CHỦ TRƯƠNG

BẢO TRỢ

TIN TỨC

NỐI KẾT

 

 

NGƯỜI XUẤT GIA

HT. THÍCH TRÍ QUANG

 

   1

THẾ NÀO LÀ NGƯỜI XUẤT-GIA?

 

Kinh Phước-Điền nói: "Có năm đức tính mà Sa-Di (cấp bực đầu tiên của người Xuất-gia) phải biết: Thứ nhất, phát tâm xuất-gia, v́ cảm mến đạo-pháp; thứ hai, hủy bỏ h́nh đẹp v́ để xứng pháp y; thứ ba, cắt bỏ ân ái, v́ không c̣n thân thuộc; thứ tư, khinh thường tánh mạng, v́ tôn sùng chánh-pháp; thứ năm, chí cầu đại-thừa, v́ cứu độ tất cả".

V́ dịch không hết ư, nên đoạn văn này cần phải giải thích thêm:

Thứ nhất, v́ cảm mến đạo pháp có năng lực diệt khổ, có phương pháp cứu người nên phát tâm xuất-gia, nghĩa là quyết chí mong cầu giải thoát mà thoát ly gia-đ́nh.

Thứ hai, v́ để ăn hợp với pháp y thanh tịnh mà trang nghiêm nên hủy bỏ hết những phục sức hoa lệ, những trang điểm duyên dáng nơi thân h́nh.

Thứ ba, v́ không c̣n phân biệt ai quyến thuộc, ai xa lạ, ai thân, ai sơ, mà tất cả đều đau khổ và ḿnh có nhiệm vụ cứu độ, nên cắt bỏ ân ái, từ giă thân thuộc.

Thứ tư, v́ quí trọng chánh-pháp, tha thiết muốn học hỏi chánh-pháp, tu hành chánh-pháp, truyền bá chánh-pháp, nên khinh thường tánh mạng, không kể sức khỏe, không tiếc năng lực, không từ gian lao, nguy hiểm.

Thứ năm, v́ để cứu độ tất cả nên quyết chí cầu pháp đại-thừa để có đủ phương pháp mà tự giác giác tha.

Nói tóm, Xuất-gia nghĩa là bỏ tất cả: Bỏ gia đ́nh, bỏ h́nh đẹp, bỏ bà con, bỏ thân mạng, bỏ cả tự lợi. Đó là năm tư cách của người Xuất-gia. Mà bỏ tức giải thoát, nên bỏ năm điều trên th́ đạt đến sự Giải-thoát chỉ v́ chánh-pháp và v́ muôn loài.

V́ chánh-pháp và v́ muôn loài mà bỏ tất cả, đó là tư cách, là đức tính của người Xuất-gia.

 

2

NGƯỜI XUẤT-GIA LÀ H̀NH ẢNH CỦA PHẬT-PHÁP

 

Kinh A-na-luật-bát-niệm chép: "Tôn giả A-Na-Luật ở bên bờ suối thanh vắng ngồi suy nghĩ rằng: ‘Đạo pháp là ít ham muốn, ham muốn nhiều không phải đạo pháp. Đạo pháp là biết vừa đủ, không biết vừa đủ không phải đạo pháp. Đạo pháp là thanh vắng, ồn ào khoái lạc không phải đạo pháp. Đạo pháp là tinh tiến, biếng nhác không phải đạo pháp. Đạo pháp là chế ngự tâm ư, tâm ư phóng đăng không phải đạo pháp. Đạo pháp là định ư chuyên nhất, suy tưởng mông lung không phải đạo pháp. Đạo pháp là trí tuệ giác sát, ngu si lầm lạc không phải đạo pháp.’ Phật-đà dùng thánh trí biết rơ những điều suy nghĩ này của Tôn giả A-Na-Luật nên như sự co duỗi cánh tay một cách lanh lẹ của lực-sĩ, Ngài đến trước tôn giả, tán dương rằng: ‘Đúng lắm, A-Na-Luật! A-Na-Luật! Những điều ông suy nghĩ là những điều suy nghĩ của một vị Đại-Sĩ (đại bồ tát)!’"

Nói tóm, tinh thần của Phật-Pháp là tinh thần "nghịch lưu", ngược đời. Mà có ngược đời mới cứu đời được.

Đời chúng ta là ǵ? Nói đến tâm lư th́ không tham lam, sân hận tất tàn bạo, ngu si. Nói đến hành vi th́ không bóc lột, đàn áp tất cuồng bạo, lưu manh. Nói đến tư tưởng th́ phi cổ vơ cạnh tranh để sống tất rập đầu trước khổ năo. Cuộc đời như thế, từ đời sống cá nhân đến đời sống tập họp, từ sự tập họp giữa vài người trong gia đ́nh đến sự tập họp giữa quần chúng trong xă-hội, đời sống ấy chạy đâu cho khỏi bể khổ mênh mông do các ḍng nước của tâm lư, hành vi và tư tưởng trên đổ về, đang đổ về và c̣n đổ về măi, nếu không quay ngược ḍng nước ấy lại? Quay ngược ḍng nước ấy lại, đó là tinh thần căn bản của Phật-Pháp mà tinh thần đó, như ta đă thấy, có nó th́ đời tiến hóa, không nó th́ đời tiêu diệt. Mà đời sống người Xuất-gia là hiện thân của tinh thần ngược ḍng ấy. Cho nên thay v́ h́nh thức và sự sống của đời là h́nh thức và sự sống hiện h́nh của tội lỗi, phát sinh từ tội lỗi và phát sinh ra tội lỗi, thay v́ h́nh thức và sự sống đó, h́nh thức và sự sống của người Xuất-gia phản ảnh tinh thần nghịch lưu, xuất thế, nên h́nh thức ấy khoác mặc pháp phục, sự sống ấy đồng hóa chánh-pháp. Và chỉ có vậy mới có thể đổi bỏ phiền năo nơi tâm lư, độc ác nơi hành vi và lầm lạc nơi tư tưởng mà đem lại cho ḿnh và người tâm lư thanh tịnh, hành vi hữu ích và tư tưởng sáng suốt.

Xuất-gia, nguyên nghĩa chữ ấy là tinh thần nghịch lưu của đạo pháp xuất-thế rồi, nên người Xuất-gia thật là bực Đại-Sĩ.

 

3

ĐỜI SỐNG NGƯỢC D̉NG CỦA NGƯỜI XUẤT-GIA

 

Kinh Đại-Thừa-Diệu-Pháp-Liên-Hoa có dạy: "Vào nhà của đức Như-Lai, mặc áo của đức Như-Lai, ngồi chỗ của Như-Lai. Nhà của đức Như-Lai là tâm đại từ bi đối với tất cả chúng sinh. Áo của đức Như-Lai là nhu ḥa nhẫn nhục. Chỗ của đức Như-Lai là tất cả các pháp đều không".

Ngược với h́nh thức thế gian mà khoác mặc pháp phục, ngược với sinh hoạt thế gian mà sống như chánh-pháp, sống ngược ḍng như vậy để làm ǵ? Hay hỏi một cách khác, người Xuất-gia sống như thế nào mà gọi là đời sống ngược ḍng? Người Xuất-gia không muốn xuôi theo ḍng đời đi đến lầm lỗi và khổ năo nên ngược ḍng lại, rời bỏ nhà cửa, phục sức và chỗ ngồi của thế gian mà vào nhà của Phật, mặc áo và ngồi chỗ của Ngài, đứng trên lập trường các pháp đều không mà đem nhu ḥa nhẫn nhục để hoạt dụng tâm đại từ bi.

Tâm đại từ bi có hai tính cách: Tính cách cứu khổ th́ thay thế chúng sinh mà chịu mọi khổ năo cho họ; tính cách cho vui th́ có thể bỏ hết tất cả phước lạc mà cho chúng sinh. Tâm đại từ bi như vậy là nhà cửa của Phật-Pháp. Bắt đầu vào Phật-pháp là ngược lại với tâm tánh tham tàn mà bước vào tâm đại từ bi đó.

Nhu ḥa nhẫn nhục là dẻo dai và chịu đựng, dẻo dai từ tâm lư đến sắc mặt, nụ cười; chịu đựng từ hoàn cảnh đến chướng ngại, ngang trái. Nhu ḥa nhẫn nhục như vậy là năng lực của Phật-Pháp, muốn thực hiện tâm đại từ bi th́ phải khoác mặc năng lực ấy để chế ngự tất cả chán nản, bước lui, mà kiên nhẫn bước tới.

Nhưng có tâm đại từ bi và có nhu ḥa nhẫn nhục là v́ xác nhận các pháp đều không, nghĩa là không có đặc tánh cố định. Không có đặc tánh cố định th́ khổ có thể tiêu diệt mà vui có thể kiến thiết. Ngồi trên sự xác nhận này th́ thế nào cũng có tâm đại từ bi và có nhu ḥa nhẫn nhục. Nên "các pháp đều không" là chỗ ngồi, chỗ lập cước, là lập trường của đời sống người Xuất-gia, đời sống nghịch lưu chỉ chăm chăm cứu khổ cho vui cho người. Trái lại, mê mờ mà cho các pháp thực có th́ đă tham lam không rời cái ḿnh thích mà lại khổ năo không nguôi cái ḿnh ghét bỏ; không những như vậy mà lại c̣n thấy khổ không thể hủy diệt, vui không thể thực hiện. Chấp các pháp thực có, đó là lập trường của cuộc sống thế gian, nên cuộc sống ấy xuôi ḍng sinh tử, gây ra tội ác và bị tội ác nhận ch́m măi măi. Sự nhận ch́m ấy chỉ có sự xác nhận ngược ḍng tư tưởng chấp có, nhận xét các pháp đều không mới làm cho đời ḿnh nổi lên và thoát ra được.

Nói tóm, đứng trên sự xác nhận các pháp đều không mà dùng năng lực nhu ḥa nhẫn nhục để cho vui và cứu khổ cho tất cả và hết thảy bằng tâm đại từ bi, đó, tất cả đại cương đời sống người Xuất-gia, một đời sống quả thật là ngược ḍng, xoay ngược ḍng sống chảy xuôi xuống hầm hố của đời mà đưa đời bước lên đường quang minh chánh đại.

 

4

ĐẠI CƯƠNG GIÁO-LƯ CỦA NGƯỜI XUẤT-GIA

 

HỆ THỐNG CỦA GIÁO-LƯ

Toàn bộ giáo lư của Đức Phật có ba hệ thống:

     

  1. Giáo lư chung thông của năm thừa
  2. Giáo lư chung thông của ba thừa
  3. Giáo lư đặc biệt của đại thừa.

Thừa nghĩa là cỗ xe, có tác dụng vận tải đến đích; giáo lư của Phật dạy có năng lực đưa người đến mục đích giải thoát (niết-bàn) và giác ngộ (bồ đề) nên mệnh danh theo danh từ ví dụ ấy, gọi là thừa . Giáo lư (hay Thừa) ấy, để cung cấp cho tất cả tŕnh độ cao thấp bất đồng nên có 5; 5 thừa phân ra 3 hệ thống và là thành phần của 2 loại chánh.

     

  1. Pháp thế gian.
  2. Pháp xuất thế.

Giáo-lư "năm cấm giới" của nhân thừa (thừa thứ nhất) và giáo lư "mười thiện-nghiệp" của thiên-thừa (thừa thứ hai) nếu chỉ v́ mục đích phước lạc mà thực hành th́ kết quả chỉ đạt đến phước lạc ở loài người và chư thiên, nghĩa là vẫn c̣n trong phạm vi luân hồi, nên thuộc về "pháp thế gian" và đứng riêng một hệ thống, hệ thống thứ nhất. Giáo lư "bốn đế lư" của thanh-văn-thừa (thừa thứ ba) và giáo lư "mười hai nhân duyên" của duyên giác thừa (thừa thứ tư) th́ chỉ thật hiện được mục đích giải thoát cho ḿnh trong một phạm vi đoạn trừ kiến-hoặc và tư-hoặc, nên dầu thuộc về "pháp xuất thế" nhưng vẫn thành một hệ thống riêng, hệ thống thứ hai. C̣n giáo-lư "thật tướng" của đại-thừa (hay tối-thượng-thừa, tức thừa thứ năm) th́ diệt trừ đến tận vô thỉ vô minh, thật hiện đại giải thoát và đại giác ngộ cho ḿnh và cho tất cả, nên tuy thuộc về "pháp xuất thế" mà nội dung bao gồm hết thảy, nên đứng riêng một hệ thống đặc biệt, hệ thống thứ ba.

Hiểu đại loại như vậy rồi, giờ quay lại để nhận định sự tương quan của ba hệ thống giáo-lư trên. Trước hết, nên để ư chữ chung thông và chữ đặc biệt. Chung thông th́ cái ǵ của "thừa" dưới có là các "thừa" trên bao gồm cả; nói một cách khác để rơ ràng hơn, giáo pháp ǵ thừa dưới có, thừa trên cũng phải thực hành (nhưng thực hành với mục đích của ḿnh) mới đạt đến mục đích ḿnh mong mỏi. Trái lại, đặc biệt th́ giáo-lư ǵ của thừa trên có, thừa dưới không có giáo-lư ấy, nghĩa là người tu thừa dưới đă không thực hành nổi mà cũng không liên quan ǵ đến mục đích của họ. Hăy lấy một thí dụ trèo thang cho dễ hiểu: Nấc dưới là những nấc mà người muốn lên tột bực phải trèo qua, c̣n nấc tọât bực không phải là nấc phải kinh quá và có thể kinh quá của người chỉ trèo các nấc dưới. Hiểu như vậy mới thấy cái hệ thống phân minh của năm thừa, đồng thời cũng thấy sự tương quan giữa năm thừa ấy, và do đó, điều quan trọng này tự nhiên lộ diện ra: như một người chỉ muốn hoàn thành nhân cách để được phước lạc trong nhân loại mà thực hành 5 cấm-giới, th́ năm cấm giới đó chỉ thật hiện mục đích tương đương như thế mà thôi; trái lại, một người có chí nguyện đại thừa, v́ mục đích đại-giải-thoát và đại-giác-ngộ mà thực hành giáo-pháp cơ bản đầu tiên là năm cấm-giới trên th́ năm cấm-giới ấy la øcái viễn nhân thật hiện mục đích vô thượng của đại thừa. Cứ liên tưởng đến cái thí dụ trèo thang trên cũng h́nh dung được ư niệm này.

Danh từ chung thông đặc biệt cho ta vài nhận định cần thiết như vậy, tự nhiên ta thấy ba hệ thống của 5 thừa:

     

  1. Năm cấm-giới và mười thiện-nghiệp là hệ thống giáo lư thứ nhất, tuy thuộc về "pháp thế gian" nhưng đồng thời cũng là nấc thang thứ nhất và nấc thang thứ nh́ của ba thừa trên, nên gọi là " giáo lư chung thông của năm thừa".

  2. Bốn đế-lư và 12 nhân duyên là hệ thống giáo lư thứ hai, tuy thuộc về "pháp xuất thế" nhưng chỉ thật hiện mục đích tự giải thoát, và tuy chỉ tự giải-thoát nhưng cũng là nấc thang thứ ba và nấc thang thứ tư của đại thừa, nên gọi là " giáo lư chung thông của ba thừa".

  3. Thật tướng là hệ thống giáo lư có hai mặt: Mặt cao th́ diễn đạt thật-tướng của các pháp và thật hiện mục đích vô thượng; mặt rộng th́ bao gồm tất cả giáo lư của các thừa dưới, nói khác đi, các thừa dưới chỉ là giáo lư của hệ thống này, nhưng để cung cấp cho tất cả tŕnh độ nên Phật tỉa thừa này ra mà thiết lập. Bởi hai mặt cao và rộng tột bực như vậy nên nó là " giáo lư đặc biệt của đại thừa" mà thôi.

Bây giờ, tự nhiên có hai câu hỏi mà ta phải giải thích trước khi giải thích đại cương của ba hệ thống giáo lư trên. Hai câu hỏi ấy là:

a/ nếu năm cấm giới và mười thiện-nghiệp là nhân thừa và thiên thừa th́ giáo lư ấy có khác ǵ đạo đức luân lư của thế gian mà để nó vào hệ thống giáo lư của Phật? Hỏi như vậy cũng như hỏi 5 cấm giới và 10 thiện-nghiệp làm sao thành viễn nhân của mục đích giải thoát trong khi h́nh thức nó không hơn mấy luân lư và đạo đức thế gian?

b/ Trong 5 thừa (hay 3 hệ thống giáo lư) đó, thứ nào mới thật là Phật-Pháp, bao gồm toàn diện giáo lư và đạt đến mục đích cuối cùng của Ngài?

Muốn giải đáp câu hỏi thứ nhất, ta phải nhớ đến "ba qui y". Ba qui y là mục đích của người tu học Phật-Pháp. Mục đích ấy có nghĩa là qui ngưỡng người dẫn đạo ḿnh (Tăng) thật hành các giáo lư cao rộng (Pháp) để thật hiện mục đích vô thượng (Phật). Khi thệ nguyện thọ tŕ và tu tập 5 cấm-giới hay 10 thiện-nghiệp th́ phải thọ "ba qui y" như thế để nhận thức mục đích. Và do 3 qui y (nói cách khác, là do mục đích đó) mà 5 cấm giới và 10 thiện-nghiệp vừa là nguyên nhân trực tiếp đem lại phước lạc tương đương với giá trị của nó, vừa là viễn nhân gián tiếp bước lên mục đích vô thượng của Phật-Pháp. V́ vậy, h́nh thức của 5 cấm giới và 10 thiện-nghiệp, tuy luân lư đạo đức có giống nó đôi phần, nhưng nó, v́ giá trị trên, vốn cũng là những pháp vị đề hồ, những giọt sữa thật chất, chảy ra từ chân như giác hải của Phật-đà. Cũng do theo đây, "ba qui y" vừa là cơ bản, vừa là mục đích suốt từ đầu chí cuối của tất cả 5 thừa.

C̣n câu hỏi thứ hai, muốn giải đáp, ta phải nhấn mạnh mục đích vô thượng của Phật-Pháp. Mục đích ấy là đại giải thoát và đại giác ngộ, nói tóm, mục đích ấy là thành Phật. Mà Phật-Pháp là ǵ? Là giáo-pháp do Phật nói ra và đi đến địa vị Phật. Đi đến địa vị Phật, đó là mục đích vô thượng của Phật-Pháp. Nhưng giáo-lư nào có thể đạt mục đích đó ngoài giáo-lư đại thừa? Cái cao của mục đích Phật-Pháp là trí giác vô thượng, cái rộng của mục đích Phật-Pháp là giác ngôï tận cùng; cái cao cái rộng ấy phi tính chất cao và rộng của giáo lư đại thừa, không có giáo lư chi đạt thấu, thật hiện được.

ĐẠI CƯƠNG CỦA CÁC HỆ THỐNG GIÁO-LƯ

Mọi sự tương quan cần thiết đă nhận thức rồi, ta phải bước vào đại cương của ba hệ thống giáo lư trên.

1.- Đại cương của hệ thống "Giáo lư chung thông của năm thừa." __ Tức 5 cấm giới và 10 thiện-nghiệp thiết lập trên cơ bản, trên mục đích "ba qui y".

Năm cấm giới của nhân thừa có hai phần:

Một, đ́nh chỉ tánh tội, tức bốn giới trước, năng lực của nó là tiêu diệt sự tàn sát, sự cướp lột, sự gian dâm, sự lừa láo; những tội ác mà thế gian sinh ra là đă có và thế gian đại loạn v́ nó.

Hai, đ́nh chỉ giá tội, tức giới thứ năm, năng lực của nó là giữ thăng bằng cho tâm lư trước sự say sưa để khỏi sa vào 4 tánh tội. Thế giới loạn là loạn từ tâm lư con người, thế giới mất thăng bằng là mất thăng bằng từ tâm lư con người ấy. Nên giáo lư 5 cấm-giới chứng tỏ rằng muốn cải tạo xă-hội th́ phải cải tạo con người; đưa con người ra khỏi cái loạn, cái mất thăng bằng của nó th́ luôn theo đó, thế giới con người cũng chấm dứt sự đại loạn, sự vô tổ chức. Và con người cũng như thế giới của con người sẽ được xây dựng với những điều kiện lành mạnh từ trong đến ngoài, từ gốc đến ngọn, trong mặt tích cực của 5 cấm-giới là bảo vệ lẫn nhau, tương trợ cho nhau, thanh khiết như nhau, thành thực với nhau và soi sáng cho nhau.

C̣n mười thiện-nghiệp của thiên-thừa th́ có 3 phần: Ba thứ đầu đ́nh chỉ sự tàn sát, sự trôïm cướp, và sự gian dâm của thân thể; bốn thứ giữa đ́nh chỉ lời nói dối trá, lời nói thêu dệt, lời nói ly gián, lời nói thô ác của miệng lưỡi; ba thứ sau đ́nh chỉ ḷng tham lam, ḷng sân giận, ḷng si mê của tâm ư. Pháp tu để đạt đến phước lạc chư thiên, ngoài 10 thiện-nghiệp này có pháp ly dục (để đạt đến sắc giới) và pháp ly thân (để đạt đến không giới) nữa, nhưng chỉ là chi tiết đi sâu một chút của 10 thiện-nghiệp. Tuy vậy, đạt đến phước lạc chư thiên là kết quả thấp nhất của 10 thiện-nghiệp thô sơ, nên nói 10 thiện-nghiệp là thiên-thừa mà thôi; chứ 10 thiện-nghiệp sâu rộng th́ chính là cơ bản của tất cả, việc ấy lại là một phương diện khác.

Giáo-lư chung thông của năm thừa tức 5 cấm-giới của nhân-thừa và 10 thiện-nghiệp của thiên-thừa trên đây chứng minh một giáo lư quan trọng: Hành vi là nguyên động lực của sự sống. Sự sống có ra và có sai biệt là do hành vi. Giáo lư này một mặt chứng tỏ sự sống khổ do hành vi ác gây ra, sự sống vui do hành vi thiện kết quả, một mặt chứng tỏ sự sống ấy lại do hành vi cải tạo. Nên muốn hết khổ th́ đừng làm ác, mưốn vui sướng th́ phải lo làm điều thiện. Chỉ có lư thuyết hành vi là nguyên động lực của sự sống đó mới được nói một cách to lớn rằng tương lai đời ta ở chính trong tay của ta. Lư thuyết này thuật ngữ thường gọi là nhân quả luân hồi . Mục đích của nó cốt để cho người ta đừng ỷ thị vào thượng đế, đừng đổ trách nhiệm cho hoàn cảnh mà phải nh́n vào hành vi của ḿnh, chính hành vi của ḿnh đă tạo ra tất cả những ǵ của sự sống ḿnh có. Không những như vậy, lư thuyết nhân quả luân hồi c̣n chứng minh và khuyến khích ta lọc sạch ngă chấp cho hành vi thanh tịnh th́ sự sống sẽ giải thoát luân hồi.

2.- Đại cương của hệ thống "Giáo-lư chung thông của ba thừa." __ Tức 4 đế lư của thanh-văn thừa và 12 nhân duyên của duyên-giác-thừa.

Đại cương 4 đế lư là thế này: Sự sống là "Khổ" bởi v́ sự sống ấy chỉ là thức, danh sắc, lục nhập, sinh, lăo tử kết hợp mà liên tục. Khổ ấy nguyên nhân là "Tập" tức do vô minh, hành, xúc, thọ, ái, thủ, hữu kết hợp mà phát sinh. Nếu tập, nguyên nhân của khổ đă "Diệt" th́ khổ, kết quả của tập, cũng không c̣n: sự diệt tận không c̣n đó là niết-bàn. Nhưng muốn thật hiện niết-bàn, th́ phải thực hành phương pháp diệt khổ, phương pháp ấy gọi là "Đạo". Bởi vậy bốn đế lư là:

Khổ __ thực trạng của khổ;

Tập __ nguyên nhân của khổ;

Diệt __ nguyên nhân của khổ tiêu diệt;

Đạo __ phương pháp tiêu diệt nguyên nhân của khổ.

Phật-đà đưa ra giáo-lư này cũng như ông thầy thuốc t́m ra.

- Bịnh,

- Nguyên nhân của bịnh,

- Nguyên nhân của bịnh hết,

- Thuốc để trị nguyên nhân của bịnh.

Bởi vậy 4 đế lư t́m vạch được hai hệ thống nhân quả: Hệ thống nhân quả "khổ năo phát sinh", tức khổ (quả) và tập (nhân); và hệ thống nhân quả "khổ năo tiêu diệt", tức diệt (quả) và đạo (nhân).

Đó là giáo-lư 4 đế lư của thanh-văn-thừa. Khuếch trương giáo-lư này ra là giáo-lư 12 nhân-duyên của duyên-giác-thừa. Bởi vậy, giáo-lư 12 nhân-duyên có 2 phần:

     

  1. Phần "lưu chuyển", tức hệ thống khổ năo phát sinh;

  2. Phần "hoàn diệt", tức hệ thống khổ năo tiêu diệt.

Sánh với 4 đế lư, 12 nhân-duyên nói rơ hệ thống khổ năo phát sinh mà ẩn lược hệ thống khổ năo tiêu diệt, chứ không có ǵ đáng phải giải thích thêm về phần đại cương.

Nhưng nếu chỉ phân tích sự sống và nguyên nhân của sự sống ra bằng khổ và tập, hay bằng 12 nhân duyên không thôi, th́ sự phân tích ấy đâu khác ǵ ngoại đạo? Và dù ở 4 đế lư có nói diệt và đạo, hay ở 12 nhân duyên có nói phần hoàn diệt, nhưng nói thế không thôi, không đủ để cắt nghĩa tại sao khổ và nguyên nhân khổ có thể diệt đi được để thật hiện niết-bàn. Do đó, cái tinh túy chánh của Phật-Pháp trong 4 đế lư và 12 nhân duyên là 3 pháp ấn sau đây.

         

      1. Vô thường,

      2. Vô ngă,

      3. Niết-bàn.

Đau khổ và nguyên nhân của đau khổ vốn chỉ là những hiện tượng mà về th́ gian th́ do từng giai đoạn liên tục trong khi về không gian, căn bản là do các yếu tố kết hợp: Là hiện tượng do từng giai đoạn liên tục nên chúng vô thường (không có cái thực trong tính cách th́ gian), là hiện tượng do các yếu tố kết hợp nên chúng vô ngă (không có cái thực trong tính cách không gian). Nguyên nhân đau khổ sở dĩ gây ra được đau khổ là v́ nó vô thường và vô ngă (không thường c̣n và duy nhất). Đau khổ sở dĩ đau khổ là v́ vô thường và vô ngă. Và sau hết, cũng chính đau khổ và nguyên nhân của đau khổ là vô thường và vô ngă nên có thể diệt sạch đi được: sự diệt sạch ấy tức là niết-bàn.

Vô thường, vô ngă, niết-bàn, 3 pháp ấn như vậy là những định lư mà có nó, 4 đế lư và 12 nhân duyên mới là Phật-Pháp. Trái lại, xác nhận khổ đế, vạch ra tập đế, phân tích 12 nhân duyên, nhưng chấp là thường là ngă, là thường c̣n và duy nhất th́ không làm sao nói đến chuyện diệt đi được để đến niết-bàn; nên không có các pháp ấn vô thường, vô ngă và niết-bàn th́ khổ đế, tập đế, hay 12 nhân duyên ấy chỉ là thuyết của ngoại đạo. Mà cũng v́ vậy, dù có nói diệt đế, đạo đế và phần hoàn diệt của 12 nhân duyên đi nữa, cũng chỉ là lư tưởng suông, không thể thực hiện được và không biết thực hiện do nguyên lư nào.

3.- Đại cương của hệ thống "Giáo-lư đặc biệt của Đại thừa". __ Tức là giáo lư thực-tướng, giáo lư thuyết minh rơ ràng tánh, tướng và dụng của các pháp, thuyết minh đầy đủ phương pháp thực chứng tánh tướng dụng đó (tức lục độ vạn hạnh), và thuyết minh những kết quả vô thượng sau khi thực chứng tánh tướng dụng (tức đại giải thoát và đại giác ngộ ở Phật quả). Hệ thống giáo lư này có ba phần do cách tŕnh bày có lư do riêng:

       

    1. Pháp không quán huệ,

    2. Pháp tướng duy thức,

    3. Chân như tịnh đức.

Hệ thống thứ nhất là giáo lư thuyết minh sự thực của các pháp, sự thực ấy là không có tự tánh nếu dùng trí tuệ mà quán sát thấu đáo, nên gọi là "pháp không quán huệ".

Hệ thống thứ hai là thuyết minh tướng dụng của các pháp, tướng dụng ấy tuy không có tự tánh nhưng chính v́ không có tự tánh mà do tâm thức biến hiện có ngàn sai muôn khác, gọi là "pháp tướng duy thức".

Hệ thống thứ ba thuyết minh các pháp do tâm thức biến hiện ngàn sai muôn khác là v́ chân như của tâm thức vốn cụ thể tất cả khả năng vi diệu, nên gọi là "chân như tịnh đức".

Tất cả hai loại phước đức và trí tuệ của hạnh nguyện Bồ-tát, tất cả hai kết quả đại niết-bàn và đại bồ-đề của quả vị Phật-đà đều thiết lập trên ba hệ thống giáo lư đặc biệt của đại-thừa này. Ba hệ thống giáo lư đăïc biệt của đại thừa này v́ những tính chất vĩ đại sau đây nên nó mới là giáo lư chánh của Phật-Pháp, bao gồm tất cả giáo, lư, hạnh, quả của Phật-Pháp; những tính chất ấy là:

       

    1. Cảnh đại (đối tượng vĩ đại) là thể nhập giáo pháp cao rộng, tức giáo pháp đại-thừa.

    2. Hạnh đại (hành động vĩ đại) là thực hiện hành vi cao rộng, tức tự lợi lợi tha.

    3. Trí đại (trí giác vĩ đại) là giác ngộ toàn thể pháp tánh, tức nhân không pháp không.

    4. Tiến đại (tinh tiến vĩ đại) là nỗ lực thời gian lâu dài, tức ba vô số-kiếp.

    5. Phương tiện đại (khéo léo bực nhất) là không mắc sinh tử mà cũng chẳng ở niết-bàn.

    6. Chứng đắc đại (kết quả vô thượng) là thực hiện tất cả đại giải thoát và đại giác ngộ.

    7. Nghiệp dụng đại (hoạt dụng vô cùng) là cùng tận vị lai, làm tất cả Phật sự độ tất cả chúng sinh.

       

Nói tóm, tất cả ba hệ thống giáo lư của toàn bộ Phật Pháp đều có giáo, lư, hạnh và quả của nó:

Giáo: sự tŕnh bày.

Lư: tức lư thuyết.

Hạnh: tức phương pháp.

Quả: tức hiệu quả.

Riêng giáo, lư, hạnh, quả của Đại-thừa th́ bao gồm tất cả giáo lư của tất cả hệ thống thứ hai và hệ thống thứ nhất, nghĩa là tất cả giáo pháp ở nhân thừa cho đến duyên giác thừa đều bao gồm trong đại thừa, bởi vậy, chỉ có đại thừa mới có hai tính cách của Phật-Pháp: a) do Phật nói ra, b) đi đến Phật quả. C̣n 4 thừa dưới (hai hệ thống đầu) chỉ có tính cách thứ nhất mà thôi, có đồng hóa trong chí nguyện của Đại-thừa mới thành viễn nhân của Phật quả được. Bởi vậy, người Xuất-gia đem "chí cầu đại thừa để cứu độ tất cả" th́ chỉ qui tâm về đại thừa, tín thọ, học hỏi, nghiên cứu, thực hành giáo pháp đại-thừa mà thôi. C̣n trong sự giáo hóa, có v́ tŕnh độ họ mà tỉa trong giáo pháp đại-thừa, rút nhân thừa, thiên thừa và thanh văn thừa, duyên giác thừa ra giáo hóa họ đi nữa, ở "ba qui y" cũng phải đem chí nguyện đại thừa mà hướng dẫn họ phát bồ đề tâm mong cầu Phật-quả, để nhờ đó, trong khi những thừa trên vừa đem đến cho họ kết quả tương đương mà lại vừa làm cái viễn nhân đi đến trí giác vô thượng của Phật-đà.

Thực hành đại thừa, con đường ấy có 4 bước mà người xuất-gia cần phải biết và phải kinh quá;

     

  1. Tín. __ Xác nhận giáo lư đại-thừa là vô thượng,

  2. Giải. __ thể nhập giáo lư đại-thừa ấy,

  3. Hạnh. __ tu tập giáo lư đại-thừa ấy,

  4. Quả. __ đạt đến quả vị Phật-đà.

     

Nói giản dị, tín ngưỡng, lư giải, thực hành giáo pháp Đại-thừa cho kết quả là đạt đến trí-giác Vô-thượng, và như vậy mới là vừa hiểu, vừa làm, vừa được tất cả đại cương cùng chi tiết của toàn bộ Phật-Pháp.

  

5

ĐẠI CƯƠNG GIỚI-LUẬT CỦA NGƯỜI XUẤT-GIA

 

ĐẠI CƯƠNG CỦA GIỚI-LUẬT

Kinh Ưu-bà-tắc nói: "Giới nghĩa là cấm chỉ: năng lựïïc cấm chỉ ác nghiệp gọi là giới; giới nghĩa là bước lên: năng lực bước lên loài trời cho đến trí giác vô thượng gọi là giới". Hai định nghĩa này cho ta thấy rơ bản chất và năng lực của giới-luật. Bản chất của giới-luật là đ́nh chỉ tất cả hành động lầm lỗi, năng lực của giới-luật là đem lại cho người giữ từ sự an lạc của chư thiên cho đến sự giác ngộ của Phật-đà. Tư cách của tất cả tầng lớp Phật-tử, tại gia cũng như xuất-gia, đều do giới-luật ḿnh thọ tŕ mà qui định. Bỏ giới-luật đi th́ hết thảy tư cách Phật-tử, đều bất thành cả. Lời kết luận này vĩnh viễn là lời nói xác thực trong tất cả không gian và thời gian: "Giới-luật c̣n, Phật-Pháp mới c̣n."

Toàn bộ giới-luật có 5 phần

       

    1. Biệt biệt giới: từng giới điều riêng biệt đề pḥng đến diệt sạch từng tội lỗi riêng biệt đối lập với nó.

    2. Định cọng giới: năng lực của thiền định đề pḥng các tội lỗi do sự tán động gây ra.

    3. Đạo cọng giới: năng lực của trí giác diệt trừ những tội lỗi phát sinh bởi si mê.

    4. Nhiếp căn giới: năng lực đề pḥng sự phóng túng và bị mê hoặc của các giác-quan.

    5. Vô tác giới: các giới trên huân tập tâm thức, gây thành một năng lực có thể đề pḥng và diệt sạch cả đến tội lỗi trong những đời sau.

       

Tuy có 5 phần như vậy, nhưng thực ra chỉ phần thứ nhất, "biệt biệt giới" mới thật là giới-luật. Phần này đại cương có ba loại:

           

        1. Thế tục giới.

        2. Thắng nghĩa giới.

        3. Đại thừa giới.

           

Thế tục giới là những giới-luật chỉ đem sự an lạc c̣n trong phạm vi luân hồi, như 5 cấm giới và 10 thiện-nghiệp mà thọ tŕ với mục đích cầu phước lạc trong loài người và loài trời. Thế tục giới, với định nghĩa đó, nó gồm có ưu-bà-tắc giới, ưu-bà-di giới, một phần của tám trai giới và một phần của mười thiện-nghiệp.

Trái lại, là thắng-nghĩa giới. Thắng-nghĩa giới là những giới-luật có năng lực giải thoát luân hồi. Bởi vậy, thắng-nghĩa giới bao gồm tất cả giới phẩm của người xuất-gia: sa di, sa-di-ni, thức-xoa-ma-na, tỷ-kheo, tỷ-kheo-ni.

Ngoài hai loại trên, Đại thừa giới không hạn định trong phạm vi nào hết. Tại-gia và xuất-gia đều thọ được. Phước lạc trong ṿng luân hồi do Đại-thừa-giới mà có, thánh quả giải thoát luân hồi cũng do Đại-thừa-giới mà thành. Phạm vi rộng răi và kết quả phụ thuộc của Đại-thừa giới như vậy, nhưng mục đích của Đại-thừa-giới là để đạt đến quả vị Phật-đà, đầy đủ đại giải thoát và đại giác ngộ.

Nội dung của 3 loại giới-luật trên đây không ngoài 4 điều này:

       

    1. Giới Pháp: là phẩm loại của giới luật do Phật-đà chế định.

    2. Giới Thể: là năng lực trừ bỏ ác pháp phát sinh trong tâm sau khi thọ giới pháp.

    3. Giới Hành: là thuận theo giới thể mà động tác ra nơi thân miệng ư một cách đúng với giới-pháp.

    4. Giới Tướng: là động tác ấy có chỉ-tŕ, tác-tŕ theo các điều tiết của giới-pháp.

       

 

ĐẠI CƯƠNG GIỚI-LUẬT CỦA NGƯỜI XUẤT-GIA

Tuy giới-luật có ba loại, nhưng trong phạm vi của Người Xuất-gia, ở đây chỉ tŕnh bày đại cương của Thắng nghĩa giới và Đại-thừa giới mà thôi.

A._ Thắng-nghĩa giới chủ chốt là 10 giới của Sa-di và 250 giới của Tỷ-kheo. Sa-di-ni, thức xoa ma na, và tỷ kheo ni là tùy thuộc vào hai phần này.

1) Đại cương của 10 giới Sa-di._ Gồm có 2 phần:

       

    1. tánh-giới: những giới điều cấm chỉ những tội lỗi mà con người vốn có, tức 4 giới đầu trong 10 giới ấy.

    2. giá-giới: những giới điều cấm chỉ những điều kiện phát sinh các tội lỗi vốn có, tức 6 giới sau trong 10 giới.

       

2) Đại cương của 250 giới Tỷ-kheo._ Chia ra 8 phẩm loại;

       

    1. Cấm chỉ các tội "đoạn đầu" là những tội lỗi phạm vào th́ tư cách người Xuất-gia chết hẳn, như người đầu đứt th́ không c̣n lư do để sống nữa. Loại này có 4 điều, gọi là ba la di.

    2. Cấm chỉ các tội "tăng tàn" là những tội lỗi phạm vào th́ tư cách người Xuất-gia gần chết, chỉ c̣n chút sống thừa, nếu không sám hối chúng tăng th́ tư cách ấy không phục toàn được. Loại này có 13 điều, gọi là tăng già bà thi sa.

    3. Cấm chỉ các tội "bất định" là những tội lỗi có thể là tội đoạn đầu, có thể là tội tăng tàn, có thể là tội đọa. Loại này có 2 điều, gọi là du lan giá.

    4. Cấm chỉ các tội "xả đọa" là những tội lỗi mà dầu xả bỏ vật ḿnh phạm cũng vẫn sa đọa địa ngục nếu không sám hối với tăng chúng. Loại nầy có 30 điều, gọi là ni tát kỳ ba dật đề.

    5. Cấm chỉ các tội "đơn đọa" là những tội lỗi tuy không có vật ḿnh phạm cần phải xả bỏ, nhưng cũng sa đọa địa ngục nếu không sám hối với chúng tăng. Loại này có 90 điều, gọi là ba đật đề.

    6. Cấm chỉ các tội lỗi "hướng bỉ hối" là những tội lỗi chỉ đối trước vị tỷ-kheo khác mà sám hối. Loại này có 4 điều, gọi là đề xá ni.

    7. Các điều "ưng đương học" là những chi tiết cần phải biết và phải giữ. Loại nầy có 100 điều.

    8. Các điều "diệt tránh pháp" là những phương pháp làm cho nhau thành tâm thừa nhận và sám hối tội lỗi. Loại nầy có 7 điều.

       

Tám loại như vậy thật là tội th́ chỉ có 5:

Loại thứ 1 là một; loại thứ 2 là hai; loại thứ 3 chỉ là một trong hai loại trên; loại thứ 4 và loại thứ 5 là ba v́ đồng là tội đọa địa ngục nếu không sám hối chúng tăng, chỉ khác có vật ḿnh phạm và không có vật ấy mà thôi; loại thứ 6 là bốn; loại thứ 7 là năm, loại này cũng gọi là "đột kiết la" dịch là ố tác, nghĩa là những cử chỉ không xứng đáng. C̣n loại thứ 8 th́ đó là phương pháp chứ không phải giới.

B._ Đại-thừa giới th́ tất cả đều gồm trong 3 loại sau đây:

         

      1. Nhiếp luật nghi giới.

      2. Nhiếp thiện pháp giới.

      3. Nhiếp hữu t́nh giới.

         

Nhiếp luật nghi giới là loại bao gồm tất cả các giới phẩm nhắm vào mục đích đ́nh chỉ các điều ác. Trái lại, Nhiếp thiện pháp giới là loại bao gồm tất cả những điều nhắm vào mục đích thực hiện các điều thiện. C̣n Nhiếp hữu t́nh giới là loại bao gồm tất cả những điều nhắm vào sự lợi ích hết thảy chúng sinh. Ba loại này không những bao gồm hết thảy phẩm loại và chi tiết của Đại-thừa-giới, mà hết thảy hạnh pháp của Bồ-tát cũng thâu nhiếp trong đó. Ba loại trên đây h́nh thành hai cách giữ:

       

    1. Chỉ tŕ (giữ bằng cách đ́nh chỉ) tức tŕ giữ loại thứ nhất. Loại này trái lại 2 loại sau, làm là phạm.

    2. Tác tŕ (giữ bằng cách thực hành) tức tŕ giữ hai loại sau. Hai loại này trái lại loại trước, bỏ th́ phạm.

       

Trong phần đại cương giới luật này tuy phần "thế tục giới" không phải của người Xuất-gia nhưng người Xuất-gia phải biết để truyền thọ và chỉ dẫn cho tín-đồ giữ. Phần "thế tục giới" này đă nói trong khi giải thích về đại cương của "hệ thống giáo lư chung thông của 5 thừa" trong bài trước nên ở đây không nói. C̣n phần "thắng nghĩa giới" và "đại-thừa-giới" th́ không một người Xuất-gia nào được phép không biết, v́ dầu ở cấp bực Sa-Di đi nữa cũng phải hiểu rơ để về sau thọ tŕ. Kinh Anh-lạc-bản-nghiệp nói: "Mới nhập bể Phật-Pháp th́ lấy tín-tâm làm gốc, mà ở trong nhà Phật-đà th́ lấy giới-luật làm căn bản." Như vậy, căn bản ấy mà bỏ th́ cái ǵ cũng vất bỏ hết.

 

6

ĐẠI CƯƠNG HÀNH-TR̀ CỦA NGƯỜI XUẤT-GIA

 

Kinh Mạ ư nói: "Phật là cha, Pháp là mẹ. Thuận lời Phật, làm theo Pháp, ấy là hành động đúng với cha mẹ." Người Xuất-gia từ bỏ tất cả, thoát ly gia đ́nh, lấy Phật làm cha, lấy Pháp làm mẹ, th́ phải có sự sinh hoạt đúng với cha mẹ ấy. Cho nên vấn đề hành tŕ được coi là phần chánh, là kết quả phải có của sự lư giải và nguyên nhân cần thiết của sự chứng ngộ mà Người Xuất-gia, đúng với danh nghĩa của ḿnh, không thể không có. Sự hành tŕ đại loại có hai phần:

       

    1. Tự hành.
    2. Hóa tha.  

Tự hành là làm cho ḿnh. Hóa tha là làm v́ người. Phần nào tính chất của nó cũng có tự lợi lợi tha trong mục đích Chánh-giác cả. Trước hết, đây là 3 thứ của phần " Hóa tha":

     

  1. Thờ tự hợp chánh-pháp.

  2. Nghi lễ hợp chánh-pháp.

  3. Sinh hoạt hợp chánh-pháp.

     

Thờ tự hợp chánh-pháp là chỉ thờ h́nh tượng của Phật-đà và Bồ-tát. Mà phải là những h́nh tượng trang nghiêm, dù to dù nhỏ, dù tượng h́nh hay tượng giấy, đều phải h́nh dung được đức từ-bi, tướng vi-diệu của các Ngài mới được. Sự thờ tự hợp chánh-pháp không cho phép ta thờ h́nh tượng hóa thân, như tượng khổ hạnh của đức thái tử Tất-Đạt, như tượng thị hiện của ngài Bố-Đại ḥa thượng, hay các tượng Mật-Tông; bởi một lẽ rất giản dị là những h́nh tượng hóa thân trên đây chỉ tượng trưng một hạnh, biểu thị một ư, không phải h́nh dung toàn diện sự trang nghiêm của đức từ bi và tướng vi-diệu của Phật-đà và Bồ-tát. Đặc biệt là tượng của thần thánh, người Xuất-gia lại càng không nên thờ. Thí dụ tượng Ngọc-hoàng, tượng Quan-thánh, tượng Thánh-mẫu. Nếu nói các Ngài là thiện thần hộ vệ Phật-Pháp và người hành tŕ Phật-Pháp mà thờ th́ vô lư, v́ đại nguyện của các Ngài là hộ tŕ Phật, Pháp, Tăng, sao người Xuất-gia lại trái với đại nguyện ấy, đem thờ với Phật và đem tư cách Tăng của ḿnh mà lạy? Nếu nói thờ các Ngài để làm một tiền phương tiện, tiến dẫn một số người mê tín lần vào chánh-tín, th́ sự thật lại trái ngược: mê tín càng tăng mà chánh-tín không thấy họ lưu tâm. Bởi vậy, phải kết luận thế này cho dứt khoát vấn đề: Ngày xưa, thờ các ngài là để đem một số người vào Phật-Pháp, dù và bằng cách nào, nhưng ngày nay, v́ đại đa số cho rằng thờ như vậy là mê tín, hay tai hại hơn nữa, họ lầm tưởng rằng Phật-Pháp là mê tín như thế, vậy phải ẩn các ngài đi. Ngày nay người ta lầm tưởng Phật-Pháp là mê tín th́ Phật-Pháp tiêu diệt, người ta cho thờ như thế là mê tín th́ người ta sẽ không đến với Phật-Pháp nữa, như vậy, hiển nhiên, thờ các Ngài là trái với đại nguyện hộ tŕ Phật-Pháp của các Ngài. V́ vận mạng của Phật-Pháp và v́ ḷng tôn kính các Ngài, người Xuất-gia hăy suy nghĩ chỗ đó. C̣n vấn-đề hướng dẫn người, th́ cũng do sự nhận xét trên đây, chúng ta thấy ngày xưa thờ các Ngài là để hướng dẫn người vào Phật-Pháp, nhưng ngày nay, muốn hướng dẫn người vào Phật-Pháp th́ lại phải ẩn các Ngài đi.

Nghi lễ hợp chánh-pháp là hai phần lời chữ và âm điệu phải hợp với Phật-Pháp. Giới hạn này nó loại bỏ những nghi lễ phù thủy và biến tướng, như là cúng sao, cúng đất, đàn huyết, đàn oan. Lưu lại, chỉ c̣n những nghi lễ mà chữ nghĩa trích ra từ ba tạng hay y theo ba tạng mà soạn ra, và âm điệu th́ từ tiếng đến giọng tán, chỉ có một thiền-vị. Mục đích của tất cả nghi lễ phi cầu an th́ cầu siêu; vậy, muốn an lạc, muốn siêu sinh, mà đem lời tà ma ngoại đạo và giọng phản ngược mùi thiền ra th́ làm sao đạt được? Lời Phật dạy, một chữ là một trời nghĩa, một chữ tiêu diệt nghiệp chướng như hằng sa, sao ta không tụng đọc mà lại tụng đọc lời vô nghĩa, ư nhảm nhí của ngoại đạo? C̣n âm điệu, những giọng tụng thẳng, những điệu tán nghiêm, trầm xuống với thiền vị thanh tịnh, bôång lên với thiền tâm nguy nga, sao ta bỏ đi, dùng những âm điệu bi ai, sầu oán, hay trào lộng, lung đăng? Lời chữ của ngoại đạo, âm thanh của tà ma, những thứ ấy đưa ta đến ǵ ngoài nhân khổ đắp thêm nhân khổ, luân hồi tăng măi luân hồi, và nước mắt đổ thêm nước mắt trong khi dục vọng nặng thêm dục vọng? Âm điệu thiền-vị trái lại, nó làm sáng tỏa thêm nghĩa lư cao sâu của lời chữ Phật dạy, người nghe dù không hiểu nghĩa lư ấy, nhưng qua âm điệu thiền-vị, họ vẫn cảm được đạo vị giải-thoát. Chính đó mới là động lực đem họ đến với Phật-Pháp, đến chân chính, đến vĩnh viễn.

Sinh hoạt hợp chánh-pháp: điều này cứ nh́n chữ hợp chánh-pháp cũng thấy được phạm vi của nó. Người Xuất-gia, v́ mục đích hoằng-pháp là việc nhà mà lấy sự lợi sinh làm sự nghiệp, nên ăn, mặc, ở, ba thứ ấy thường không phong túc và nhờ vào tín-đồ. Trái lại, người Xuất-gia bỏ công việc hoằng-pháp, sự nghiệp lợi sinh đi mà kinh dinh ăn, mặc, ở, th́ dầu bằng cách nào, sự sinh hoạt ấy cũng không hợp chánh-pháp nữa. Không những sinh hoạt không hợp pháp mà, như vậy, tư cách và đời sống Xuất-gia cũng đă mất rồi. Sinh mạng của người Xuất-gia là" huệ mạng" nên cơm ăn là pháp-vị đề hồ, áo mặc là nhẫn- nhục nhu ḥa, nhà ở là tâm đại từ-bi. Sống trong tam giới, người Xuất-gia tự coi như một người khách qua đường, trông đi qua cho mau để không bao giờ trở lại nữa, hay về phần giác tha, người Xuất-gia tự đảm nhận nhiệm vụ đem tinh thần giải thoát đó đến trong cuộc sống của mọi người, hầu cùng nhận thức rằng nên đem ăn mặc ở mà giúp nhau chứ không phải mục đích của sự sống chỉ là ăn mặc ở mà v́ nó, chiến tranh vô cùng. Bởi vậy, cho dẫu ăn mặc ở, đó là tất cả ham hố vừa thực tế vừa cay nghiệt, nhưng người Xuất-gia phải cố gắng tự chiến đấu cho đến chiến thắng sự ham hố đó. "Đem thân mạng vô thường đổi lấy thân mạng thường trú" đó là câu kinh mà nói như cổ đức, đại tử mới đại hoạt, chết hoàn toàn mới sống vĩnh viễn. Người Xuất-gia hăy luôn luôn đọc tụng câu kinh đó.

Nói tóm, thờ tự là tiêu biểu của một tôn giáo và cảm hóa người bằng h́nh sắc, nghi lễ là tiếng nói giữa phàm thánh và cảm hóa người bằng cả sắc thanh, nên phải giữ cho hợp chánh-pháp để sự cảm hóa có hiệu quả, nhất là hiệu quả đúng chánh-pháp. C̣n sự sinh hoạt mới cần hơn nữa, trong sự hóa tha. Người ta thường nh́n một tôn giáo qua người theo tôn giáo ấy. Mà người Xuất-gia là kẻ hiện thân của tinh thần Phật-giáo. Như vậy, sự sinh hoạt của người Xuất-gia phải hợp chánh-pháp để nh́n vào đó, người ta khỏi ngộ nhận chánh-pháp và thấy được tinh thần của chánh-pháp. Người Xuất-gia hướng dẫn tín-đồ, không phải đem con người của ḿnh ra hướng dẫn mà là hướng dẫn bằng tư cách Xuất-gia của ḿnh. Sự sinh hoạt chính là một trong tư cách đó. Tư cách đó có hợp chánh-pháp mới hoàn thành nhiệm vụ "hóa tha" được.

*

Phần " Tự hành " của người Xuất-gia th́ bao gồm tất cả các pháp môn Phật dạy. Phần hóa-tha cũng chỉ là một bộ phận của phần này. V́ vậy, muốn có một pháp môn vừa có tính cách bao gồm vừa có tính cách duy nhất để cụ thể tất cả các pháp môn khác, nên trong phần "tự hành" này chúng tôi nêu lên pháp môn "Niệm Phật".

Niệm Phật nghĩa là ǵ ? Thông thường, hễ nghe nói danh từ niệm Phật th́ người ta nghĩ ngay đến sự đọc tụng hồng danh của Ngài. Nghĩ như vậy là hẹp quá nên hóa ra sai lầm. Niệm Phật nghĩa là tưởng niệm Phật-đà. Định nghĩa này phải thêm một chút nữa cho rơ, là để nhớ các đức tánh của Phật hầu ăn nhập các đức tánh ấy vào tâm trí, vào hành vi của ḿnh. Nên mục đích của sự niệm Phật đúng như trong kinh Lăng-Nghiêm đă dạy, rằng "chúng sinh tâm tưởng nhớ Phật, nghĩ Phật, th́ hiện tại cũng như vị lai quyết định thấy Phật". Thấy Phật, đó là một kết quả mà vừa thực chứng tịnh độ, văng sinh tịnh độ, lại vừa đầy đủ phước đức, đầy đủ trí tuệ; nói tóm, thấy Phật là sẽ quyết định thành Phật,__ Kinh Di-Đà nói "đối với Vô-thượng-chánh-biến-giác không thoái chuyển nữa "là ư nghĩa này__, nên Quán-Kinh nói: "Chúng sinh tâm tưởng niệm Phật th́ tâm ấy là Phật, tâm ấy làm Phật."

Niệm Phật là niệm cái ǵ của Phật ? Như trên đă nói, tưởng niệm Phật-đà là tưởng niệm các đức tánh của Ngài hầu ăn nhập các đức tánh đó vào tâm niệm và hành vi của ḿnh. Như vậy tưởng niệm Phật-đà, dù bằng cách ǵ cũng là để tưởng niệm đức tánh của Phật, huân tập các đức tánh ấy, thật hiện các đức tánh ấy. Người ta có thể thí dụ như một kẻ quyết chí làm anh hùng nên tưởng niệm đến các vị đó. Tưởng niệm anh hùng là tưởng niệm những đức tánh của họ để huân tập những đức tánh ấy cho ḿnh, hầu tạo cho thành một kẻ anh hùng như họ. Sự niệm Phật cũng đồng tâm trạng đó. Người tu hành pháp môn này là người tưởng niệm đức tánh của Phật để huân tập các đức tánh ấy, tự tạo cho ḿnh thành đấng Phật-đà như Ngài.

Nhưng đức tánh của Phật là ǵ? Luận Nhiếp-đại-thừa viết: Đức tánh của Phật-đà có 7 thứ mà ai niệm Phật cũng phải tưởng niệm những đức tánh ấy :

     

  1. Trí tự tại. _ Nghĩa là trí tuệ thông đạt tất cả vạn hữu, hiểu rơ tâm lư và biết hết phương pháp điều phục tâm lư đó, tự do một cách tuyệt đối với sự chuyển biến vạn hữu.

  2. Thân thường trú. _ V́ đă thể nhập thể tánh chân-như, giải thoát hết mọi hành tướng sinh diệt.

  3. Tối vô lậu. _ Nghĩa là đă trừ sạch tất cả hiện hành và chủng tử của phiền năo chướng và sở tri chướng.

  4. Vô công dụng. _ Nghĩa là tất cả việc làm của một đức Phật phải làm, việc làm ấy đă hoàn toàn thuần thục nên chỉ nhậm vận phát khởi một cách không dừng nghỉ và không gián đoạn, chứ không c̣n phải tác ư và gia công (tác ư và gia công mới thành việc th́ việc làm ấy đă phải có tánh cách gián đọan mà lại không có tánh cách phổ biến).

  5. Đại Pháp lạc. _ Là thật hiện thế giới thanh tịnh (tịnh độ), có đủ và thọ dụng tất cả an lạc vi diệu của chánh-pháp đại-thừa.

  6. Ly nhiễm ô. _ là ứng hiện trong các thế giới, sanh ra giữa cơi trần tục, nhưng hết thảy những ǵ của thế gian không thể ô nhiễm được.

  7. Thành đại sự. _ Thị hiện tất cả thân h́nh cho đến thị hiện giáng sinh, thành đạo, niết-bàn để giáo hóa chúng sinh, ai chưa thành thục th́ làm cho thành thục, ai đă thành thục th́ làm cho giải thoát.

     

Tưởng niệm các đức tánh của Phật bằng cách nào? Hỏi như vậy tức là hỏi phương pháp niệm Phật như thế nào? Có mấy phương pháp? Phương pháp niệm Phật đại loại có ba:

1)Chấp tŕ danh hiệu,

2) Quán tưởng h́nh tượng

3) Niệm Phật pháp thân.

Nghĩa là tưởng niệm các đức tánh của Phật-đà bằng cách nhớ danh hiệu, bằng cách quán h́nh tượng, hay bằng cách tưởng niệm pháp thân của Ngài, bởi v́ danh hiệu, h́nh tượng hay pháp thân ấy, phần nào cũng bao gồm, cũng hiện thân của tất cả đức tánh trên. Tưởng niệm đến một kẻ anh hùng, người ta có thể tưởng niệm qua tên tuổi, h́nh dung hay cá tính của kẻ ấy. Người niệm Phật cũng vậy, bất cứ là bằng cách nào trong ba cách trên, nếu thực hành đúng phương pháp, đều có thể "huân tập đến thực hiện cụ thể các đức tánh của Phật-đà vào tâm trí và hành động của ḿnh".

Tưởng niệm các đức tánh của Phật bằng cách chấp tŕ danh hiệu của Ngài. __ Nhưng trong ba phương pháp trên, phương pháp "chấp tŕ danh hiệu" hiện giờ phổ thông nhất, bởi vậy, dù cả ba phương pháp đều thù-thắng như nhau, nhưng ở đây chỉ nêu lên phương pháp chấp tŕ danh hiệu mà giải thích đại khái, hầu mọi người y theo đó mà lư giải và tu tập cho đúng. Để tiện sự hiểu biết, chúng tôi đặt ra mấy câu hỏi sau đây mà trả lời:

     

  1. Chấp tŕ danh hiệu là thế nào? Nghĩa đen chữ chấp tŕ là nắm giữ. Đối với danh-hiệu của Phật, tập trung hết cả năng lực lại, nhớ lấy bằng tâm, đọc lấy bằng miệng, đi đứng không quên, nằm ngồi không bỏ, tịnh cũng như động, không lúc nào rời bỏ danh hiệu của Phật, như vậy gọi là chấp tŕ.

  2. Danh hiệu của Phật có ǵ mà chấp tŕ? Như trên đă nói, danh hiệu của Phật bao gồm và biểu hiện toàn thể đức tánh của Ngài, chấp tŕ danh hiệu ấy tức là huân tập các đức tánh Ngài vào ḿnh nên đáng chấp tŕ và phải chấp tŕ.

  3. Chấp tŕ danh hiệu của Phật là Phật nào? Đức Phật nào cũng được cả. Đă đến địa vị Phật-đà th́ đức Phật nào cũng là đấng đầy đủ tất cả đức tánh của một đức Phật mà trên kia đă nói. Danh hiệu của các Ngài tuy từ ngữ có khác nhau nhưng những đức tánh mà từ ngữ ấy h́nh dung th́ chỉ là một. Các đức tánh của Phật đă kể trên kia, thâu lại th́ có 2 loại: đại giải thoát (kết quả của đại phước đức) và đại giác ngộ (kết quảcủa đại trí tuệ). Hai loại đức tánh nầy, bất cứ danh hiệu của Đức Phật nào, cắt nghĩa ra cũng gồm có cả.

  4. Vậy tại sao thường chỉ chấp tŕ danh hiệu đức Phật A-Di-Đà? V́ 1) Danh hiệu ấy cũng đầy đủ cả hai đại loại đức tánh của các đức Phật, nên "A-Di-Đà" dịch ư là "vô lượng" nghĩa là hoàn thành vô lượng đức tánh của đại giải thoát (nên gọi là vô lượng thọ) và đại giác ngộ (nên gọi là vô lượng quang). Chấp tŕ một danh hiệu cho dễ được "nhất tâm bất loạn", chứ tâm tưởng chúng ta đă loạn động mà chấp tŕ nhiều danh hiệu th́ khó được hiệu quả cần phải có ấy.

  5. Nếu vậy, chấp tŕ một danh hiệu của đức Phật nào cũng được, tại sao người ta chỉ chấp tŕ danh hiệu Đức Di-Đà? V́ để cầu sinh Cực-lạc và Đức Phật Di-Đà có nhân duyên với chúng ta hơn. Cầu sinh Cực-lạc là v́ có sanh Cực-lạc mới dễ dàng hoàn thành đại-giải-thoát, đại-giác-ngộ, và đầy đủ năng lực cứu thoát muôn loài. C̣n Đức Phật Di-Đà có nhân duyên với chúng ta hơn là v́ trong kinh nói khi chưa thành Phật, chính Ngài v́ chúng ta mà nguyện tạo thành thế giới hệ Cực-lạc; v́ nhân duyên ấy mà ai cũng niệm tŕ danh hiệu và cầu sanh thế giới của Ngài.

  6. Chấp tŕ danh hiệu như vậy phải đến hiệu quả ǵ? Phải làm sao cho được "nhất tâm bất loạn". Nhất tâm bất loạn, hiệu quả này có hai lớp: 1) Tâm trí chuyên nhất với danh hiệu của Phật mà không nhớ tưởng ǵ khác; h́nh dung điều này, cổ đức thường nói ít nhất 10 tiếng niệm Phật mà vẫn nhất tâm mới được văng sinh. 2) Hành động đồng nhất với đức tánh gồm trong danh hiệu ấy mà không nghĩ và làm ǵ khác; h́nh dung điều này, trong kinh nói tâm trí niệm Phật th́ tâm ấy là Phật, tâm ấy làm Phật. Phải có hiệu quả của "nhất tâm bất loạn" như vậy mới thật hiện được kết quả của tất cả phương pháp niệm Phật.

  7. Kết quả của tất cả phương pháp niệm Phật là ǵ? Là 1) thật chứng tịnh độ, 2) tạo thành tịnh độ, và 3) văng sinh tịnh độ. Thật chứng tịnh độ nghĩa là do nhất tâm bất loạn như trên nên tâm trí ḿnh nghĩ, hành động ḿnh làm đều y như đại giải thoát và đại giác ngộ của danh hiệu Phật, nghĩa là tâm trí và hành động ấy đă thanh tịnh nên dầu ở trong cảnh giới ô nhiễm mà thật in như ở trong cảnh giới thanh tịnh, không c̣n ô nhiễm nữa. Tạo thành tịnh độ nghĩa là do nhất tâm bất loạn mà tâm trí nghĩ, hành động làm, đều y như đại giải thoát và đại giác ngộ nên tạo thành cho mọi người sự giải thoát và sự giác ngộ, làm cho thế giới này không c̣n khổ năo do độc ác của họ gây ra bởi ngu si. Văng sinh tịnh độ là do nhất tâm bất loạn như trên, tâm trí và hành động đều đồng nhất với đại giải thoát và đại giác ngộ, nên khi hết quảbáo ở thế giới hệ Sa-bà khổ năo này th́ thật hiện quả báo thế giới hệ Cực-lạc thanh tịnh. Thật chứng, tạo thành và văng sinh tịnh độ như vậy là kết quả của tất cả phương pháp niệm Phật chứ không riêng ǵ phương pháp chấp tŕ danh hiệu.

  8. Nhất tâm bất loạn là ǵ mà có những kết quả vĩ đại đáng lẽ phải do Bồ-tát vạn hạnh mới hoàn thành như vậy? Bồ-tát vạn hạnh đều quy tụ cả vào đại phước đức của đại giải thoát và đại trí tuệ của đại giác ngộ. Mà nhất tâm bất loạn là tâm trí đồng nhất với đức tánh đại giải thoát và đại giác ngộ của Phật bao gồm trong danh hiệu của Ngài chứ không xen lẫn ǵ khác nữa. Tâm trí đồng nhất với đức tánh của Phật là cụ thể tất cả bồ tát vạn hạnh, c̣n vạn hạnh ấy phát động ra nhiều hay ít, có phát động hay tiềm ẩn, chỉ là do nhân duyên kích động có hay không, nhiều hay ít mà thôi. Bởi vậy, nhất tâm bất loạn là thiện căn bất tư nghị, không như thiện căn khác không phải do tâm tánh đồng nhất với đức tánh Phật mà phát hiện. Kinh Di-Đà nói không thể đem thiện căn chút ít văng sinh Cực-lạc, mà phải chấp tŕ danh hiệu của Đức Phật Di-Đà được nhất tâm bất loạn, Cực-lạc mới hiện tiền là ư này. Th́ gian niệm Phật cho được nhất tâm bất loạn, dù chỉ ở lớp thứ nhất của hiệu quả này, cũng không dễ ǵ đạt được, chứ khoan nói bước cứu cánh của nó. Nên Kinh Di-Đà nói chấp tŕ danh hiệu trong 1 ngày, 2 ngày hay 7 ngày mà được nhất tâm bất loạn th́ Cực-lạc hiện tiền. Nói như vậy th́ biết, dù 7 ngày chứ khoan nói 6 ngày. 5 ngày cho đến 2 ngày 1 ngày, mà được nhất tâm bất loạn th́ người ấy quả là bực đại căn đại trí, bực ấy Cực-lạc mới hiện tiền lúc lâm chung. Chứ chúng ta, suốt đời niệm Phật mà tâm trí vẫn loạn động, th́ đừng thấy lời Phật dạy 7 ngày được nhất tâm bất loạn mà tưởng pháp môn niệm Phật dễ tu và thấp kém. Tuy nhiên, nhất tâm bất loạn chưa được mà niệm Phật với tín tâm thuần thành, chỉ tin Phật chứ không tin quỉ thần số mạng th́ đây cũng là khởi điểm của nhất tâm bất loạn, nên kết quả tương đương với sự niệm Phật đó không phải không có. Kinh nói văng sinh Cực-lạc có chín bực, pháp môn niệm Phật ai cũng có thể tu, thế giới Cực-lạc ai cũng có thể sinh, là ư nghĩa này. Cực kỳ cao và cực kỳ rộng là pháp môn niệm Phật, là hiệu quả nhất tâm bất loạn của pháp môn ấy.

  9. Muốn được nhất tâm bất loạn, nghĩa là muốn tu pháp môn niệm Phật th́ phải làm thế nào? Phải có ba điều kiện là tín, hạnh, nguyện. Tín là tự tín ḿnh đủ năng lực tu hành đến thành tựu pháp môn niệm Phật, xác tín pháp môn niệm Phật có hiệu quả là thật hiện Cực-lạc, xác tín Đức Phật Di-Đà là đạo sư tiếp dẫn ḿnh và là đấng mà ḿnh cố tu cho được (và sẽ được) như Ngài. Hạnh là chấp tŕ danh hiệu của Đức Phật Di-Đà bằng cách tâm trí th́ nhớ kỹ lấy danh hiệu ấy, miệng tiếng th́ đọc luôn danh hiệu ấy và hành động th́ động tác y theo đức tánh đại giải thoát và đại giác ngộ mà danh hiệu ấy biểu thị. Nguyện là đem cái hạnh ấy cầu thật chứng tịnh độ, tạo thành tịnh độ và văng sinh tịnh độ Cực-lạc.

  10. Văng sinh tịnh độ là thoát ly Sa-bà, bỏ rơi chúng sinh, nói tóm, là sự phá hoại, phải không? Không. V́ trước khi văng sinh tịnh độ th́ tạo thành tịnh độ giữa nhân gian, do cái nhân ấy mới văng sinh tịnh độ. Sau khi văng sinh tịnh độ th́ hồi nhập Sa-bà, tạo thành tịnh độ với tất cả năng lực vô thượng mà nếu không văng sinh Cực-lạc th́ không có được dễ dàng. Nên văng sinh Cực-lạc là sự cần thiết mà sự cần thiết ấy chính là v́ để cải tạo thế giới Sa-bà thành thế giới Cực-lạc, giáo hóa tất cả chúng sanh đồng thành các vị Thượng-Thiện-Nhân.

     

Trong sự "tự hành" của người xuất-gia, nếu nhất tâm tu tập pháp môn "Niệm Phật" như trên đây, th́ như ta đă thấy, cũng bao gồm tất cả pháp môn khác rồi.

  

7

NGƯỜI XUẤT-GIA TRƯỚC THỜI THẾ HIỆN TẠI

 

Nguyên nghĩa chữ Xuất-gia đă có cái ư thoát ly tất cả lĩnh vực và thời thế, không hệ thuộc ḿnh vào không gian hay thời gian nào hết—Hệ thuộc vào tức không c̣n tính cách xuất-gia nữa—Nhưng nói như vậy không phải cái nghĩa xây lầu trên không. Không. Người xuất-gia tu hành và thành tựu trong chúng sinh và cho chúng sinh. Người xuất-gia là kẻ xây lầu đài trên đất bằng phẳng—và xây như thế mới thành được—chứ không cất lầu giữa không gian, một việc không bao giờ có. Và, chính v́ tu hành và thành tựu trong tất cả chúng sinh và cho tất cả chúng sinh, nên người xuất-gia phải thoát ḿnh ra ngoài sự chi phối của thời thế, đồng thời, không phải không có trách nhiệm với thời thế, cái trách nhiệm mà tôi muốn nói chính là sự thoát ḿnh ra ngoài sự chi phối đó, chứ không chi khác.

Vấn đề không có ǵ phức tạp cả. Nó gay go hết chỗ nói nhưng mà giản dị đến nỗi đáng lẽ không phải bàn nữa. Ấy là người Xuất-gia "Phải và chỉ làm trọn bổn phận của ḿnh." Bổn phận ấy tối thiểu là mấy điều này:

     

  1. Không tham dự vào thế sự. __ Người xuất-gia là sở hữu của Chánh-pháp, là sứ giả của Phật-đà. Người Xuất-gia phải để trọn vẹn tư tưởng năng lực của ḿnh vào sự thực hiện chánh-pháp và hướng dẫn sự thực hiện ấy. Do đó, người xuất-gia không thể thương ai ghét ai, thiên vị bên này bỏ rơi bên khác. Người Xuất-gia thoát ly một cách hoàn toàn, ra ngoài sự chi phối phi Chánh-pháp của cá nhân, của đảng phái, của chủ nghĩa, của chính ḿnh. Không tham dự thế sự như vậy không có nghĩa là không hoạt động ǵ cả và bỏ rơi quần chúng. Chữ trung lập vô nghĩa trong trường hợp này. Mục đích không tham dự thế sự thực là rơ rệt: để thực hiện Chánh-pháp cho quần chúng mà không để ḿnh và quần chúng xuôi theo thế sự lầm lỗi, vô thường.

  2. Chỉ hành tŕ và giáo hóa. Người xuất-gia phải có niềm tự độ mănh liệt, chí giải thoát dứt khoát. Phải xác nhận chứ không phải quan niệm mà thôi, rằng vũ t