THÀNH KÍNH ĐẢNH LỄ ĐẤNG THẾ TÔN NGÀI LÀ BẬC ỨNG CÚNG CHÁNH BIẾN TRI.

 

¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ

TỲ-NẠI-DA 

QUYỂN 1.

TAM TẠNG PHÁP SƯ NGHĨA TỊNH PHỤNG CHẾ

DỊCH.

 

Bài tựa Tỳ-nại-da:

 

Kính lạy đức Đại Bi

Xót thương Ngài phủ khắp

Mặt Ngài tựa thái dương

Mắt Ngài ngần sen biếc

Phật sanh, nhà điều phục

Dạy đệ tử, quần sanh

Trừ các tội, điều phục

              ***

Kính lạy pháp trung tôn

Ba tạng, lời Ngài dạy

Tỳ-nại-da là đầu

Lời dạy này, với con

Xin lược bày, khen tụng

Như cây, rễ là trọng

Gốc, nhánh từ đó sanh

Luật Phật là căn để

Sanh ra các pháp lành

Ví như bờ đê lớn

Ḍng lũ có thể ngăn

Giới, pháp cũng như vậy

Nhằm cấm ngăn hủy giới

                ***

Chư Phật chứng Bồ-đề

Độc Giác thân tâm tịnh

Cho đến A-la-hán

Do giữ Luật mà thành

Ba đời các hiền Thánh

Ĺa trói buộc hữu vi

Đều lấy Luật làm gốc

Mà về nơi an ẩn

Giáo pháp điều phục này

An trụ nơi thế gian

Tức là Như Lai trụ:

Tạng Chánh pháp bất diệt

Giới v́ thế an lập

Là đèn pháp Như Lai

Ĺa giới tức không c̣n

An ẩn đường Niết-bàn

              ***

Phật du hóa thế gian

Tùy nơi nói kinh pháp

Chế Luật không như vậy

Nên biết khó được gặp

Như đất chở muôn loài

Nuôi lớn cây cỏ sanh

Giới luật cũng như vậy

Phước, trí từ đấy sanh

Phật dạy do giáo Luật

Mà công đức sanh thành

Phụng tŕ ắt giải thoát

Hủy phá, ác thú sanh

Voi, ngựa nếu thuần phục

Roi, móc cần phải dùng

Giáo Luật cũng như vậy

Thiện thuận sao không thuần ?

Như thành có hào ao

Nhằm ngăn các oán địch

Giáo Luật cũng như vậy

Phá giới được chận ngăn

Thí như nước biển cả

Xô dạt đẩy thây ma

Giáo Luật cũng như vậy

Xua trừ kẻ phá giới

              ***

Luật là vua các pháp

Dẫn đầu là chư Phật

Bí-sô ví khách buôn

Xem giới, ngọc vô giá

Phá giới như độc rắn

Luật như thuốc trị độc

Kẻ lắm lời, khó phục

Lấy Luật làm cương hàm

Luật là con đường tốt

Là phương tiện cầu đ̣

Với biển dữ cũng vậy

Lấy Luật làm thuyền bè

C̣n đi nơi đường hiểm

Dẫn đạo tốt là giới

Vô-úy thành nếu lên

Giới là cầu thang vững

              ***

Đại sư bậc tối thắng

Giáo Luật chính Ngài nói

Cả hai không sai biệt

Hàm ứng con kính lễ

Phật và Thánh đệ tử

Y trụ trong giáo, Luật

Cung kính từ giới sanh

V́ thế con quy lễ

Con y Luật tán thán

Lời con, lời tôn trọng

Ngay khi vừa quy y

Việc lành đă thành tựu

              ***

Biển cả Tỳ-nại-da

Bờ mênh mông khó biết

Tướng sai biệt vô cùng

Con sao tường tận hết!

Biển giáo Luật của Phật

Thậm thâm thật khó lường

Nay con theo năng lực

Muôn một lược tán dương

Thế Tôn khi Niết-bàn

Lời Ngài dạy Đại chúng:

“Sau khi Ta diệt độ

Cảm ứng, tôn kính giới”

V́ thế con xưng tụng

Khi nói Tỳ-nại-da

Xin các Ngài hết ḷng

Khéo nghe lời điều phục

              ***

Biệt Giải Thoát được nghe là khó

Kiếp kiếp nào, vô lượng kiếp qua

Được đọc tụng, thọ tŕ cũng khó

Làm như nói, nào đâu có dễ.

Phật ra đời, đời vui hiếm có

Chánh pháp vui, giảng rao diệu nghĩa

Tăng-già một ḷng vui chánh kiến

Vui ḥa hợp, cùng tu dũng tiến

Thấy Thánh nhơn, hiện hữu rạng ngời.

Được cùng ở là vui cộng trụ

Mọi ngu si vắng bóng nơi này.

Thường lạc thọ, nghĩa vui là vậy.

Thấy giới tṛn, hỷ lạc là đây

Thấy Đa-văn, sung sướng nào bằng

Thấy La-hán, vui niềm chân lư

Bởi đời sau chấm dứt tái sanh

Đây bến đỗ mát trong diệu vợi

Oán địch hàng, chiến thắng pháp vui

Khi chánh huệ quả tu chứng đắc

Ấy là vui, ngă mạn dẹp xong

Nếu có thể, làm theo định ư

Đa-văn hoàn bị, rễ dục tiêu

Từ nhỏ đến già, nơi rừng sống

Lan-nhă, nhàn cư, tịch tịnh vui

              ***

Chấp hai tay cung kính

Lễ lạy đức Thích-ca

Điều phục Biệt Giải Thoát.

Tôi nói, Ngài khéo nghe

Nghe rồi phải chánh hạnh

Như điều Như Lai dạy

Đối với các tội nhỏ

Đề pḥng quyết tránh xa

Ḷng ngựa khó kiềm giữ

Liên tục quyết chí trừ.

Hàm thiết Biệt giải thoát

Có trăm kim bén nhọn

Ai là người trái phép

Nghe dạy phải dừng ngay

Đại sĩ là ngựa hay

Xông thẳng trận phiền năo

Người thiếu hàm thiết này

Cũng không từng hỷ lạc

Họ chết trận phiền năo

Mê chuyển sanh tử xoay.

              ***

Nhiếp tụng chung:

Nếu làm hạnh bất tịnh,

Lấy của trộm, giết người;

Vọng nói pháp thượng nhơn;

Do vậy không chung sống

 

·        Giới thứ nhất, phần một: Học xứ hạnh bất tịnh.

 

Nhiếp tụng riêng:

Tô-trận-na không phạm.

Bí-sô ở trong rừng.

Nhược Yêu và Trường Căn,

Diệu hỷ, ba điều phạm.

Ngày suy xét trong pḥng,

Rừng vắng, xa hết dục,

Khéo cùng nhơn duyên xưa,

Nên biết tụng tổng nhiếp.

                ***

Lúc bấy giờ đă được mười hai năm, kể từ khi Bạc-già-phạm chứng Chánh Giác. (Trong thời gian ấy) hàng đệ tử Thanh-văn không có tội lỗi. Ung nhọt tội lỗi cũng chưa phát sanh. Đức Thế Tôn v́ các đệ tử nói Kinh Biệt Giải Thoát sau đây:

Mọi việc ác chớ làm

Tất cả thiện nên tu

Tự thân, tâm điều phục

Đó là lời Phật dạy.

              ***

Hay thay! thân pḥng hộ

Khéo hộ lời là quư

Pḥng hộ ư hay hơn

Hộ hết, thiện tối thắng

Tất cả, Bí-sô hộ

Mọi khổ đau giải trừ

Khéo giữ từng lời nói

Ư nghĩ từng việc thiện

Thân không hành động ác

Ba nghiệp thường trong sạch

Đây năng lực tùy thuận 

Để hành đạo Đại Tiên.

Đến cuối năm thứ mười ba, khi ấy nơi thôn Yết-lan-đạc-ca nước Phật-lật-thị, người con ông Yết-lan-đạc-ca, tên là Tô-trận-na giàu có kếch xù, lắm của cải, nhiều tôi tớ. Vàng bạc, trân bảo, lúa thóc “nứt đố đỗ vách”. Chỗ của cải tích trữ vô số này sánh bằng Thiên vương Tỳ-sa-môn.

Theo tục lệ, Tô-trận-na cưới người con gái đồng họ làm vợ. Cuộc sống của họ đầy hoan lạc... Đối với Phật, Pháp, Tăng, theo thời gian, ông ta có được ḷng tin sâu sắc, quy y Tam Bảo, thọ năm Học xứ, đó là:

* Không sát sanh.

* Không trộm cắp.

* Không tà hạnh.

* Không nói dối.

* Không uống các thứ rượu.

Mọi thứ đều đẩy lùi tránh xa. Do ḷng kính tin ngày một tăng trưởng dần và với ḷng chánh tín này, Tô-trận-na rũ bỏ gia đ́nh để t́m đến với cái “không nhà”, cạo bỏ râu tóc, mặc pháp phục.

Đă xuất gia rồi, cùng thân thuộc chung đụng với cái phức tạp mà sống th́ đâu có khác với ngày nào c̣n tại gia ? Bấy giờ, Cụ thọ Tô-trận-na bằng tư duy tự thấy vấn đề : “Với pháp luật khéo nói th́ có dung nạp, ta v́ mục đích xuất gia cần chứng điều chưa chứng, cần sở đắc cái chưa sở đắc, lại cùng với mọi người thân thuộc chung đụng với phức tạp mà sống! Ta cần phải rời bỏ thân thuộc, chấp tŕ y bát du hành trong nhân gian”.

Suy nghĩ kỹ như vậy rồi, Cụ thọ bèn rời xa thân tộc, đi đến phương khác. Phương khác ấy lại gặp lúc mất mùa, nhận được của khất thực khó vô cùng. Cha mẹ đối với con cái c̣n không cứu giúp nhau được, huống chi đối với người khất thực.

Khi cái khó tác động đến ư nghĩ, Tô-trận-na nghĩ ra vấn đề: “Hiện tại thân thuộc ta, của ăn, của để, của cải rất phong phú, điều cần phải làm là quy tựu về thôn Yết-lan-đạc-ca. Đối với ruộng phước Tăng cần phải khuyến hoá rộng răi để sắm sửa cúng dường. Hoặc bún cháo hoặc hằng ngày cúng thức ăn, hoặc thỉnh đến thọ trai, hoặc cúng vào những ngày chay: mồng tám, mười bốn, rằm. Ta hướng dẫn thân thuộc ta, v́ sự nhiêu ích mà làm chút phước nghiệp”. Khi cần phương tiện, Tô-trận-na thôi nghĩ đến tha phương, Cụ thọ chấp tŕ y bát, tuần tự du hành đến thôn Yết-lan-đạc-ca. Cách thôn không xa, Cụ thọ ở trong một pḥng nhỏ, nơi A-lan-nhă. Đúng thời, Tô-trận-na đến chỗ thân quyến v́ mọi người khen ngợi Phật, Pháp, Tăng bảo, khiến cho họ thiết lập sự cúng dường để làm việc nhiêu ích.

Khi xong việc, Tô-trận-na ở nơi A-lan-nhă, tu hạnh Đỗ-đa, chỉ mặc ba y phấn tảo, thường đi khất thực theo thứ lớp từng nhà. Khi ấy, các thân tộc hằng ngày cúng thức ăn, uống thượng diệu cam mỹ cúng dường chúng Tăng rồi. Tô-trận-na đắp y, bưng b́nh bát vào thôn, theo thứ lớp khất thực, đến trước nhà cũ của ḿnh. Bà mẹ Tô-trận-na có việc đi nơi khác, nhà vắng, không nhận được vật bố thí lại đi ra. Khi người đầy tớ già từ xa trông thấy Tô-trận-na th́ kư ức về dung nhan ấy mồn một nơi người lăo nô. Biết không nhận vật ǵ của nhà nên Tô-trận-na vội vă đi ra. Thấy như vậy, lăo nô liền đến chỗ của bà mẹ thưa rằng:

- Đại gia biết chăng, trưởng tử Tô-trận-na từ lâu xa vắng nơi thôn ấp, nay trở về nhà, khất thực mà không nhận được vật thí liền ra đi.

Khi nghe thế, mẹ của Tô-trận-na tác ư suy nghĩ: “Phải chăng con của ta quyến luyến nhớ thương rồi sao ? T́nh cảm này đă sinh ra điều không vui, muốn trở về thế tục, không mến mộ nếp sống Sa-môn, bị Sa-môn làm cho khổ sở, xấu hổ âm thầm rời bỏ hạnh Sa-môn ư ?”. Đă có tác động nghi ngờ như vậy rồi, bà ta liền ra khỏi thôn, đến chỗ của Tô-trận-na, bảo rằng:

 - Tô-trận-na ơi! Con đă có sự luyến nhớ rồi ư ? Phải chăng t́nh cảm này đă làm cho con không vui, muốn trở về thế tục ? Con không thích vui với Sa-môn, phải chăng bị Sa-môn làm cho khổ sở, âm thầm xấu hổ, rời bỏ hạnh Sa-môn ? Tô-trận-na! Vật chất trong nhà ta sánh cả tiền tài nơi này, há con không nghe nói hay sao ? Mẹ tự sở hữu một khối vật chất, vàng bạc khổng lồ này (mà những tưởng) người ngồi ở hai phía đối diện giữa khối này không thể thấy nhau. Lại nữa, tài vật, tiền vàng được quan công nhận của cha con lên đến số trăm, ngàn, vạn, ức đó là chưa kể đến tài sản tạp loại th́ không kể xiết. Con nên trở về nhà, tuỳ theo sở thích mà thọ hưởng cái vui, làm việc phước thí, theo ư muốn của con.

Nghe những lời nói như vậy rồi, ngay khi ấy, Tô-trận-na thưa với mẹ:

- Con không luyến nhớ để có t́nh cảm không vui mà quay trở lại quê cũ. Con cũng không hề không mến mộ Sa-môn, hay bị Sa-môn làm khổ sở điều ǵ âm thầm xấu hổ rời bỏ hạnh Sa-môn.

          Khi ấy, mẹ của Tô-trận-na nghe những lời như vậy rồi bèn tự nghĩ:  “Chẳng phải là điều để ta cam chịu! Thuyết phục mà khiến cho con ta làm ngược lại th́ nên tách riêng ra thiết lập kế sách khác”. 

Theo thời gian, quay trở về nhà, bà mẹ bảo với nàng dâu của ḿnh (vợ của Tô lúc trước) rằng:

- Chu kỳ tháng của con thế nào ? Khi nào đến kỳ th́ báo cho mẹ biết.

Nàng dâu thưa:

- Lạy mẹ, con ghi nhớ!

Sau đó thời gian “nguyệt kỳ” khác đến, nàng dâu thưa với mẹ chồng rằng:

- Thưa Đại gia nay “nguyệt kỳ” của con đă đến, mẹ muốn con làm ǵ?

Bà mẹ chồng bảo:

- Đợi khi “nguyệt kỳ” qua ổn rồi, con tắm rửa sạch sẽ, cài lên tóc các loại hoa đẹp nhất, đeo các chuỗi anh lạc, làm cho tấm thân con hết sức lộng lẫy, hoàn chỉnh đến tận cùng, giống như xưa kia chồng con c̣n ở nhà, điều mà Tô-trận-na rất yêu thích cảm t́nh, con phải thực hiện cho bằng được.

Nghe lời dạy xong, nàng dâu đi trang sức tấm thân như lời mẹ chồng dạy. Quay trở lại chỗ mẹ, nàng thưa:

 - Thưa Đại gia, điều ǵ mà chồng con ngày trước yêu thích mến mộ hơn cả th́ con đă trang điểm xong. Tắm, gội, trang sức thân, mặc các loại y phục, nếu có chỗ chỉnh lại th́ lúc này con c̣n đủ thời gian.

Khi ấy, trên cùng một chuyến xe, hai mẹ con ra đi, họ đến thẳng trú xứ của Tô-trận-na. Đến nơi, xuống xe, họ đi bộ vào. Vào lúc ấy, Tô-trận-na đang đi kinh hành ở bên ngoài pḥng nhỏ. Nhận ra con ḿnh bà liền bảo:

- Tô-trận-na! Như ông đă nói, ông không quyến luyến nhớ đến quê hương... (nói đầy đủ như trên) nay ông cần phải lưu lại “chủng tử” và đây là thân h́nh sạch đẹp, người vợ mới cưới trước đây của ông. Không để lại đứa con nối ḍng th́ toàn bộ tài sản sẽ bị nhà quan sung công.

Lúc bấy giờ, Phật chưa kiết giới nên không thấy tai hại tội lỗi do dục sanh. Do vậy, Tô-trận-na vừa nh́n thấy người vợ trẻ, t́nh sanh nhiễm trước, lửa ḷng bừng cháy, thưa với mẹ rằng:

- Há con phải giao hợp ư ?

Bà mẹ nói gọn:

- V́ lưu lại “chủng tử” nên cái phép phải như vậy!

Ôi thời gian!... Tô-trận-na, nắm lấy tay người vợ cũ, họ đi về hướng vắng vẻ ở đó pháp phục đă rời thân. Việc đă như thế, ba lần họ làm hạnh bất tịnh. Ngay thời điểm ấy có loài hữu t́nh, chí cầu thắng hạnh, có tánh giải thoát trên đường đi đến Niết-bàn, vất bỏ lại sanh tử trong ngũ thú, ba cơi, tâm không hề ô nhiễm, uế trược. Đây là thân tối hậu, từ cơi trời thắng diệu liền đến đầu thai nơi người vợ của Tô-trận-na.

Nếu vào thai là người nữ “minh huệ” th́ có năm loại trí đặc biệt, khác với người nữ b́nh thường.

1- Biết nam tử có tâm dục.

2- Biết thời tiết

3- Biết từ người nào để nhận được thai

4- Biết là nam

5- Biết là nữ.

Nếu vào thai là nam tử th́ nương trụ nơi hông bên hữu. Nếu thai là nữ nhơn th́ nương ở nơi hông bên tả.

Lúc bấy giờ nàng dâu ấy tâm sanh hoan hỷ, báo cáo với mẹ chồng rằng:

- Đại gia biết chăng, con đă có thai! Thai nằm phía bên hông phải, chắc chắn là con trai, thật quang hiển cho ḍng dơi ta.

Mẹ chồng nghe rồi ḷng rất vui mừng, bộc lộ tâm tư:

“Từ xưa đến giờ mẹ hoài mong sanh được một cháu trai, khôn ngoan thừa kế gia phong, nhưng mong cháu trai ấy chóng lớn khôn, luôn luôn hoài bảo sự báo đức, thường tu phước huệ, lợi ích cho gia đ́nh chúng ta”.

Ghi nhận sự việc như vậy rồi bà mẹ chồng đưa nàng dâu lên ở trên lầu cao đủ phương tiện và tùy theo thời mà cung cấp. Có nữ bác sĩ điều ḥa thức ăn, thuốc uống không để xảy ra sai xót nhầm lẫn. Thân h́nh đủ các thứ anh lạc giống như thiên thể nữ, điệu đi dáng đứng đầy phong cách, nhàn du phơi phới niềm vui nơi hoa viên. Tấm thân ấy luôn luôn an ổn nơi giường ghế. Chân không lấm đất, mắt không nh́n màu sắc xấu, tai không nghe tiếng ác, ngủ nghỉ, ăn uống, tới lui trôi chảy điều ḥa.

Chín tháng trôi qua, hài nhi ra đời, nhan mạo đoan chánh nghiêm trang, đặc điểm này ai cũng yêu mến, trán rộng, mi dài, mũi cao sóng dài và thẳng, đầu tṛn, như bảo cái, sắc đẹp như vàng, tay duỗi quá đầu gối, mọi người đều kính ngưỡng. Hội vui mừng hai mươi mốt ngày của tôn thân đă qua, mẹ của Tô-trận-na bồng cháu trai đến và hỏi thân tộc rằng:

Hài nhi này cần đặt tên, vậy nên đặt tên ǵ ?

Mọi người nghị bàn rồi nói:

- Hài nhi này nhơn pháp “Chủng Tử” mà được theo mong cầu, nay nên đặc tên là “Chủng Tử”.

Bà nội vui mừng trao cháu “Chủng Tử” cho tám bà mẹ để nuôi nấng: hai bà lo việc bú sữa, hai bà lo việc tả ấp, hai bà lo việc tắm rửa, hai bà làm tṛ vui chơi. Vấn đề nuôi dưỡng đều dùng bằng tinh chất của sữa, lạc, tô, đường phèn và các thứ cam mỹ ẩm thực thượng hạng. Hài nhi “Chủng Tử” chóng lớn khôn, rực rỡ như bông sen lên khỏi nước.

Khi đă thành tuổi đồng niên, học các kỹ nghệ, toán số, thư ấn, tất cả môn học, Chủng Tử đều tiếp thu tốt. Đối với tám kỹ nghệ Chủng Tử rất rành đón biết tướng trạng. Nghĩa là tướng vật báu, tướng y phục, tướng nhà cửa, tướng mộc, tướng voi, tướng ngựa, tướng nam, tướng nữ.

Với thời gian khác, Chủng Tử đă sanh ḷng chánh tín sâu đậm, quy hướng Tam Bảo, thọ năm Học xứ, đồng với niềm tin của cha ḿnh, niệm niệm thêm lớn, bèn bỏ nhà, đến nơi không phải nhà, cầu hạnh xuất ly. Đối với pháp luật khéo nói, cạo bỏ râu tóc, đắp mặc pháp phục, một ḿnh ở nơi nhàn tịnh, không có tâm phóng dật, sống nếp sống tinh tấn, siêng năng chuyên niệm. Chủng Tử tu phạm hạnh, đối trong hiện pháp chứng ngộ một cách tṛn đầy, phá hết lưới vô minh, đoạn hết hoặc nghiệp trong ba cơi, thành A-la-hán, tam minh, lục thông, đầy đủ tám món giải thoát, đắc sự hiểu biết như thật, sự sống với ta đă hết, phạm hạnh đă lập, việc làm đă xong, không thọ thân sau. Tâm không chướng ngại, như tay nắm hư không, như đao cắt mùi thơm, thương ghét không c̣n khởi. Xem vàng với đất như nhau không khác biệt. Đối với các danh lợi không thứ ǵ không vất bỏ. Trời Đế Thích, trời Phạm Thiên thảy đều cung kính.

Lúc bấy giờ Cụ thọ Chủng Tử chứng A-la-hán, thọ vui giải thoát, liền nói bài tụng:

Hạnh Thánh đă tṛn đầy

Tài sản cha, không lụy

Thân này, thân sau cùng

Đă trừ hết tội lỗi.

Sau khi Tô-trận-na làm hạnh bất tịnh rồi, đức Thế Tôn ở trong đại chúng với vô lượng trăm ngàn Thanh-văn Bí-sô, Ngài tŕnh bày về vấn đề ĺa tham, sân, si, tâm và trí huệ giải thoát. Khi ấy, Tô-trận-na cũng ở trong đại chúng nghe Phật thuyết pháp. Sau khi nghe xong ḷng ôm sầu năo, hối hận cứ dày ṿ vây bủa, thẹn thùng cúi mặt, lặng thinh không nói. Tô-trận-na liền về pḥng riêng, ôm lấy sầu ưu mà sống.

Sau đó, một thời gian khác, các Bí-sô tuần tự đi thăm các pḥng, đến pḥng của Tô-trận-na, cùng nhau đàm thoại, thấy Tô-trận-na sống trong sầu năo. Các Tỳ-kheo nói với Tô-trận-na rằng:

- Trước đây, mỗi khi thấy khách đến, Ngài đón tiếp niềm nỡ, tay bắt mặt mừng, luôn luôn chào hỏi trước bằng hai chữ “Thiện lai”, rước y bát và cung cấp đồ dùng, tại sao hôm nay thấy chúng tôi đến, ḷng ôm sầu năo, cúi mặt làm thinh không nói. Tô-trận-na! Ngài v́ thân bệnh, hay v́ tâm bệnh chăng ?

Khi ấy Tô-trận-na thưa rằng:

- Thưa các Cụ thọ, tôi chẳng phải thân bệnh mà tâm tôi bị thiêu đốt.

Các Bí-sô hỏi:

- Tại sao tâm Ngài bị thiêu đốt ?

Khi ấy Tô-trận-na tŕnh bày đầy đủ sự việc đă xảy ra. Th́ ra là vậy, các Bí-sô nghe xong, không vui mà cũng không hề chê trách. Các vị rời chỗ ngồi trở về, đến thẳng nơi đức Phật đang trú, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi qua một bên. Các vị bạch đầy đủ vấn đề lên đức Phật.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các Bí-sô: “Tô-trận-na, đối với các pháp hữu lậu là người đầu tiên làm việc phi pháp, làm hạnh bất tịnh”. Thực tại đă là vậy!

Đức Thế Tôn lấy việc này làm nhơn duyên cho tập hợp các Bí-sô lại. Đức Phật biết sự thật, thấy rơ vấn đề. Biết mà Ngài vẫn hỏi, chứ chẳng phải biết mà không hỏi. Hỏi đúng lúc, không đúng lúc không hỏi. Có lợi ích mới hỏi, không lợi ích không hỏi. Phá vỡ sự nghi ngờ, trừ hết nghi hoặc. Có lợi nên hỏi. Đức Phật hỏi Tô-trận-na:

- Thật sự ông đă làm việc không đoan nghiêm ấy chăng ?!

Tô-trận-na bạch Phật:

- Bạch Đại đức Thế Tôn, thật vậy, con đă làm điều ấy!

Đức Phật bảo Tô-trận-na:

- Ông chẳng phải Sa-môn, chẳng phải hạnh tuỳ thụân, không thanh tịnh, chẳng phải oai nghi, chẳng phải việc nên làm của người xuất gia. Tô-trận-na! Tại sao ông đối với những điều Ta dạy, ĺa tham sân si, tâm hụê giải thoát, xuất gia trong pháp vi diệu mà làm việc phi pháp, đáng xấu hổ như vậy. Ông là người si, thà đem nam căn để vào miệng con rắn dữ độc hại chứ không nên để vào nữ căn.

Đức Thế Tôn dùng mọi phương tiện nói tất cả việc nhàm chán nhơ nhớp, quở trách Tô-trận-na rồi bảo các Bí-sô: “Do nhơn duyên này, Ta nh́n thấy mười điều lợi ích, v́ các Thanh-văn, đệ tử đối với Tỳ-nại-da, chế định Học xứ ấy”.

Mười điều lợi ích là ǵ ?

1. Nhiếp thủ đối với Tăng        

2. Khiến cho Tăng hoan hỷ.

3. Khiến cho Tăng vui sống.

4. Hàng phục kẻ phá giới.

5. Người biết xấu hổ an lạc.

6. Khiến người không tin được tin.

7. Người đă tin được tăng trưởng.

8. Đoạn hữu lậu hiện tại.

9. Đoạn hữu lậu vị lai.

10. Khiến phạm hạnh được cửu trụ.

Để thể hiện sự trong sáng của chánh pháp, sự lợi ích rộng răi trong trời người. Ta nay v́ các Thanh-văn đệ tử, đối với Tỳ-nại-da, chế định Học xứ ấy như sau: “Nếu lại có Bí-sô cùng với các Bí-sô đồng được Học xứ, không xả Học xứ, Học xứ lại bị sút kém không tự nói lên, làm hạnh bất tịnh, hai bên làm pháp giao hội. Bí-sô này bị Ba-la-thị-ca, không nên chung sống”.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn v́ các Bí-sô chế Học xứ này rồi, nơi A-lan-nhă, cách không xa ao Yết-lan-đạc-ca trong vườn Trúc Lâm, nơi đây có một Bí-sô ở trong thất nhỏ. Trong khu rừng này có một con khỉ cái v́ muốn ăn uống nên đến chỗ Bí-sô. Bí-sô thường lấy thức ăn thừa cho nó ăn. Giỡn mặt... Bí-sô cùng nó làm hạnh bất tịnh.

Vào dịp đó, có chúng Bí-sô tuần du kiểm tra xem xét vùng A-lan-nhă, đến chỗ Bí-sô ở, cùng ngồi lại với nhau trao đổi bàn luận. Nhớ đến việc làm “xấu” trước đây, con khỉ cái ấy lại đến chố cũ, đưa mắt nh́n Bí-sô và đưa thân mời gọi... Bí-sô thấy vậy xấu hổ với các Bí-sô khách vội t́m cách cản ngăn đuổi nó đi. Đến ba lần con khỉ cái hành động như vậy. Bị xua đuổi, vô cùng tức giận điên tiết, con khỉ cái liền dùng móng tay quào Bí-sô: đầu, mặt và y đều bị rách, xước. Nó chạy qua một bên kêu la nhảy, cào dưới đất, tỏ vẽ tức tối. Khi ấy các Bí-sô chứng kiến sự việc như vậy rồi, bèn hỏi vị Bí-sô ấy rằng:

- Này Cụ thọ! Tại sao con khỉ hoang dă này vừa đến, trước đưa mắt nh́n ông đăm đăm rồi lại đưa thân đến gần ? Cụ thọ thấy vậy liền ngăn đuổi, ba lần tái diễn như vậy! Tức giận điên tiết, nó quào bấu thân thể, y của Cụ thọ đều bị rách! Nó kêu la, nhảy nhót phẫn nộ Cụ thọ là thế nào ?!

Bằng sự thật, vị Bí-sô kia tŕnh bày đầy đủ vấn đề, đă xảy ra. Các Bí-sô nghe xong, nói:

- Này cụ thọ! Đâu chẳng phải Thế Tôn ngăn cấm các Bí-sô làm hạnh bất tịnh hay sao ?

Vị Bí-sô liền trả lời:

- Thế Tôn chế giới, chỉ giới hạn trong loài người, không ngăn cấm đối với loài bàng sanh.

Các Bí-sô nghe nói như vậy rồi, không vui mà cũng không trách, rời chỗ ngồi đi về. Các vị cùng đến chỗ đức Thế Tôn, lễ Phật xong, ngồi qua một bên. Các Bí-sô đem sự việc đă xảy ra bạch với đức Thế Tôn một cách chi tiết. Thế Tôn bảo: “Loài người c̣n cấm, huống nữa là bàng sanh. Bí-sô ngu si kia phạm Ba-la-thị-ca”.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lấy sự việc ấy làm nhơn duyên tập hợp các Bí-sô lại. Ngài biết mà vẫn hỏi:

- Này Bí-sô! Sự thật ông đă tạo ác pháp, trong việc làm không đoan nghiêm đó chăng ?

Vị Bí-sô nọ thưa:

- Bạch Thế Tôn thật như vậy.

Đức Thế Tôn bằng mọi cách quở trách: -Nói đầy đủ như trước. Với sự việc nảy sanh này, đức Thế Tôn bảo các Bí-sô rằng: -Trước là sáng chế, nay là tùy chế. Ta nay lại đối với Tỳ-nại-da v́ các Bí-sô, chế Học xứ bổ túc như sau: “Nếu lại có Bí-sô cùng với các Bí-sô đồng được Học xứ, không xả Học xứ, Học xứ bị sút kém, không tự nói lên, làm hạnh bất tịnh, hai bên làm pháp giao hội, cho đến loài bàng sanh. Bí-sô này bị Ba-la-thị-ca, không nên chung sống”.

+ Câu: “Nếu lại có Bí-sô”, tức là chỉ có Tô-trận-na v.v... Có năm hạng Bí-sô:        

1- Danh tự Bí-sô.                          

2- Tự nói là Bí-sô.

3- Khất cầu Bí-sô.

4- Phá phiền năo Bí-sô.

5- Bạch tứ Yết-ma Viên cụ Bí-sô.

+ Danh tự Bí-sô là tên Bí-sô do người đặt. Hoặc đời cùng chấp nhận, hoặc chủng tộc là Bí-sô. Do nghĩa này mà gọi là Bí-sô. V́ thế gọi là Danh tự Bí-sô.

+ Tự nói là Bí-sô, có nghĩa là người ấy thật không phải là Bí-sô mà tự nói: Tôi là Bí-sô. Hoặc là chủ giặc tự xưng Bí-sô. V́ thế gọi là Tự ngôn Bí-sô.

+ Khất cầu Bí-sô, tức là các người thế tục thường dùng khất cầu để tự nuôi sống. Đó gọi là Khất cầu Bí-sô.

+ Phá phiền năo Bí-sô, tức là người có khả năng đoạn hết các lậu hoặc phiền năo, đốt cháy hết các khổ sanh, lăo, bệnh, tử dị thục của đời vị lai, khéo biết rơ năng lực mà vĩnh viễn trừ hết gốc rễ, như chặt ngọn cây Đa-la chứng pháp Bất sanh. V́ thế gọi là Phá phiền năo Bí-sô.

+ Thế nào gọi là Bạch tứ Yết-ma Viên cụ Bí-sô ?

-Nghĩa là thân của đương sự không có chướng nạn, tác pháp viên măn, không có điều ǵ đáng chê trách, nên gọi là Yết-ma Viên cụ Bí-sô.

Nghĩa của Bí-sô, đề cập nơi đây là hạng Bí-sô thứ năm.

+ Nói: “Lại có”, nghĩa là chỉ cho các Bí-sô khác cùng trong một ḍng như vậy.

+ “Cùng với các Bí-sô”, nghĩa là chỉ chung cho các Bí-sô vậy.

+ “Đồng được Học xứ”, tức là những việc cần học của người thọ giới trước một trăm năm, cùng với những việc cần phải học của người mới thọ giới như nhau không khác. Điều cần học của người mới thọ Viên cụ cùng với những điều học của người thọ Viên cụ trước một trăm năm không khác. Đối với Thi-la Học xứ nghi quỹ tŕ phạm, thảy đều giống như nhau. Cho nên gọi là “đồng được Học xứ”.

+ Không xả Học xứ và tại sao cùng gọi là không xả Học xứ ?

- Nghĩa là đối với người điên cuồng tâm loạn thống năo ép ngặt hay người câm, điếc, ngu si mà xả Học xứ, đều không gọi là xả.

Nếu đối với chỗ độc tịnh khởi lên ư tưởng độc tịnh; hoặc với chỗ độc tịnh khởi lên ư tưởng không độc tịnh; hoặc đối với chỗ không độc tịnh khởi lên ư tưởng là độc tịnh th́ chẳng phải là xả Học xứ.

Nếu người ở Trung phương đối với người ở Biên phương mà sử dụng ngôn ngữ của Trung phương, th́ xả không thành xả, nhưng nếu họ hiểu th́ thành xả.

Nếu người ở Biên phương đối với người ở Trung phương mà sử dụng ngôn ngữ của Biên phương; nếu người ở Trung phương đối với người ở Trung phương mà sử dụng ngôn ngữ của Biên phương th́ xả không thành xả; nhưng nếu họ hiểu th́ thành xả.

Nếu người ở Biên phương đối với người ở Biên phương mà sử dụng ngôn ngữ của Trung phương, chuẩn theo trên mà nhận biết.

Nếu đối với người ngủ, người nhập định, chẳng phải người, loài trời v.v... Bàng sanh biến hóa và các h́nh tượng, hoặc trong lúc ồn ào rối loạn, hoặc người bản tánh mất thăng bằng, đều không thành xả Học xứ.

+ Học xứ bị sút kém không tự nói lên, xếp thành bốn trường hợp như sau:

1- Có (trường hợp) xả Học xứ, chẳng phải Học xứ bị sút kém mà nói xả.

2- Có (trường hợp) xả Học xứ bị sút kém, mà nói xả chẳng phải Học xứ.

3- Có (trường hợp) xả Học xứ, Học xứ bị sút kém mà nói xả.

4- Có (trường hợp) không xả Học xứ, chẳng phải Học xứ bị sút kém mà nói xả.

- Tại sao có xả Học xứ, chẳng phải Học xứ bị sút kém mà nói xả ?

Như có Bí-sô ḷng ôm t́nh cảm quyến luyến quê nhà, mong muốn trở về thế tục, đối với đạo Sa-môn không có tâm vui yêu mến, cảm thấy khổ sở, xấu hổ nhàm chán rồi đến chỗ vị Bí-sô, nói như vầy:

“Cụ thọ nghe cho! Tôi là Bí-sô... Nay xả Học xứ”. Như vậy gọi là xả Học xứ.

Hoặc nói: “Tôi xả Phật-đà, Đạt-ma, Tăng-già”.

Hoặc nói: “Tôi xả Tô-đát-la, Tỳ-nại-da, Ma-trất-lư-ca[1]”.

Hoặc nói: “Tôi xả Ô-ba-đà-da, A-già-lợi-da”.

Hoặc nói: “Biết tôi là người thế tục, biết tôi là Cầu tịch, là Phiến-sá-bán-trạch-ca[2], Ô Bí-sô-ni, giết cha, hại mẹ, giết A-la-hán, phá ḥa hợp Tăng, ác tâm làm thân Phật ra máu là ngoại đạo, là người hướng về ngoại đạo người làm giặc, người biệt trú không cộng trụ. Cho đến nói rằng: Tôi với các Ngài đồng pháp, đồng phạm hạnh chẳng phải bạn bè ǵ hết”.

Như vậy gọi là xả Học xứ chẳng phải Học xứ bị sút kém.

Tại sao có trường hợp xả Học xứ, Học xứ bị sút kém mà nói chẳng phải xả Học xứ ?

+ Như có Bí-sô, ḷng ôm t́nh cảm quyến luyến cố hương mong muốn trở về thế tục, đối với đạo của Sa-môn không có tâm ái mộ, cảm thấy khổ sở nhàm chán rồi đến chỗ vị Bí-sô, nói như vầy: “Cụ thọ biết chăng! Phạm hạnh khó lập, chỗ vắng khó nương, một ḿnh khó sống, không thể sống trong rừng rú, nhận lấy ngọa cụ xấu. Tôi nhớ cha mẹ, anh em, chị em, phải nhận sự nghiệp của ông cha. Tôi muốn học các công xảo và kinh doanh ruộng đất. Tôi hy vọng kế thừa gia tộc tôi ”.

Với Bí-sô này, tuy tỏ rơ ngôn từ lắm điều hối hận như vậy mà không nói rằng: “Tôi xả Học xứ”. Trường hợp này gọi là Học xứ bị sút kém mà nói chẳng phải xả Học xứ.

Tại sao Học xứ bị sút kém th́ cũng được gọi là xả Học xứ ?

+ Như có Bí-sô ḷng ôm t́nh cảm quyến luyến cố hương (nói, đầy đủ như trước) - Cho đến nói lời hối hận về quá khứ rằng: “Tôi xả Học xứ”. Rộng nói như trước. Cho đến câu: Đồng phạm hạnh chẳng phải là bạn bè nữa. Như vậy gọi là Học xứ bị sút kém th́ gọi là xả Học xứ.

Tại sao gọi là không xả Học xứ, chẳng phải Học xứ bị sút kém?

+ Nghĩa là tất cả hiện tượng trước không có. Như vậy gọi là Học xứ không bị sút kém.

+ “Làm hạnh bất tịnh”, tức là dâm dục. Nói dâm dục tức là hai thân giao hội vậy. Chữ “pháp” ở đây tức là phi pháp là một danh xưng chỉ cho thân nghiệp làm việc phi pháp v́ tạo tác như thế gọi là pháp.

+ “Cho đến cùng với bàng sanh”, tức là con khỉ cái... Phạm nhơn ở đây chính là người. Bí-sô là người được tánh Bí-sô.

Tại sao gọi là được tánh Bí-sô ?

+ Tức là người thọ Viên cụ. 

Thế nào gọi là Viên cụ ?

+ Viên cụ nghĩa là bạch tứ Yết-ma, trong vấn đề tác pháp này phải đúng như pháp th́ sự thành tựu mới rốt ráo trọn vẹn. Trước Yết-ma, người cầu thọ đem hết ḷng thành, mong cầu giới tṛn đầy. Tâm không nhuế hận là yếu tính của sự cần cầu thề nguyện thọ giới và bằng lời nói biểu lộ, bộc bạch ngữ nghiệp thể hiện sự thiết tha trong sáng của ḿnh. Cho nên gọi là Viên cụ.

+ “Ba-la-thị-ca” là cái tội cực trọng là cái ác ghê gớm, cần phải hiềm hận, loại bỏ nó, không thể ái mộ. Nếu Bí-sô vừa phạm phải th́ liền chẳng phải Sa-môn, chẳng phải Thích-ca tử, mất Bí-sô tánh trái với tánh của Niết-bàn, bị sụp đổ ngă nhào rơi vào khổ đau, không một thù thắng nào của ai có thể cứu vớt được, như cây Đa-la bị chặt ngọn không thể sống lại được, không thể phát triển. Cho nên gọi là Ba-la-thị-ca.

+ “Không nên chung sống”, tức là người phạm này không được phép cùng với các Bí-sô khác chung ở. Hoặc trưởng tịnh, hoặc Tự tứ, hoặc đơn bạch, bạch nhị, bạch tứ Yết-ma, hoặc trong chúng có việc, cần sai mười hai hạng người th́ người phạm giới này bị gạt ra ngoài. Vấn đề pháp, vấn đề thực, không cùng thọ dụng với chúng. V́ thế phải đuổi người này ra khỏi chúng. Do vậy, cho nên gọi là không được chung sống.

+ Tướng phạm của vấn đề này như thế nào ?

Bài Nhiếp tụng:

Hành dâm vào ba chỗ

Che không che ba mụt (ghẻ)

Sống, chết, hoại không hoại

Nam, nữ, Bán-trạch-ca

Thấy người ngủ, hành dâm

Hoặc trao cho thuốc, rượu...

Cưỡng bức, vui không vui

Phạm không phạm nên biết.

Bí-sô ở nơi ba chỗ, làm hạnh bất tịnh, hành pháp dâm dục, phạm tội Ba-la-thị-ca.

Thế nào là ba chỗ ?

+ Nghĩa là dùng “sanh chi” để vào chỗ đại tiện, tiểu tiện và miệng. Vừa để vào liền phạm tội Ba-la-thị-ca.

Nếu Bí-sô cùng với ba hạng người làm hạnh bất tịnh, phạm tội Ba-la-thị-ca.

Ba hạng người là ai ?

- Tức nam, nữ và Bán-trạch-ca.

Bí-sô có ư làm việc dâm dục đối với ba “mụt ghẻ” chưa hư hoại của người nữ c̣n sống làm việc dâm dục, dùng (sanh chi) có ngăn cách để vào (mụt) có ngăn cách; dùng (sanh chi) có ngăn cách để vào (mụt) không có ngăn cách, dùng (sanh chi) không ngăn cách để vào (mụt) có ngăn cách, dùng (sanh chi) không ngăn cách để vào (mụt) không ngăn cách. Vừa để vào liền phạm tội Ba-la-thị-ca.

Bí-sô đối với các người nữ c̣n sống, ba mụt ghẻ có tổn hoại vẫn bị hành dâm, vấn đề các loại ngăn cách đồng như trước. Vừa để vào liền phạm tội Tốt-thổ-la-để-dă.

Nếu đối với người nữ chết, ba mụt ghẻ không hư hoại, vấn đề các kiểu ngăn cách đồng như trước, vừa để vào liền phạm tội Ba-la-thị-ca.

Bí-sô đối với người nữ chết, ba mụt ghẻ tổn hoại, vấn đề ngăn cách đồng như trước, để và phạm tội Tốt-thổ-la-để-dă.

C̣n đối với người nữ hoặc sống hoặc chết phạm tội nhẹ, nặng y như vậy mà biết.

Đối với phi nhơn nữ, bàng sanh cái hoặc sống hoặc chết với ba cửa ghẻ, có tổn hoại, không tổn hoại, có ngăn cách hay không phạm tội nhẹ, nặng đồng như trước.

Nếu đối với người nam, phi nhơn nam, bàng sanh đực, hoặc sống hoặc chết đối với hai cửa ghẻ, có tổn hoại, không tổn hoại và dùng (vật) có ngăn cách... phạm tội đồng như trước.

Nếu nam Bán-trạch-ca, phi nhơn, bàng sanh, Bán-trạch-ca hoặc sống, hoặc chết đối với hai cửa ghẻ, có tổn hoại, không tổn hoại và dùng (vật) có ngăn cách... phạm tội đồng như trước.

Bí-sô đối với Bí-sô đang ngủ làm hạnh bất tịnh. Nếu Bí-sô đang ngủ, trước, sau cũng như chặng giữa đều không hề hay biết th́ không phạm, vị hành dâm kia phạm tội Căn bản.

Nếu Bí-sô ngủ, ban đầu biết, chặng giữa và sau không biết th́ không phạm, vị hành dâm ấy phạm tội Căn bản.

Nếu ban đầu và chặng giữa biết, mà sau không biết cũng không phạm tội, vị hành dâm kia phạm Bổn tội.

Nếu ban đầu, chặng giữa và sau đều biết mà tâm không thọ lạc vẫn không phạm. Vị hành dâm kia mắc tội Căn bản.

Nếu cả ba giai đoạn: Đầu, đuôi, chặng giữa đều biết với tâm thọ lạc th́ cả hai người đều phạm tội Căn bản.

Nếu Bí-sô, ban đầu đến chỗ Bí-sô đang ngủ, có phạm không phạm đều như vậy. Nếu hướng đến chỗ Bí-sô-ni, Thức-xoa-ma-noa, Cầu tịch, Cầu tịch Ni, phạm tội nhẹ nặng như trước nên biết.

Nếu Bí-sô-ni, Thức-xoa-ma-noa và Cầu tịch nữ, hướng đến chỗ Bí-sô và chỗ của Cầu tịch, mỗi một vấn đề có phạm, không phạm, chuẩn theo trước định tội. Nếu Cầu tịch hướng đến chỗ Bí-sô, Bí-sô-ni, Thức-xoa-ma-noa, Cầu tịch, Cầu tịch nữ, có phạm, không phạm cũng như trên đă nói.

Nếu Bí-sô dùng rượu bằng gạo, rượu bằng hoa, rượu bằng thứ rễ, vỏ cây v.v... Cho Bí-sô uống say để làm hạnh bất tịnh, mà Bí-sô say đó, đối với ban đầu, chặng giữa, sau, có biết, không biết, thọ lạc, không thọ lạc phạm tội nặng nhẹ, có phạm, không phạm, cho đến, cho các chúng khác uống rượu khiến cho họ say, cũng như đối với người ngủ đă nói trên, người say cũng giống như vậy.

Nếu dùng thuốc hay chú thuật khiến cho người kia mê loạn, đối với các hoàn cảnh ấy làm hạnh bất tịnh, cho đến đối với các chúng khác cùng nhau hỗ trợ thực hiện, vấn đề phạm tội, không phạm tội đều giống như đă nói trên.

Nếu Bí-sô cưỡng bức Bí-sô khác, để làm hạnh bất tịnh, người bị cưỡng bức, lúc mới để vào, khởi tâm thọ lạc, cả hai đều bị diệt tẫn.

Nếu khi mới vào không thọ lạc, vào rồi thọ lạc, cả hai đều bị diệt tẫn.

Nếu khi vào không thọ lạc, vào rồi không thọ lạc, khi rút ra thọ lạc, cả hai đều bị diệt tẫn.

Nếu người bị cưỡng bức, ba giai đoạn đều không thọ lạc th́ người ấy không phạm, người cưỡng bức bị diệt tẫn.

Như trường hợp ép bức Bí-sô, ép bức Bí-sô-ni và ba chúng dưới, chuẩn theo sự việc ấy nên biết.

Nếu các Bí-sô cùng nhau xâm bức th́ y như trường hợp trước mà luận tội và định tội.

Lúc bấy giờ, trong thành Thất-la-phạt có Trưởng giả, cưới một người con gái cùng một họ làm vợ, tâm đầu, ư hợp vui sống với nhau, thời gian chưa bao lâu, sanh được một hài nhi. Xương sống của hài nhi ấy mềm như loài mèo, thỏ. Trải qua hai mươi mốt ngày, ḍng họ vui mừng mở hội; cha của hài nhi bồng con đến, hỏi ḍng họ rằng:

- Nên đặt tên cho cháu là ǵ ?

Mọi người bàn bạc rồi nói:

- Xương sống của hài nhi mềm mại vậy nên đặt tên cho cháu là  “Nhược Yêu”.

Qua tuổi nhi đồng, Nhược Yêu càng lớn nhanh. Cảm nhận được pháp luật cao đẹp, Nhược Yêu cần cầu xuất gia. Khi đă xuất gia rồi, Nhược Yêu vào các nơi tụ lạc để khất thực, nhiếp hộ oai nghi, các căn không rối loạn, khéo pḥng hộ tâm ư, rồi trở về chỗ ở, ăn xong, dọn dẹp y bát, rửa chân. Sau khi vào trong pḥng, tâm dục nhiễm khởi lên, bèn lấy “sanh chi” để vào trong miệng của chính ḿnh mà thọ dục lạc. Sau một thời gian ngắn, có các Bí-sô, nhơn việc đến xem xét pḥng xá đă vào pḥng của Nhược Yêu thấy đương sự Nhược Yêu đang làm cái sự t́nh ôm lấy các vui áy náy như vậy, bèn hỏi lớn:

- Cụ thọ, ông làm ǵ vậy ?.

Thưa:

- Tôi đang thọ dục lạc.

Bí-sô vặn hỏi:

- Há chẳng phải Thế Tôn cấm hành pháp dâm dục ?

Thưa Cụ thọ:

- Phật chỉ cấm đối với người khác, chứ không cấm đối với chính ḿnh.

Các Bí-sô nghe câu nói ấy rồi, không vui cũng không hiềm chê, liền từ chỗ ngồi đứng dậy ra về. Các vị đến chỗ Phật, oai nghi như thường lệ, kính tŕnh việc ấy với Thế Tôn.

Phật dạy: “Đối với người khác c̣n cấm, huống  là đối với chính ḿnh. Đó là người ngu si, phạm Ba-la-thị-ca. Nếu có Bí-sô khởi tâm làm việc dâm dục, với ư thọ lạc, đem sanh chi của chính ḿnh để vào miệng của ḿnh, hoặc dùng căn của người khác để vào  miệng của ḿnh phạm tội Căn bản”.

Lúc bấy giờ, tại thành Thất-la-phạt có một người con của ông Trưởng giả, nam căn rất dài. Do vậy, người thời đó đặt tên là Trường Căn. Trường Căn, xuất gia thọ Viên cụ trong giáo pháp của Như Lai. Khi vào trong pḥng riêng của ḿnh, tự lấy “sanh chi” cho vào đường đại tiện của chính ḿnh để thọ dục lạc. Khi ấy, các Bí-sô khác nhân đi thăm các pḥng, thấy đương sự Trường Căn làm việc như vậy. Các Bí-sô hỏi để biết lư do... Cho đến câu trả lời: “Phật, cấm đối với người khác, chứ với chính ḿnh đâu có tội ǵ ?”.

Các Bí-sô bạch Phật.

Phật dạy: “Đối với người khác c̣n cấm, huống là đối với tự thân. Đây là người ngu si, phạm Ba-la-thị-ca”.

Đức Phật ở nơi vườn Cấp-cô-độc, tại thành Thất-la-phạt. Lúc bấy giờ ở nơi thành Ốt-thệ-ny (ở phía tây Ấn Độ) có một đại thương chủ, tên là Nan-đà, của cải rất nhiều, thọ dụng đầy đủ. Sở hữu một tài sản nhiều như Tỳ-sa-môn vương. Thương chủ cưới một người con gái cùng họ làm vợ, an nhàn vui sống với nhau, trong thời gian đă lâu mà vẫn bặt đường con. V́ muốn cầu con, nên đến miễu và thần kỳ, ở đâu cũng đến lễ bái cầu khẩn nhưng vẫn không đạt sở nguyện, lại có lắm miệng đời cạnh khóe do cầu khẩn mà lại được con, đó là lời cầu hăo huyền. Nếu đây là sự thật th́ mỗi người đều có cả ngàn đứa con như Chuyển luân vương. Tuy nhiên, do ba nguyên nhân sau đây mới có thể được con:

1- Cha mẹ giao hội.

2- Thân người mẹ phải sạch đúng kỳ nên hợp thai có thể đậu.

3- Thân Trung ấm hiện tiền.

Khi nghiệp duyên của thương chủ hội đủ, ḥa hợp, th́ lúc ấy có thần thức của một vị trời, từ cơi trời thắng diệu đến nhập thai người vợ của thương chủ. Thai ấy, nếu là một người nữ thông tuệ  th́ có năm trí đặc biệt, như đă nói đầy đủ ở đoạn trên, cho đến cái thai nằm ở phía dưới bên hữu. Người vợ vui mừng báo kết quả với chồng. Người chồng bèn để vợ ở trên lầu cao, theo thời gian cung cấp, hầu hạ như thể nữ của cơi trời. “Măn nguyệt khai hoa” một bé trai ra đời đầy đủ các tướng mạo. Người cha bồng con đến ra mắt họ hàng và nói:

- Hài nhi này nay xin đặt tên, nên đặt tên ǵ ?.

Theo pháp trong nước, đứa con sinh ra mà nghi dung đoan chánh ai nấy đều yêu thích ngắm nh́n th́ gọi là Tôn-đà-la-nan-đà. Khi ấy, họ hàng cùng nhau thảo luận bàn bạc:

“Cháu này nghi dung đoan chánh, mọi người đều yêu thích ngắm nh́n, vả lại con của thương chủ Nan-đà, vậy đặt tên cho cháu này là Tôn-đà-la-nan-đà”.

Tôn-đà-la-nan-đà được trao cho tám bà mẹ nuôi nấng. Hài nhi lớn nhanh như thổi lại khôn ngoan, như sen trong ao. Tôn-đà học thông cả bốn minh nghệ, cùng tám kỹ thuật.

Lúc bấy giờ, cha của Tôn-đà-la-nan-đà xây ba cung điện cho ba mùa xuân, hạ và đông, tạo ba cung viên và ba loại thể nữ, chia làm thượng, trung, hạ. Trên diệu lầu quán, là dàn tấu của các kỹ nhạc. Thương chủ Nan-đà v́ con lúc nào cũng tính toán, hết chuyện này đến chuyện nọ, không hề ngơi nghỉ! Nhân đó, Tôn-đà-la-nan-đà thưa với cha rằng:

- Tại sao cha phải khổ sở tính toán suốt ngày ?

Nan-đà bảo với con rằng:

- Con ở yên trên lầu cao suốt ngày vui chơi liệu có thể bao biện được gia nghiệp ư ? Nên gia nghiệp này đương nhiên cha phải biết, phải lo.

Tôn-đà-la-nan-đà nghe cha nói như vậy rồi, bèn tự suy nghĩ: “Cha ḿnh nói lời nói ấy là muốn cảnh giác ta”, liền quỳ xuống mà thưa với cha rằng:

- Nếu như vậy, thưa cha, con muốn đi du phương để t́m cầu sản nghiệp, cúi xin cha xét thuận cho.

Người cha dạy rằng:

- Con nay nên cứ ở đó, cha có trân bảo của cải, phiền ǵ phải đi xa để t́m cầu!

Tôn-đà-la-na-đà lại thưa:

- Cha tuy có của cải xong con ắt phải đi.

Người cha nảy sanh ư nghĩ: “Ta nay cần phải chấm dứt ư nghĩ, của con ḿnh” bằng cách lấy ch́a khoá mở cửa bảy kho lớn, chỉ cho con vàng bạc, loại đă thành, loại chưa thành đầy ấp các kho và nói với Tôn-đà-la-nan-đà rằng:

- Nhà ta tài bảo đă quá đầy đủ như vậy, con cứ nên yên ngồi vui hưởng thoả thích, tùy ư đem của bố thí tu tạo các việc phước điền. Ư muốn của con muốn đi phương khác, việc ấy phải được chấm dứt.

Tôn-đà-la-nan-đà liền thưa:

- Thưa cha, cha dùng của cải đó làm mệnh lệnh chỉ bảo con, nếu con có con, con lấy ǵ thị uy với nó!

- Người cha khen lời nói của con ḿnh là chí lư, và nghĩ rằng: “Sau khi ta về với ông bà, con ta phải lo việc gia nghiệp. Nay ta c̣n sống đây nên lần lựa dạy nó việc ấy, c̣n việc khiến nó nắm giữ của cải, ta thử nó đến phương trời khác: một là nó học được kinh nghiệm, làm ra của cải, hai là nó thấy rơ những bạn quen thân của ta, có được nh́n khắp đó đây để tâm hồn nó được sáng lên”. Ông ta suy nghĩ như vậy rồi, bảo người vợ rằng:

- Sau khi tôi qua đời rồi, Tôn-đà-la-nan-đà sẽ phải lo liệu lấy gia nghiệp... Ông đem tất cả những suy nghĩ của ḿnh mới đây nói cho người vợ biết.

Người vợ nói:

- Đây là ư nghĩ chí lư, ḿnh nên thực hiện theo ư muốn.

Sau đó cha bảo với con rằng: “Con đă nói lên được tấm ḷng của con điều này thật đáng quư. Sau khi cha qua đời, con phải lo liệu việc nhà...”

Ông ta giải bày tất cả ư nghĩ của ńnh với con và khuyến kích, dẫn dụ mong muốn con đến phương trời khác để làm ra của cải vật chất.

Lúc bấy giờ, thương chủ Nan-đà liền sai người lắc linh, thổi ốc, rao khắp thành ấp nơi có người ở và bốn phương thương khách biết rằng:  “Thương chủ Tôn-đà-la-nan-đà, nay muốn đem của cải đến phương khác để cầu lợi, quư vị nào muốn cùng đi, qua ải, qua sông, bến đ̣ không phải trực tiếp đóng thuế, th́ tự lo liệu hành lư chuẩn bị để đi”. Khi ấy có năm trăm con buôn nghe lời rao trên mỗi người chuẩn bị tiền bạc hàng hóa, đợi ngày cùng đi.

Trước khi đi, nguời cha Nan-đà mời các thương khách, người nào đă đăng kư cùng đi đến nhà. Sau khi dùng cơm, ông ta tuyên cáo rằng:

“Quư vị nên biết, Tôn-đà-la-nan-đà là con của tôi. Tôi xem quư vị ḷng dạ không đổi thay. Quư vị là thương gia, muốn đến xứ người cầu tài lợi, có ba điều cần phải tránh xa. Ba điều ấy là: cờ bạc, rượu chè và nữ sắc. Nếu quư vị thấy Tôn-đà-la-nan-đà vấp phải ba điều mê hoặc ấy, quư vị nên kịp thời ngăn chặn. Nơi nào có lợi ích th́ nên khuyến khích, động viên cho con tôi tu hành. Quư vị cùng nhau ngăn chặn điều ác, khuyến dụ việc lành, nếu con tôi nghe theo th́ là điều tốt, nếu ngược lại th́ quư vị đưa tài vật hàng hóa đến chỗ khác rồi quay về báo cho tôi biết”.

Đồng thời ông cũng nói với Tôn-đà-la-nan-đà rằng: “Con là con của cha, cha đối với quư thương gia này cùng với con không khác, quư vị này có điều khuyên lành con phải ghi nhận kính cẩn làm theo”

Chọn được ngày giờ tốt rồi, thương chủ dùng xe ngựa chuyên chở hàng hóa, đồ vật cùng với năm trăm người bạn lữ lên đường. Đường về thành Thất-la-phạt c̣n một khoảng xa, đoàn người tạm đặt hàng hóa trong một cái quán để nghỉ ngơi.

Nơi thành Thất-la-phạt, thời ấy có một dâm nữ, tên là Hiền Thủ. Cái nghề của cô ta là khoe bày sắc đẹp. Nhan sắc cô ta đặc sắc lộng lẫy, điều để người ta ngắm và vui. Một đêm để được ngủ với cô ta với giá năm trăm kim tiền.

Khi nghe có đoàn thương nhân từ xa, măi tận thành Ốt-thệ-ni, trong đoàn có con của thương chủ Nan-đà, tên là Tôn-đà-la-nan-đà, nghi dung đoan chánh, vẻ đẹp này làm cho mọi người ngưỡng mộ. Cùng với năm trăm thương nhân từ viễn xứ đến đây, hiện dừng nghỉ nơi thượng điếm của ta cùng với hàng hóa.

Dâm nữ nảy sinh ư nghĩ: “Nếu ta không đoạt hết toàn bộ tài vật này th́ ta không xứng với tên gọi là Hiền Thủ!” Cô ta bèn ra lệnh cho người sứ giả nữ rằng:

- Ở nơi quán đầu mối... có một thương chủ tên là Tôn-đà-la-nan-đà, một tay giàu có lắm của cải, ngươi mang tràng hoa hương thơm, quần áo thượng hạng này đến nói với thương chủ ấy rằng: “Đây là tặng vật của đại gia Hiền Thủ tôi, sai tôi mang đến để gọi là chút ḷng tin, xin mời ngài đến...”

Dâm nữ nói tiếp: “Hỏi ư kiến của thương chủ thế nào, ở lại đằng quán, có cần tôi tạm đến ?”.

Nữ sứ giả liền đem tràng hoa đến chỗ thương chủ và tŕnh bày lời ủy thác của chủ ḿnh, để xin ư kiến thương chủ.

Ngẫm nghĩ một chút, Tôn-đà-la-nan-đà mới bảo nữ sứ giả rằng:

- Cô về trước, tôi c̣n sửa soạn các thứ rồi đến sau.

Quay ngay trở về nhà nữ sứ giả báo cáo với đại gia rằng: “Thương gia bảo tôi về trước, ông ta sẽ t́m đến sau”.

Khi nghe nữ sứ giả báo cáo rồi, Hiền Thủ ḷng rất phấn khởi. Cô ta cho lau quét nhà sân, rải hoa đẹp xông hương thơm, sửa soạn giường ngồi, treo màn trướng đợi thương chủ đến.

Đây là cơ hội, Tôn-đà-la-nan-đà liền tắm rửa, mặc áo mới, dùng các loại hoa thơm tự trang sức. Tôn-đà cùng với tùy tùng lên xe ngựa đến thẳng nhà Hiền Thủ. Khi xe ngựa đến c̣n từ xa, Hiền Thủ đă nom thấy được thương chủ với dung mạo, oai nghi khác với người thường. Cô ta hỏi nữ sứ giả:

- Đó là thương chủ Tôn-đà-la-nan-đà phải chăng ?

Nữ sứ giả thưa:

- Đúng vậy!

Hiền Thủ rộn lên Niềm vui, đọc ngay bài tụng:

Không luận giàu với nghèo

Lương thiện hay bần tiện,

Chỉ cần dung mạo đẹp,

Bèn loạn tâm người nữ.

 

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ-NẠI-DA

QUYỂN 1- (hết).

 



[1] Bản hán: Ma-trất-lư-ca. C̣n gọi là Ma-đát-lư-ca.

[2] Bản hán: Phiến-sá-bán-trạch-ca. Đính chính: Phiến-quắc-bán-trạch-ca. C̣n gọi là Phiến-quắc-bán-đồ-ca. Ư dịch là Hoàng Môn, gọi người nam căn không đầy đủ.