ly, ba tháng an cư đă măn, may
y xong, nhan sắc tiều tụy, h́nh dung yếu ốm,
chấp tŕ y bát đến nơi thôn Trúc Lâm. Vừa
đến thôn Cụ thọ A-nan-đà c̣n xa đă nhận
ra các Bí-sô. Với đồng phạm hạnh, Tôn giả
liền khởi tâm vui vẻ, lân mẫn thốt lớn
lời: “Kia ḱa “Thiện lai” đă về”. Tôn giả
liền vội đến trước nghinh tiếp các
Bí-sô, đón rước y bát, Tích trượng, Quân b́nh, và
các vật dụng tự cụ của Sa-môn đồng
thời vấn an:
- Cụ
thọ! Các Ngài an cư nơi trú xứ nào đến
vậy ?
Bí-sô
đáp:
- Tôi an cư
ba tháng nơi tụ lạc Phật-lật-thị, nay
về đây để yết kiến Thế Tôn.
Tôn giả
A-nan-đà thăm hỏi:
- Các vị,
với trú sứ đó trong ba tháng an cư, việc khất
thực có khó khăn lắm hay không ?
Các bí-sô
đáp:
- Dù sao, an
cư nơi đó, cũng được sự an lạc,
xong việc khất thực cũng khó đạt
được sự may mắn.
Như cảm
thông, A-nan-đà nêu lên nhận xét:
- Đúng như vậy,
Cụ thọ, nh́n h́nh dung
của các Ngài đủ thấy rơ sự khó khăn trong
việc khất thực, các Ngài quá tiều tụy, xanh xao,
ốm yếu!
C̣n với
chúng, năm trăm bí-sô nơi thôn ngư phủ khi an cư
xong, cũng chấp tŕ y bát về để yết
kiến Như Lai. Tất cả đều có nhan sắc
hồng hào mập béo ph́ nộn. Khi từ xa, vừa trông
thấy, A-nan-đà đă vui mừng và với tấm ḷng
lân mẫn, A-nan-đà vội ra chào hỏi tiếp đón và
rước y bát... Như trước đây... Sau khi
vấn an mọi việc...
Tôn giả
A-nan-đà hỏi:
- Nơi thôn
Ngư phủ, việc khất cầu ăn uống có
dễ không ? Các vị có thực hành an cư chứ ?
Các Bí-sô đáp:
- Chúng tôi an
cư nơi đó thật sự được an lạc,
vấn đề khất thực dễ dàng không có ǵ khó
khăn.
A-nan-đà
bảo rằng:
- Đúng
như vậy, nh́n vào h́nh dung của các Cụ thọ
đủ thấy rơ điều đó. Việc khất
cầu ăn uống dễ dàng như vậy nên các Cụ
thọ béo tốt, hồng hào là phải.
Nhưng mà này
các vị. - Tôn giả hỏi tiếp:
- Hiện nay
gặp lúc mất mùa, nhân dân đói khổ, cha mẹ vợ
con c̣n không giúp nhau
được, tại sao các vị không gặp khó khăn
trên vấn đề khất thực ?.
Các Bí-sô nọ
thưa rằng:
- Chúng tôi
đối với các quyến thuộc tự khen ngợi
nhau, như nói Bí-sô này Đắc vô thường
tưởng... cho đến câu... đắc Bát giải
thoát.
Tôn giả
liền hỏi:
- Sự
việc các Ngài vừa tŕnh bày đó là một sự
thật hay hư dối ?
Các Bí-sô
đáp:
- Hoàn toàn là
hư cấu.
- Này các Cụ
thọ. - Tôn giả nói: Chỉ v́ vấn đề
miếng ăn nhỏ mọn, sự thật không chứng
được pháp thượng nhơn mà tự dối nói
là có chứng đắc. Như vậy hợp đạo
lư hay chăng ?
Các Bí-sô ấy
liền nói:
- Dầu
hợp hay không hợp, chúng tôi đă làm rồi.
Lúc bấy
giờ các Bí-sô vui với sự thiểu dục đều
cơ hiềm quở trách việc làm phi pháp rằng.
Tại sao các người tham ăn uống, không chứng
Pháp Thượng nhân mà tự xưng là chứng đắc
để cầu ăn ?! Bấy giờ các Bí-sô đem
vấn đề bạch Phật. Đức Phật
lấy đó làm nhơn duyên, hợp các Bí-sô Ngài biết mà
vẫn hỏi... (Nói đầy đủ như
trước).
Đức
Phật hỏi các Bí-sô ở bên bờ sông Thắng Huệ
rằng:
- Sự
thật có phải các Bí-sô không chứng đắc Pháp
Thượng nhân mà dối nói là có chứng hay không ?
Các Bí-sô ấy
thưa:
- Bạch
đức Thế Tôn ! Đúng sự thật là chúng con nói
dối như vậy.
Ngay lúc ấy,
đức Thế Tôn bằng mọi cách quở trách các
Bí-sô:
- Các ông không
phải Sa-môn, không phải hạnh Tùy thuận, làm việc
không nên làm, chẳng phải oai nghi, chẳng phải
việc làm của người xuất gia. Các ông nên
biết, trong thế gian có ba bọn giặc nguy hiểm. Ba
loại ấy là ǵ và trong hàng các Bí-sô có loại đại
giặc này ? Nghĩa là:
1. Bọn
giặc hoặc có trăm chúng, hoặc ngàn chúng, hoặc
trăm ngàn chúng kéo đến nơi thành ấp, tụ
lạc kia phá tường, mở khóa, trộm lấy
vật của người, hoặc làm đứt
đường, giết hại, hoặc phóng hỏa
đốt làng xóm, hoặc phá kho của nhà vua, hoặc
cướp đoạt thành ấp. Như vậy gọi là
bọn đại giặc thứ nhất trong thế gian.
Này các Bí-sô ! Đó là một loại giặc lớn.
2. Bọn
giặc không có trăm chúng, ngàn chúng, trăm ngàn chúng, không
đến nơi thành ấp đập phá tường,
mở khóa cướp đoạt của người,
cũng không làm đứt tường, không đốt thôn,
không phá kho của vua v.v... xong lấy của Tăng-kỳ
như cỏ rau, cây trái tre nứa... đem bán để
nuôi sống hay cho kẻ khác. Như vậy gọi là
bọn giặc thứ hai hiện diện trong thế gian.
Lại có loại giặc này trong các Bí-sô.
3. Bọn
giặc không có trăm chúng, ngàn chúng, trăm ngàn chúng, không
đến nơi thành ấp đập phá tường,
mở khóa cướp đoạt của người... cho
đến không lấy của Tăng-kỳ... để
nuôi sống hay cho kẻ khác; xong đối với tự
thân thật chưa chứng đắc pháp của
Thượng nhơn mà vọng dối đă chứng
đắc. Đây gọi là loại giặc thứ ba
sống trong thế gian.
- Này các Bí-sô:
Đại giặc thứ nhất, đại giặc
thứ hai th́ gọi là giặc nhỏ. C̣n các ông Bí-sô
nếu thật sự chưa chứng pháp thượng
nhơn mà tự xưng chứng đắc, th́ ở trong
loài người, trời, Ma-phạm, Sa-môn, Bà-la-môn đây
chính là loại giặc cực kỳ nguy hiểm. Như Lai
liền nói kệ:
Thật chẳng
phải La-hán
Tự nói là La-hán
Ở trong loài trời
người
Đây là kẻ
đại tặc.
Lúc bấy giờ,
đức Thế Tôn quở trách các Bí-sô rồi bảo
rằng:
- Ta quán
mười điều lợi, v́ các đệ tử,
đối với Tỳ-nại-da, chế Học xứ
này như sau:
“Nếu
lại có Bí-sô thật sự không biết, không biết
vấn đề ǵ cả, tự biết ḿnh không chứng
đắc pháp của Thượng nhơn, Thánh giả tịch
tịnh là bậc chứng ngộ thù thắng, trụ trong
trí kiến an lạc, mà nói rằng ta biết, ta thấy.
Kẻ ấy, trong thời gian khác, hoặc có người
hỏi hoặc không có người hỏi, muốn
được tự ḿnh thanh tịnh nên nói thế này: Này
các Cụ thọ ! Thật sự tôi không biết, không
thấy mà hư vọng dối trá nói có biết có thấy
th́ phạm Ba-la-thị-ca, không nên sống chung ”.
Lúc bấy
giờ, đức Thế Tôn v́ các Bí-sô chế Học
xứ này rồi, một số đông các Bí-sô, khi sống
ở A-lan-nhă sử dụng ngọa cụ thô xấu
tương ứng với sự sách tấn duyên cần,
tự tướng đạt rất ít, lặng lẽ
đ́nh chỉ mọi phương tiện sống. Thế
gian nghĩ rằng các Bí-sô này đă chiết phục
phiền năo, dục nhiễm sân nhuế không c̣n hiện hành
nữa. Dịp nọ, họ bảo với nhau rằng:
- Cụ
thọ! Nay, ngài biết chăng: Thời gian ở nơi
A-lan-nhă, những ǵ cần chứng, nay tôi đă chứng
được. Ngă sanh đă hết, phạm hạnh đă
lập, việc cần làm đă làm xong, không thọ thân sau
nữa. Nay tôi rời A-lan-nhă đến nơi ở tụ
lạc vậy.
Thế
rồi, họ bỏ rừng tịnh đến thôn xóm
để ở. Nơi đây, họ thường thấy
nữ nhơn, khi th́ lại thấy Tịnh nhơn và các
Cầu tịch, mọi thứ cộng lại làm thành
sự sống phức tạp, phiền năo quay trở
lại dấy động, dục nhiễm, sân nhuế
trở lại hiện lên theo hành động. Lúc bấy
giờ Bí-sô kia liền nghĩ: Thế Tôn v́ các đệ
tử, đối với Tỳ-nại-da chế Học
xứ:
“Nếu
lại có Bí-sô thật sự không biết, không biết
vấn đề ǵ cả, tự biết ḿnh không
đắc pháp thượng nhơn, Thánh giả Tịch
tịnh là bậc chứng ngộ Thù Thắng, trụ trong
tri kiến an lạc, mà nói rằng ta biết, ta thấy.
Kẻ ấy trong thời gian khác, hoặc có người
hỏi, hoặc không có người hỏi, muốn
được tự ḿnh thanh tịnh nên nói như thế
này: Này các Cụ thọ! Thật sự tôi không biết không
thấy mà hư vọng dối trá nói có biết có thấy
th́ phạm Ba-la-thị-ca không nên sống chung ”.
Khi Học
xứ được nhắc lại, các Bí-sô liền
bảo nhau rằng:
- Chúng ta
sống ở A-lan-nhă với ngọa cụ thô sơ
tương ứng với sự tinh tấn cảnh
tỉnh, tự tướng đạt mức thấp
nhất, lặng lẽ đ́nh chỉ mọi phương
tiện sống, chiết phục được phiền
năo bèn bỏ rừng tịnh đi về ở nơi xóm
làng để rồi nh́n xiết bao phiền năo hiện
hành...(lập lại như trước lời đă nói).
Há chẳng phải chúng ta phạm Tha thắng rồi sao ?
Chúng ta cùng đến chỗ Cụ thọ A-nan-đà,
trần tŕnh sự việc này xem hướng dẫn
như thế nào để chúng ta làm theo.
Thế
rồi họ đến đặt vấn đề này
với Cụ thọ A-nan-đà rằng:
- Cụ
thọ biết không! Như Thế Tôn đă v́ các đệ
tử mà chế Học xứ không được dối
cuống rằng: “Nếu lại có Bí-sô cho đến
phạm Ba-la-thị-ca, không được sống chung”.
- Chúng tôi
ở nơi A-lan-nhă, phiền năo không hề dấy
động. Nay lại về xóm làng phiền năo lại sanh
ra như cũ (lập lại như trước)... Chúng
tôi với sự việc như vậy có chỗ nghi:
“Phải chăng chúng tôi phạm tội Tha thắng rồi
sao ?” Nay xin hỏi rơ Cụ thọ A-nan-đà hướng
dẫn như thế nào th́ chúng tôi phụng hành như
thế ấy. Lư do chúng tôi đến đây là như
thế, mong Cụ thọ giúp ư cho để làm sáng tỏ
vấn đề chúng tôi có phạm tội Ba-la-thị-ca
không ?
Khi đă
lắng nghe các Bí-sô tŕnh bày sự việc như vậy
rồi, Cụ thọ A-nan-đà quyết định tŕnh
sự việc này lên đức Phật, Cụ thọ
đưa Bí-sô đến chỗ đức Phật.
Tất cả đều lễ chân Phật rồi ngồi
qua một bên. Sau đó Cụ thọ A-nan-đà bạch
Phật:
- Bạch
đức Thế Tôn, Ngài đă v́ các Bí-sô với vấn
đề như vậy chế ra Học xứ không
dối cuồng, Tỳ-nại-da ghi lời Ngài chế:
“Nếu lại Bí-sô... đến phạm Ba-la-thị-ca th́
không được sống chung”. Nay các Bí-sô này sống
nơi A-lan-nhă, thọ biên tế ngọa cụ tương
ứng cùng với chuyên cần sách tấn, đạt
tự tướng ít nhất lặng lẽ đ́nh chỉ
mọi phương tiện sống, tâm ư chiết phục
được phiền năo, dục nhiễm, sân nhuế
không c̣n hiện hành. Khi đă được trạng thái
như thế, các Bí-sô cùng nhau bảo rằng: Này các Cụ
thọ nay có biết không! Trong rừng A-lan-nhă này chỗ
chứng đắc của chúng ta đă được,
hiện tại ngă sanh đă hết, phạm hạnh đă
thành, việc làm đă xong không thọ lại thân sau. Bây
giờ chúng ta nên rời trú xứ A-lan-nhă đến
sống cùng với xóm làng. Thế rồi, họ rời
chỗ tịnh đến sống với xóm làng... Hằng
ngày họ nh́n thấy người nữ, khi th́ tiếp xúc
với Tịnh nhơn khi th́ với Cầu tịch.
Mọi thứ cộng lại làm thành cuộc sống
phức tạp, phiền năo lại quay trở về
với họ, dục nhiễm hiện hành. Từ đó
mỗi người trong họ đều sanh nghi niệm
đưa đến suy nghĩ, với vấn đề
như thế “Ta có phạm Ba-la-thị-ca không ?”. Do nghi
niệm này mà họ đến đến hỏi con, con
không dám quyết định nên con đến đây
để tŕnh bày vấn đề, xem Đại
đức Thế Tôn xác định họ chẳng
phải phạm tội cực trọng hay không ?
Thế Tôn
dạy rằng:
- Này
A-nan-đà, trừ Tăng thượng mạn, họ không
phạm Bổn tội.
Cũng nhân
thời gian này, Thế Tôn bằng mọi phương
tiện, v́ người yêu mến vui giữ giới, v́
người tôn trọng giới, tùy thuận, khuyến
bảo dẫn dụ mà Thế Tôn thuyết pháp. Sau đó
đức Phật bảo với các Bí-sô rằng:
- Này các ông
Bí-sô nên biết điều này: Trước đây, trên
cơ sở việc xảy ra,Ta lập chế ra Học
xứ, c̣n bây giờ th́ tùy khai Học xứ. Lại v́ các
Thanh-văn đệ tử mà Ta tùy khai vấn đề như
sau:
“Nếu có
Bí-sô thật sự không biết, không rơ được
vấn đề xung quanh, tự thân biết rơ không
đắc pháp Thượng nhân, Thánh giả tịch
tịnh, chứng ngộ thù thắng trụ trong Trí
kiến an lạc mà nói ta biết, ta thấy. Người
ấy, vào một thời điểm khác, có hỏi hay không
hỏi, muốn tự thân được thanh tịnh nên
đă nói như thế này: Các Cụ thọ! Tôi thật
không biết, không thấy lại hư cấu, dối trá,
vọng ngữ nói biết, nói thấy, trừ tăng
thượng mạn, Bí-sô này đều phạm tội
Ba-la-thị-ca, không được sống chung”.
+ Bí-sô: Nghĩa đă giải
thích trước đây.
+ Nói không biết ? Nghĩa là
không biết: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Nói
là không biết rơ khắp: Tức là không biết rơ sắc,
thọ, tưởng, hành, thức.
+ Pháp của Thượng nhân:
- Chữ Thượng:
Nghĩa là sắc giới đối dục giới là
thượng, vô sắc giới đối với sắc
giới là thượng.
- Nhơn là chỉ cho phàm
nhơn.
- Pháp tức là năm cái... có
khả năng trừ năm cái gọi thượng.
+ Tịch tịnh tức là
Niết-bàn. Thánh giả là chỉ cho Phật và Thanh-văn.
Chứng ngộ Thù thắng tức bốn quả Sa-môn:
Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán
+ Trí giả là bốn trí:
Khổ trí, Tập trí, Diệt trí và Đạo trí...
Thấy là thấy bốn Thánh
đế. Nếp sống an lạc là bốn tịnh
lự. Đây là sự tu tập phi sanh.
Nói tôi biết
tức là biết pháp Tứ đế. Nói tôi thấy
tức là thấy Trời, Rồng, Dạ-xoa thấy
Yết-lộ-đồ, Kiền-đạt-bà,
Khẩn-na-la, Cưu-bàn-trà, Yết-tra-bố-đơn-na,
Tất-xá-giá (quỷ).
Tôi nghe
tiếng của trời cho đến Tất-xá-giá quỷ.
Tôi đến cơi trời cho đến chỗ... Các loài
Trời, Rồng cho đến Tất-xá-giá... cũng
đến chỗ tôi. Tôi cùng với các loài Trời...
gần gũi nói chuyện với nhau và các loài
Trời... cũng đến
với tôi cùng gần gũi nói chuyện với nhau.
Thật sự tôi chưa chứng mà nói là tôi chứng,
tức là nói đắc Vô thường tưởng... Cho
đến đắc Bát giải thoát.
Thời gian
khác tức là sau khi nói, một thời gian nào đó. Có
người hỏi tức là bị kẻ khác hỏi. Không
có người hỏi tức là tự ḿnh sanh tâm hối
hận ôm lấy sự sầu ưu.
- Muốn
tự ḿnh được thanh tịnh tức là mong cầu
ra khỏi tội lỗi. Phát khởi lên lời nói: Cụ
thọ! Tôi thật không biết là thuộc về ư thức
vậy.
Tôi thật
không thấy là thuộc về nhăn thức vậy. Lời
nói hư vọng tức là nói khác với ư nghĩ.
Trừ
tăng thượng mạng tức là trừ hạng
người tăng thượng mạng. Họ thật
chưa chứng mà họ nhầm nói là đă chứng. Do
không nói hư vọng nên họ không phạm giới căn
bổn.
Chữ
“đây” là chỉ cho đương sự. Bí-sô là
người có tánh Bí-sô (nói đầy đủ như
trước) cho đến không thuộc trong mười
hai hạng người không được sai. Cho nên
gọi là không sống chung.
- Trong vấn
đề này tướng phạm của học xứ này
là như thế nào ?
Nhiếp
tụng:
Thấy tướng A-lan-nhă
Trong nhà thọ diệu ṭa
Với tự tướng thường
biết
Phương tiện rơ thân kia.
- Nếu Bí-sô
ưa muốn như vậy, nhẫn khả như vậy,
khởi lên lời nói:
Tôi thấy
chư thiên cho đến Yết-tra-bố-đơn-na, th́
phạm Ba-la-thị-ca. Cho đến tôi thấy Phấn
tảo quỷ th́ phạm Tốt-thổ-la-để.
- Nếu Bí-sô
ưa muốn như vậy, nhẫn khă như vậy
rồi khởi lên lời nói:
Tôi nghe chư
thiên cho đến Yết-tra-bố-đơn-na th́ phạm
Ba-la-thị-ca. Cho đến Phấn tảo quỷ th́
phạm Tốt-thổ-la-để.
- Nếu Bí-sô
vọng tâm khởi lên lời nói:
Tôi đến
chỗ loài trời, cho đến chỗ
Yết-tra-bố-đơn-na th́ phạm Ba-la-thị-ca. Cho
đến chỗ quỷ Phấn tảo, phạm
Tốt-thổ-la-để.
- Nếu Bí-sô
vọng tâm khởi lên lời nói:
- Nếu Bí-sô
vọng tâm khởi lên lời nói:
Tôi cùng với
chư thiên cùng tôi gần gũi đàm luận chuyện
tṛ, cho đến Yết-tra-bố-đơn-na, th́ phạm
Ba-la-thị-ca, nếu nói rằng: Gần gũi quỷ Phấn
tảo, th́ phạm Tốt-thổ-la-để.
- Nếu Bí-sô
vọng tâm khởi lên lời nói:
- Nếu Bí-sô
vọng tâm khởi lên lời nói:
Tôi đắc
Vô thường tưởng mà sự thật th́ không,
phạm Ba-la-thị-ca, cho đến vọng nói đắc
câu giải thoát đều phạm Ba-la-thị-ca.
- Nếu Bí-sô
vọng tâm khởi lên lời nói:
Có nhiều
Bí-sô hoặc ở nơi Thôn Phường, hoặc ở
nơi A-lan-nhă, phần nhiều bị phi nhơn đến
nhiễu loạn. Trong số đó, hoặc đắc
Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán-quả, Phi
nhơn liền không nhiễu loạn. Tôi ở nơi
chỗ đó, không bị phi nhơn nhiễu loạn th́
phạm Ba-la-thị-ca.
- Nếu Bí-sô
vọng tâm khởi lên lời nói:
Ở nơi
nhà... nhận sự mời cơm của người khác,
ṭa ngồi trải bằng lụa tạp năm màu
Thắng diệu, hoặc đắc tứ quả mới
đến nơi ṭa đó ngồi để thọ
thực, tôi cũng nhận được một ṭa
ngồi Thắng diệu như vậy, trong khi ngồi
ăn. Bí-sô nói như thế phạm Ba-la-thị-ca.
- Nếu có
nhiều chúng Bí-sô ở nơi A-lan-nhă hoặc trong thôn xóm,
hạn chế tự tướng, tâm được chánh
tịnh, dùng thế tục đạo phục trừ
phiền năo dục tham, sân nhuế không hiện hành.
Bí-sô vọng
tâm khởi lên lời nói: Tôi cũng trụ nơi A-lan-nhă
ấy, đắc một ít tự tướng
định, dùng thế tục đạo diệt trừ
phiền năo, dục tham sân nhuế cũng không hiện hành,
phạm Ba-la-thị-ca.
- Nếu Bí-sô
vọng tâm muốn tự khoe ḿnh, khởi lên lời nói:
Có Bí-sô
hiện thấy chư thiên, không nói là tôi, phạm
Tốt-thổ-la-để. Như vậy, cho đến
thấy Yết-tra-bố-đơn-na, không nói là tôi,
phạm Tốt-thổ-la-để, cho đến Phấn
tảo quỷ, phạm Ác tác tội.
- Nếu Bí-sô
vọng tâm khởi lên lời nói:
Có Bí-sô nghe
tiếng nói của chư thiên, không nói là tôi, phạm
Tốt-thổ-la-để. Như vậy, cho đến
nghe tiếng nói của Yết-tra-bố-đơn-na, không
nói là tôi phạm Tốt-thổ-la-để, cho đến
quỷ Phấn tảo, phạm Ác tác tội.
- Nếu Bí-sô
vọng tâm khởi lên lời nói:
Có Bí-sô
đến nơi chỗ trời ở, không nói là tôi,
phạm Tốt-thổ-la-để, cho đến
Yết-tra-bố-đơn-na, phạm
Tốt-thổ-la-để, cho đến Phấn tảo
quỷ, phạm Ác tác tội.
-
Nếu Bí-sô vọng tâm khởi lên lời nói:
Có Bí-sô, chư
thiên đến nơi họ, cho đến
Yết-tra-bố-đơn-na, không nói là tôi, phạm
Tốt-thổ-la-để, hoặc Phấn tảo
quỷ, phạm Ác tác tội.
- Nếu Bí-sô
vọng tâm khởi lên lời nói:
Có Bí-sô
thường đến chỗ loài trời, cùng chư thiên
nói năng nghị luận, cho đến
Yết-tra-bố-đơn-na, không nói là tôi, phạm
Tốt-thổ-la-để, nếu nói đến Phấn
tảo quỷ phạm Ác tác tội.
- Nếu Bí-sô vọng tâm
khởi lên lời nói:
Có Bí-sô, chư thiên đến
họ, cùng nhau nói năng bàn luận, cho đến
Yết-tra-bố-đơn-na, không nói là tôi, phạm
Tốt-thổ-la-để, Phấn tảo đồng
như trước.
- Nếu Bí-sô vọng tâm
khởi lên lời nói:
Có Bí-sô
đắc Vô thường tưởng... (nói như
trước) cho đến đắc Bát giải thoát, không
nói là tôi, Bí-sô nói như vậy, phạm
Tốt-thổ-la-để.
- Như có nhiều chúng Bí-sô
ở nơi A-lan-nhă hoặc thôn xóm, thường bị Phi
nhơn nhiễu loạn, trong đó Bí-sô đắc Tứ
quả, không bị Phi nhơn nhiễu loạn. Bí-sô
vọng tâm khởi lên lời nói: Có Bí-sô ở trong thôn xóm
không bị Phi nhơn nhiễu loạn, không nói là tôi,
phạm Tốt-thổ-la-để.
- Nếu nhiều chúng Bí-sô
ở trong nhà thế tục ngồi nơi ṭa thắng
diệu để nhận thức ăn của họ
đều đặng Tứ quả. Bí-sô vọng tâm
khởi lên lời nói: Có Bí-sô ở trong nhà kia, thọ ṭa
thắng diệu, không nói là tôi, phạm
Tốt-thổ-la-để.
- Nếu các Bí-sô ở nơi
A-lan-nhă hoặc ở nơi thôn xóm, đắc thiểu
Tự tướng định, dùng thế tục
đạo phục trừ phiền năo, tham dục sân nhuế
cũng không hiện hành không nói là tôi, phạm
Tốt-thổ-la-để.
- Bí-sô vọng tâm khởi lên
lời nói:
Có Bí-sô ở nơi thôn xóm,
đắc thiểu Tự tướng định, cho
đến phiền năo đều không hiện hành, không nói
là tôi, phạm Tốt-thổ-la-để.
Nhiếp tụng:
Đón thắng lại
bại trận
Nghiệp lực nam thành nữ
Suối ấm nghe tiếng voi
Đức
Phật ở thành Quảng Nghiêm, trong Cao các
đường, bên bờ ao Di-hầu. Lúc ấy,
nước Ma-yết-đà, vua Vị Sanh Oán cùng với các
Lật-cô-tỳ ở nơi thành Quảng Nghiêm từ lâu có
sự đối nghịch chống trái nhau. Vua Vị Sanh
Oán bèn nghiêm chỉnh bốn binh, tượng, mă, xa, bộ
kéo quân đến nước Phật-lật-thị khiêu
chiến nhau.
Khi ấy,
người trong nước Phật-lật-thị báo
với Lật-cô-tỳ nơi thành Quảng Nghiêm rằng:
- Vua Vị
Sanh Oán nước Ma-yết-đà nghiêm chỉnh bốn binh
kéo đến đây muốn đánh.
Nghe
được tin này, Lật-cô-tỳ liền nghiêm
lệnh cho binh ra khỏi thành để chống cự. Khi
binh chúng xuất quân, bấy giờ là vào buổi sáng
cũng vừa lúc Cụ thọ Đại
Mục-kiền-liên chấp tŕ y bát, vào thành Quảng Nghiêm,
định ḷng khất thực. Khi ấy, trong thành này đầy
binh chúng Lật-cô-tỳ. Họ trông thấy Cụ thọ
Đại Mục-kiền-liên từ xa đi lại,
liền gọi bảo nhau rằng:
- Quư vị
biết không: Tôn giả Đại Mục-liên, tôi đă
từng nghe, Ngài là vị thánh thứ ba, không có việc ǵ mà
Ngài không biết. Chúng ta nên hỏi Thánh giả xem hai
nước đánh nhau bên nào đắc thắng ?
Họ vội
vàng đến trước Tôn giả và thưa hỏi:
- Kính thưa Thánh giả ! vua
Vị Sanh Oán nước Ma-yết-đà đến đánh
phá nước chúng tôi, hiện hai nước đang dàn
quân đánh nhau, vậy ai sẽ thắng ?
Tôn giả
trả lời:
-
Các ông đắc thắng.
Họ tung ngay
tin này khắp trong quân rằng:
- Thánh giả
Mục-liên đă cho chúng ta biết điều tiên đoán
của Ngài là “chúng ta chiến đấu th́ sẽ
đắc thắng”.
Mọi
người rất vui mừng, hăng say phấn khích khi
nghe được tin này.
Địch
quân vốn khinh địch, không đề cao cảnh giác,
bố trí quân lỏng lẻo nên khi cùng địch quân giao
chiến, quân của Vị Sanh Oán bị đánh vỡ ngay,
thua chạy thục mạng lại bị địch quân
truy đuổi gấp lên hướng Bắc nhằm
đến tận bờ sông Khắc-già. Quân binh thành
Quảng Nghiêm trước sự đắc thắng này
nhuệ khí dũng mănh tăng lên gấp bội. Họ bám
đuổi riết.
Trước
t́nh thế này, vua Vị Sanh Oán bèn suy nghĩ: “Nhân dân trong
thành của ta vốn nuôi ḷng hung bạo như mănh thú,
nếu ngay bây giờ đưa quân qua sông trở về th́
họ xông tới bắt ta ngay, như lưới tóm
được cá sẽ bị giết hại sạch”.
Nghĩ như thế rồi, nhà vua liền cho cáo khắp
quân chúng tất cả phải một ḷng quay quân trở
lại đánh địch.
Nhận
được lệnh của nhà vua tuyên cáo, mỗi
người trong quân ngũ liền suy nghĩ: “Chúng ta
từ giă đất nước đi chinh phạt
Quảng Nghiêm, nay đây không may mắn bị đánh
bại nhưng c̣n sống sót, tất cả phải cùng
một ḷng, một dạ quay quân trở lại đánh úp
địch”. Trong khi ấy người của thành này rút
lui chiến bại, họ chạy vào trong thành đóng
chặt cửa tự cố thủ.
Sau khi quay
trở lại, đoàn quân của vua nước
Ma-yết-đà đánh úp đắc thắng địch
quân. Nhà vua cho thu quân rồi thống xuất binh mă trở
về thành Vương-xá...
Về phía
hậu phương, trong thành, người Lật-cô-tỳ
trên khắp nẻo đường tụ tập lại mà
cơ hiềm oán trách rằng: “Đại Mục-liên
quyết đoán chúng ta chiến thắng, nay thành này của
ta đă bị chôn vùi bại trận toàn diện, thử
hỏi chiến thắng chỗ nào ?”
Khi ấy,
Lục chúng Bí-sô vào thành khất thực nghe thế cơ
hiềm, xẵng giọng hỏi rằng:
- Các ông nay
cơ hiềm ai vậy ?
Mọi
người trả lời:
- Cơ
hiềm các người chứ c̣n ai nữa !
Lục chúng
bảo rằng:
- Chúng tôi có tội lỗi ǵ
để các ông cơ hiềm ?
Mọi
người nói:
- Thánh giả Đại
Mục-liên tiên đoán chúng tôi chiến thắng, nay thành này
của chúng tôi bị đánh phá toàn diện, bại
trận, há đây là chiến thắng hay sao?
Lục chúng
đáp rằng:
- Lúc đầu các ông chiến
đấu th́ nước nào đắc thắng.
Mọi
người bảo rằng:
- Khi ban đầu chúng tôi
chiến đấu th́ đắc thắng.
Lục chúng
đáp rằng:
- Các ông chiến thắng được
rồi th́ tập hợp rút quân lui về, ai lại
khiến các ông đuổi riết địch quân. Các ông há
không nghe sao: Con Dă can bị bách hại th́ sức của nó
như mănh hổ.
Mọi
người đang sôi sục cơ hiềm nghe lời này
của Lục chúng, tự biết ḿnh vô lư im lặng không
trả lời nữa.
Bấy
giờ, Lục chúng Bí-sô cùng gọi bảo nhau:
- Như
thế là chúng ta đă thành công trong vấn đề
“đối đáp” này một cách vẻ vang, khiến cho bao
nhiêu người kia không c̣n cơ hiềm Tăng đoàn
nữa. Xong Đại Mục-liên là người phạm có
tội, ta nên nêu lên, bắt ông ta phải sám hối mới
được.
Thế
rồi, Lục chúng Bí-sô trở về trú xứ, ăn xong,
đến chỗ tôn giả Đại Mục-liên,
chấp tay cung kính, lễ túc thưa:
- Nay chúng tôi có
chút việc, xin được thưa hỏi, mong Cụ
thọ từ bi, thương tưởng hứa khả
cho.
Mục-liên
đáp rằng:
- Tội của năm bộ,
quư vị cứ cử vậy.
Lục chúng
thưa rằng:
- Tôn giả ghi nhận bảo
Lật-cô-tỳ chiến đấu th́ đắc
thắng. Nhưng thành Quảng Nghiêm bị đối
phương đánh phá thua trận, há đây là sự
chiến thắng sao ? Tŕ bát, khất thực không tự
đủ nuôi sống hay sao lại phải dối nói
hư vọng, tiên đón việc của người
như thế ? Không nh́n thấy thật trạng mà nói
để cho người ta cơ hiềm dẫn
đến chỗ chúng tôi trên đường khất
thực bị hủy báng, chúng tôi khất thực chẳng
được ǵ!. Ngài đă phạm tội cần
phải như pháp sám hối.
Cụ thọ
Đại Mục-liên từ tốn trả lời:
- Thưa các Cụ thọ! Tôi
không thấy tội.
Khi ấy,
Lục chúng phản ứng bằng cách gọi bảo nhau
thế này:
- Quư vị biết chăng:
Như đức Thế Tôn nói người nào có tội mà
không thấy tội th́ tác pháp Yết-ma bất kiến
tội Xả trí. Bảo phạm tội mà không chấp
nhận, việc này khó bề che giấu dung thứ
được. Ai là người Thọ sự (tri sự
hay trị nhật) sai đánh kiền chùy.
Vị Thọ
sự hỏi:
- Đánh kiền chùy
để làm ǵ ?
Lục chúng
đáp:
- Thiểu dục Mục-liên
có phạm tội mà không thấy tội. Nay nên tác pháp
Xả trí yết-ma.
Khi ấy,
người Thọ sự cùng Lục chúng đến
chỗ Thượng tọa. Cụ thọ Xá-lợi-tử
là bậc Thượng tọa của chúng. Trước
Thượng tọa, vị Thọ sự xin phép để
đánh kiền chùy.
Vị
Thượng tọa hỏi:
- Cần việc ǵ quan
trọng mà đánh kiền chùy ? Đừng khiến cho
chánh Pháp bị hủy tổn. V́ ai tác pháp Biến trụ
cho đến pháp Xuất tội hay sao mà đánh kiền
chùy!
- Thưa
Thượng tọa, không phải có những việc
như vậy mà chỉ v́ Tôn giả Đại Mục-liên
hư dối ghi nhận việc của người (nói
đầy đủ như trước) mà không chịu
thấy tội. Chúng tôi y theo pháp tác Yết-ma Bất
kiến tội.
Tôn giả
Xá-lợi-tử chậm răi nói:
- Cụ thọ! Quư vị
đừng làm việc phi pháp, năo loạn bậc Kỳ túc
Bí-sô có đức độ như vậy. Đại
sư Thế Tôn đủ tất cả trí, đối
với tất cả việc đắc đại tự
tai. Quư vị nên đến thỉnh Phật quyết nghi.
Đức Phật dạy thế nào các vị phụng hành
thế ấy.
Sau đó, các
Bí-sô làm theo lời Thượng tọa Xá-lợi-tử
đem nhân duyên này đến bạch đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn dạy:
- Phàm khi
chiến đấu th́ Phi nhơn chiến trước
rồi sau mới tới người. Nếu Phi nhơn
chiến thắng th́ người cũng đắc
thắng. Ngay thời điểm Mục-liên nói Lật-cô-tỳ
đắc thắng, chính lúc đó Phi nhơn nơi thành
Quảng Nghiêm chiến thắng, Phi nhơn nơi
Vương-xá thành bị chiến bại. Thời
điểm đến bên bờ sông th́ Phi nhơn nơi
vương thành đắc thắng, Phi nhơn nơi
Quảng Nghiêm thành chiến bại. Mục-liên chỉ nói
thời điểm đầu thắng chứ không nói
thời điểm sau. Nếu câu hỏi gồm
trước lẫn sau th́ Mục-liên mới trả lời
đầy đủ cả trước và sau. Này các Bí-sô. Đại
Mục-liên không phạm. Nếu Bí-sô nào khởi tâm như
vậy mà nói việc như vậy cũng không phạm, khác
với trường hợp này th́ phạm tội Việt
Pháp.
Đức
Phật ở thành Quảng Nghiêm, trên cao các
đường, bên bờ ao Di-hầu. Lúc ấy, các
ngoại đạo nói với người thế tục
là trong thời gian mười hai năm, trời nắng
hạn chứ không mưa. Cụ thọ Đại
Mục-liên chấp tŕ y bát vào thành Quảng Nghiêm, tuần
tự đi khất thực, người trong thành gặp,
hỏi:
- Thánh giả!
Khi nào trời mưa.
- Sau bảy
ngày trời sẽ mưa. - Đại Mục-liên trả
lời.
“Sau bảy
ngày trời mưa” lời thánh kư này mọi người
đều nghe rơ. Tranh thủ thời gian, trong kho lẩm có
giống má ǵ, mọi người làm đất đều
đem gieo xuống ngay. Sau bảy ngày, mây kéo, sấm
chớp nhưng chỉ mưa nhỏ vừa đủ
ướt bụi rồi không mưa nữa. Bấy
giờ, mọi người tụ tập nơi nẻo
đường, ngoài chợ đều cơ hiểm:
- Các
người có biết chăng ? Thà tin ngoại đạo
chứ không tin Sa-môn, con của Thích Ca, thường dùng
Ca-sa che thân, giống như loại vỏ cây hoa làm
đuốc, thật ra chẳng học hành hiểu biết
ǵ.
Lúc ấy,
Lục chúng Bí-sô vừa vào thành khất thực th́ đă
nghe lời cơ hiềm, bèn hỏi:
- Các người cơ
hiềm ai ?
Họ đáp:
- Chúng tôi
cơ hiềm các ông.
Lục chúng
hỏi:
- Chúng tôi có
tội lỗi ǵ mà các người cơ hiềm ?
Mọi
người bảo:
- Đại
Mục-liên nói rơ ràng rằng là sau bảy ngày nữa
trời sẽ mưa. Chúng tôi tin theo nên đem giống
ở trong kho gieo xuống ruộng mà trời không mưa.
Thế là mất cả lúa giống.
Lục chúng
bảo rằng:
- Các ông
thường thân quen với ngoại đạo, thấy
sấm kư của họ, khi mây nổi dậy, sấm
chớp tóe lên th́ họ vẩy nước, lâm râm khấn
vái rồi liền hô lên khiến trời khi ấy mưa
lớn. Chỗ sấm kư Mục-liên, trời c̣n mưa
nhiều hơn nữa, đất có nước chảy
lai láng. Tuy nhiên, Thánh giả đâu v́ các ông mà thực
hiện sấm kư như vậy để cho mùa màng
giống má đạt kết quả tốt.
Mọi người
đáp:
- Không thực hiện đúng
như vậy!
Lục chúng
bảo rằng:
- Nếu không như vậy th́
Thánh giả có lỗi ǵ để các ông trách móc, cơ
hiềm.
Mọi
người không c̣n lời, đứng thừ
người im lặng. Lục chúng Bí-sô cùng gọi bảo
nhau rằng:
- Nan-đà, Ô-ba-nan-đà, ta
đă linh động kịp lúc đáp trả mọi
người thỏa đáng xong kẻ thiểu dục
Mục-liên, tự thân đă phạm phải tội, chúng ta
đến đó bảo Mục-liên sám hối. Liền quay
trở về chùa, ăn xong, y bát thu dọn đâu vào
đó, Lục chúng đến chỗ ở Mục-liên,
thưa rằng:
- Cung kính chào bậc
Thượng tọa, xin được vấn an sức
khỏe Thượng tọa.
Mục-liên
đở lời:
- Cảm ơn quư vị tôi
được b́nh thường, vô bệnh.
Lục chúng
Bí-sô lại xin phép được hỏi tiếp:
- Thượng tọa cho phép
chúng tôi được cật vấn về tội
phạm của Thượng tọa.
Mục-liên
đáp:
- Trong năm bộ tội, tùy
ư quư vị cứ cật vấn.
Lục chúng
thưa:
- Thượng tọa biết
chăng ? Chỗ sấm kư của ngoại đạo trong
thời gian mười hai năm, trời nắng hạng
không mưa. Sấm kư của Thượng tọa, sau
bảy ngày trời sẽ mưa. Thượng tọa nên
vén áo lên đừng để dính bùn nhơ. Bưng b́nh bát
xin ăn, đâu không nuôi đủ tấm thân tại sao
lại hư tâm vọng kư việc của người,
để đến nổi các nơi khất cầu
của chúng tôi trở thành lộ tŕnh bị hủy báng
chối tai. Việc khất thực, chúng tôi không
được ǵ. Thượng tọa đă phạm
tội nên sám hối như pháp.
- Cụ thọ, tôi không
thấy tội. - Mục-liên thản nhiên trả lời,
như không có ǵ xảy ra.
Lúc bấy
giờ, Lục chúng Bí-sô cùng nhau trao đổi:
- Quư vị
biết không ? Như đức Thế Tôn nói: Nếu ai có
tội mà không nhận tội th́ nên tác pháp Yết-ma Bất
kiến tội Xả trí. Ai là người Thọ sự
nên sai đánh kiền chùy...(nói đầy đủ như
trước) cho đến câu: Thượng tọa
Xá-lợi-tử khiến đến bạch Phật.
Đức Phật bảo các Bí-sô có năm nhơn duyên
trời không thể mưa, xong người đón vận
hành sao không khéo rơ biết, tiên đón nói là mưa. Năm
nhơn duyên ấy là:
1. Bí-sô nên biết, khi thấy
mây kéo, sấm chớp lóe lên gió thổi mạnh. Khi ấy
người đón vận hành sao, ghi nhận nói trời
mưa nhưng đại địa này có luồng khí nóng
từ hạ giới xông lên làm cho mây khô, nước không
ngưng tụ được. Đó là nhơn duyên thứ
nhất làm cho trời không thể mưa.
2. Lại nữa, các Bí-sô! Khi
thấy mây kéo, sấm chớp, gió thổi, người
đón vận hành sao cho là trời sắp mưa. Xong, trong
Hư không có đại phong nổi lên thổi bạt mây
này làm tan mưa. Đối với phạm vi Trượng
Lâm hoặc loài Yết-lăng-già-lan ở trong rừng có
thể khiến cho mưa rơi lệch khu vực. Đây
là nhơn duyên thứ hai không mưa được.
3. Lại
nữa, các Bí-sô! Khi thấy mây khởi lên, gió thổi, khi
ấy người vận hành sao tiên đón nói là trời
mưa. Xong với khi ấy, Thiên thần vận hành mưa
đang sống phóng túng dật dờ, với trong thời
gian này không trút mưa lành. Đó là nhơn duyên thứ ba làm
cho trời không mưa được.
4. Lại
nữa, các Bi-sô! Dù cho người đón sao tiên đón nói là
trời mưa. Xong do các loài hữu t́nh ưa thích làm ác pháp,
chẳng phân biệt được khởi lên đời
sống tham lam với sự tà kiến. Sự việc này
là duyên cớ để trong khoảng thời gian này
trời không gián mưa. Đó là nhơn duyên thứ tư
làm cho trời không mưa.
5. Lại
nữa, các Bí-sô! Dù cho người xem sao tiên đón nói là
trời mưa. Xong vua La-hỗ-la, A-tu-la từ Đại
hải xuất hiện trong thời gian này dùng hai tay
bưng lấy nước của mưa bỏ trong
Đại hải mà người tiên tri không hề hay
biết nói là trời sắp mưa. Đó là nhơn duyên
thứ năm làm cho trời không thể mưa.
Các Bí-sô nên
biết: Khi Mục-liên ghi nhận nói trời mưa mà không
mưa nhiều là do vua La-hỗ-la, A-tu-la dùng tay bưng
nước mưa bỏ trong biển. Xong chẳng phải
không mưa.
Người
đương thời không hỏi rơ là mưa có đủ
để cho vụ gieo giống lúa má đạt quả
chín tốt không ? Mà chỉ hỏi là có mưa hay không, nên lúc
ấy Mục-liên trả lời theo câu hỏi. Như
vậy là đúng. Các Bí-sô nên biết, v́ thế Đại
Mục-liên không phạm dối ngữ. Nếu khác với
trường hợp này th́ phạm tội Việt Pháp.
Đức
Thế Tôn ở thành Quảng Nghiêm, bên bờ ao Di-hầu,
trên nhà Cao các. Khi ấy có môn đồ ngoại đạo
không mặc áo ở tại thành này trong đó có một
người đàn bà mang thai. Bấy giờ Cụ thọ
Đại Mục-liên vào thành khất thực, tuần
tự đến nơi nhà môn đồ ngoại
đạo, lúc ấy, gia chủ thấy Tôn giả bèn
khởi ư nghĩ: “Cụ thọ Đại Mục-liên này,
mọi người đều nghe tiếng là vị Thánh
đứng hàng thứ ba, không việc ǵ không thấy
biết. Ta nay nên hỏi người vợ của ta mang
thai là nam hay nữ”. Nghĩ như vậy rồi liền
đến nơi Ngài Mục-liên, hỏi:
- Thưa Thánh
giả! Thai của vợ tôi đang mang là nam hay nữ.
- Hiền
thủ! Thai trong bụng là nam. - Ngài Mục-liên trả
lời.
Phàm, các
người trong thế gian nghe nói được “phú
thạnh” như vậy là không một ai không vui mừng. Môn
đồ ấy liền mở tiệc ăn khao, dùng
thức ăn, thức uống thượng hảo
hạng để thiết đăi. Họ đặt
thức ăn này đầy b́nh bát rồi đem dâng cúng tôn
giả Mục-liên, nhân đó, gia chủ lại mời Tôn
giả đến nhà dùng cơm trong những ngày sắp
đến. Tôn giả tỏ lời cảm ơn, chúc gia
chủ không bệnh rồi ra đi. Gần đến
nơi cư ngụ của môn đồ ngoại
đạo này có nhà của người lộ h́nh là
người đứng hàng đầu sư ngoại
đạo, thấy Đại Mục-liên bưng b́nh bát
đầy ra đi liền suy nghĩ: “Ḿnh chỉ có
một nhà thí chủ này cúng cho thức ăn, nay lại
bị Sa-môn con của Thích-ca, giáo hóa xâm đoạt. Đây
không phải là điều tốt! Nay, ta nên đến
Trưởng giả hỏi khéo lư do của vấn
đề, v́ sao Trưởng giả cộng tác với Sa-môn
kia để trù nghị việc ǵ ? Thượng thủ
sư kia liền vội vàng đến nhà gia chủ
hỏi Trưởng giả:
- Sa-môn
Mục-liên có đến đây hay chăng ?
- Có
đến, Trưởng giả trả lời.
Lại
hỏi:
-
Trưởng giả hỏi Sa-môn về vấn đề
ǵ ?
Trưởng
giả đáp:
- Tôi hỏi
vợ tôi hiện đang mang thai là nam hay nữ ? Tôn giả
trả lời là nam.
Khi ấy thượng thủ lộ h́nh kia
rành bóc quẻ Minh, quẻ Cỏ Thi nên biết rơ thai ấy
là nữ. Ông ta quay mặt, lật bàn tay mà cười.
Trưởng giả thấy vậy, bước tới
hỏi:
- Tại sao
Ngài quay mặt, lật bàn tay, cười ?
Ngoại đạo hỏi:
- Tôi thấy
thai đó là nữ, chứ chẳng phải là nam.
Khi nghe thế, ông Trưởng giả
nổi giận, hiện rơ nơi sắc mặt, trán
nhăn thành ba nếp, ông ta bảo rằng:
- Ông là
người nhổ tóc lộ h́nh làm ǵ biết việc này.
Vô lẽ trí của Đại Mục-liên không bằng ông à
?! Thánh giả thọ kư: Chắc chắn là sanh nam kia mà!
Sự hiểu biết nông nổi của ông mới nói
ẩu là sanh nữ ?
Thượng thủ lộ h́nh kia, thấy
ḿnh bị mạ nhục, trở về toán số kiểm
tra lại cũng thấy chắc chắn, thai ấy là
nữ. Ông ta đổi sắc mặc giận dữ nói
với Trưởng giả rằng:
- Cho dù Sa-môn
Cù-đáp-ma khẳng định thai đó là nam, th́ đây
không phải là nam nhưng dứt khoát vợ ông sanh nữ.
Măn nguyệt
khai hoa, vợ Trưởng giả sanh ra đứa con gái.
Khi ấy Trưởng giả cùng các gia quyến nhất
loạt cơ hiềm, báng rao khắp xứ:
- Thà làm
ngoại đạo kia mà nói lời chân thật, c̣n hơn
làm Sa-môn nói lời dối trá. Mục-liên nói sanh nam, bây giờ
ngược lại sanh nữ.
Ngay tức
khắc sự dối trá đồn khắp đến
tận thôn làng thành quách. Lúc bấy giờ, ngoài chợ,
nơi ngả ba đường, mọi người tùng
tam tụ ngũ xỉa xói, cơ hiềm, mọi
người biết không: “Thà gần gũi ngoại
đạo chứ đừng tin Sa-môn Thích tử...”
Lục chúng
Bí-sô vừa vào thành khất thực, nghe người ta
nơi đây cơ hiềm bèn hỏi:
- Các
người cơ hiềm ai ?
Họ đáp:
- Chúng tôi
cơ hiềm các ông, chứ cơ hiềm ai ?.
Lục chúng
bảo:
- Chúng tôi có
lỗi ǵ mà nay các ông cơ hiềm!?
Mọi
người nói:
- Thánh giả
Mục-liên nói người vợ của ngoại
đạo sẽ sanh con trai, nay lại sanh con gái.
Lục chúng
nghe rồi nói với mọi người:
- Các
người trong thế gian đều nổi ch́m trong
biển vô trí, chỉ có đức Phật Thế Tôn th́
sự thọ kư của ngài mới nói lên điều không
hư vọng, ngoài ra bao nhiêu người khác nói đều
có sự lệch lạc, sai trái. Xong vấn đề sanh
đẻ của con người chẳng phải nam th́
nữ, chứ đâu lại sanh chó và khỉ cái
được ư ?
Mọi
người nghe rồi im lặng không trả lời.
Lúc bấy giờ Lục chúng Nan-đà,
Ô-ba-nan-đà cùng bảo với nhau rằng:
- Ta
phương tiện trả lời với mọi
người như vậy, xong thiểu dục Mục-liên
tự thân phạm tội hư dối này... (nói đầy
đủ như trước) cho đến câu trả
lời:
- Trong năm
bộ tội, tùy ư các vị cứ nêu lên, tôi phạm
tội nào ?
- Thưa
Thượng tọa nên biết cho, vô lẽ Thượng
tọa không nhớ. Thượng tọa đă nói với
môn đồ ngoại đạo kia là người vợ
của ông ta mang thai sẽ sanh con trai. Nay đă sanh “trai hóa
gái” có thể cụng ly ăn mừng được
rồi!? Không có công ǵ mà nhận lấy đường cát,
đường phèn nuốt chửng ?! Nguyên việc Thượng
tọa bưng bát khất thực, há chẳng đủ
để cứu lấy cái đói hay sao, mà phải sử
dụng cái tâm hư dối, xỏ xiên việc của
người như vậy. Hậu quả ấy đă
khiến cho Tăng đoàn bị cơ hiềm, đến
nổi chúng tôi khất thực không được.
Thượng tọa đă phạm tội nên như pháp sám
hối.
Mục-liên từ tốn nói:
- Các Cụ
thọ! Tôi không thấy tội làm sao để sám hối
?!
Lúc bấy giờ, Lục chúng Bí sô kêu
Thọ sự đánh kiền chùy tập chúng. (nói
đầy đủ như trước) đến câu:
Đức Thế Tôn bảo rằng:
- Này các Bí sô!
Bốn trường hợp không thể suy tính lường
trước được. Nếu cưỡng bức
tư lương th́ tâm mê loạn hoặc bị phát
cuồng. Bốn trường hợp ấy là:
1. Tư lương thần ngă
2. Tư lương thế gian
3. Tư lương nghiệp Dị thục
của hữu t́nh.
4. Tư lương chư Phật cảnh
giới.
Nguyên do, khi Đại Mục-liên thọ kư
th́ thai ấy thật là nam nhưng thời gian sau, do
nghiệp Di thục thai ấy chuyển thành nữ. Nếu
Trưởng giả kia hỏi Tôn giả Mục-liên:
“Vợ của tôi lúc sanh là nam nhi hay là nữ ?” Thời
Mục-liên ghi nhận nói là nữ. Này các Bí-sô, Mục-liên
lúc ấy dựa vào sự việc hiện tại mà ghi
nhận. Cho nên Mục-liên không phạm.
Đức Phật ở thành Vương-xá,
nơi ao Yết-lan-đạc-ca, trong vườn Trúc lâm.
Trong thành này, có một Trưởng giả nghe người
ta nói:
- Ai không bảo trước mà cúng
dường cho chư Tăng th́ người đó của
cải vật thực được đến bất
ngờ; chỗ sở cầu gặp nhiều phước
báo.
Thế là
vấn đề cho Trưởng giả suy nghĩ:
“Đây là cơ hội tốt nếu muốn t́m kiếm
tiền tài. Ta nay nên không báo trước cứ đột
xuất cúng dường cho chư Tăng”. Ông ta đến
ngay thị tứ mua nhiều thịt tịnh nhục
đem về, dùng chảo, nồi lớn nấu, gia vị
tô dầu làm thành món cháo thịt rất ngon bổ. Đâu
đó chuẩn bị xong, ông ta đến cửa thành
bảo người giữ cửa rằng:
- Nay ông giúp cho
việc này: Nếu thấy Bí-sô khất thực th́ xin
mời đến nhà tôi.
Người giữ cửa thành đáp:
- Tốt
lắm tôi sẽ mời đến đó, thấy Bí-sô nào
khất thực, người ấy đều mời:
Thưa Thánh giả! Hôm nay trước ngọ nhà
Trưởng giả... Có cúng thức ăn tốt, xin
mời qúy Ngài đến đó.
Khi nghe lời
mời này, quư vị khất thực đến nhà
Trưởng giả... Bí-sô nào đến cũng
được Trưởng giả cúng dường
đầy đủ, với thức ăn ngon bổ.
Nhận xong Bí-sô trở về trú xứ thọ thực.
Thời điểm ấy, gặp lúc âm u khí
trời giá buốt lạnh khiếp. Các Bí-sô bảo nhau:
- Bát dính
nhiều mỡ khó rửa, chúng ta nên đem bát đến
suối nước ấm để rửa.
Bên bờ
suối nóng, mỗi Bí-sô tự rửa bát của ḿnh. Có
một thiếu niên Bí-sô khởi ư nghĩ: “Ḍng nước
ấm này từ đâu chảy đến ?” Cách đó không
xa, Ô-ba-nan-đà cũng đang tự rửa bát. Bí-sô
thiếu niên liền lúc ấy, đến chỗ
Ô-ba-nan-đà, cung kính thưa:
- Đại
đức Ô-ba-nan-đà! Ḍng nước nóng này từ
đâu chảy đến ?
Cũng
gần đó, Đại Mục-liên lấy nước nóng
rửa bát. Ô-ba-nan-đà bảo
Bí-sô thiếu niên ông đến hỏi thiểu
dục Mục-liên. Thiếu niên Bí-sô vâng lời, đến
chỗ Mục-liên, với oai nghi tề chỉnh cung kính
hỏi:
- Thưa Ngài,
ḍng nước ấm này từ đâu chảy đến ?
- Từ ao
lớn Vô Nhiệt chảy đến. - Mục-liên trả
lời.
Ô-ba-nan-đà vừa nghe lọt tai lời
ấy, liền phản đối:
-Thượng
tọa đừng làm hại chánh kinh, đừng làm
thương tổn pháp nhăn. Tôi tuy chưa chứng nhưng
c̣n đó A-cấp-ma-da (A Hàm) như đức Phật nói:
“Nước nơi Vô Nhiệt đại tŕ đủ tám
món công đức nghĩa là: lạnh, đẹp, nhẹ,
nhuyễn, xanh, trong, thơm, khiết uống không tổn
họng vào bụng không bệnh”. Thượng tọa nói
như vậy th́ trái với tám công đức hay sao ?! Nguyên
việc tŕ bát, khất thực không đủ cứu
đói tấm thân của Đại đức hay sao mà
đem cái tâm hư cuống, dối trá ... (nói đủ
như trước) cho đến câu:
Thế Tôn
bảo các Bí-sô rằng:
- Ḍng
nước ấm thật từ ao Vô Nhiệt chảy
đến.
Các Bí-sô bạch Phật:
- Nếu
từ đó chảy đến tại sao lại ấm ?
Thế Tôn dạy:
- Các Bí-sô nên
biết, nước của ao Vô Nhiệt đă từng
đi qua năm trăm Nhiệt-nại-lạc-ca mới
đến đấy. Do nhơn duyên ấy cho nên biến
thành ḍng nước ấm. Nếu hỏi Đại
Mục-liên do nhơn duyên nào làm cho ḍng nước trở
nên ấm th́ Đại Mục-liên liền trả lời
là do nhơn duyên không lạnh là đủ rồi. Này các
Bí-sô! Do v́ Mục-liên trả lời đúng nội dung câu
hỏi, cho nên không phạm.
Đức Phật ở thành
Thất-la-phạt. Trong vườn ông
Cấp-cô-độc. Lúc bấy giờ Cụ thọ
Đại Mục-liên bảo các Bí-sô rằng:
- Cụ
thọ! Tôi nhập Vô sở hữu định nghe bên
bờ ao Man-đà-la có tiếng rống của các
tượng vương.
Ô-ba-nan-đà
đang ngồi giữa chúng nghe nói thế liền phát
biểu:
-
Thượng tọa chớ nên làm sứt mẻ Chánh lư,
chớ nên làm thương tổn pháp nhăn, tôi tuy chưa
chứng, xong c̣n đó Thánh giáo, như đức Thế Tôn
dạy: “Người nào vào Vô sở hữu định th́
xa ĺa sắc thinh các cảnh, làm sao vào định mà c̣n nghe
âm thanh được ?”Thượng tọa nói như thế
là hoàn toàn không có cơ sở... (nói đầy đủ
như trước) cho đến câu:
Khi ấy, Ngài
Xá-lợi-tử bảo đến bạch Phật. Các Bí-sô
đem nhơn duyên này bạch Phật. Thế Tôn bảo
rằng:
- Này các Bí-sô!
Đại Mục-liên không phải nói hư vọng mà là nói
đúng sự thật. Tuy rằng hiện nhập Vô sở
hữu xứ định, các sắc thinh tưởng hoàn
toàn xa ĺa. Xong, Đại Mục-liên chứng đặng
Tịnh lự, giải thoát thắng diệu đẳng
tŕ, thoạt xuất, thoạt nhập, tuy là xuất
định mà là đương ở trong định. Trong
trạng thái đó, đem sự việc kỳ diệu
ấy nói với các Bí-sô: “Tôi ở trong định nghe
tiếng voi kêu”. Này các Bí-sô! Đại Mục-liên này dùng
thật tưởng nói, nên không phạm.
Ngoài ra, trường hợp không phạm là
người phạm ban đầu, hoặc si cuồng tâm
loạn thống năo bức bách.
Học xứ vọng nói pháp thượng
nhơn xong.
CĂN BẢN
THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA
QUYỂN 10- (hết).